In trang này
Thứ năm, 16 Tháng 3 2023 23:51

Phân tích chính sách đối với các đặc điểm thi hành án đối với quyền sử dụng đất trong xây dựng Luật Đất đai

Việc chỉ ra các đặc điểm pháp lý của thi hành án đối với quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định các nguyên lý để việc xây dựng các quy định pháp luật về thi hành án đối với quyền sử dụng đất cũng như việc áp dụng hiệu quả các quy định này trên thực tế. Qua việc nghiên cứu về thi hành án đối với quyền sử dụng đất dưới các góc nhìn khác nhau, có thể thấy, thi hành án đối với quyền sử dụng đất có những đặc điểm chung của thi hành án dân sự và đặc điểm riêng có của thi hành án đối với quyền sử dụng đất như sau:

1. Đặc điểm chung

Thứ nhất, thi hành án dân sự có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong mối quan hệ phối hợp chặt chẽ.

Thủ tục thi hành án dân sự không phải là một công việc mà là một quá trình, trong quá trình này có sự tham gia của rất nhiều chủ thể, trong đó mỗi chủ thể giữ những vai trò khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cụ thể trong quan hệ pháp luật thi hành án dân sự có thể phân chia thành các nhóm chủ thể như sau:

-  Nhóm chủ thể giữ vai trò tổ chức thi hành án dân sự: Nhóm chủ thể này có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án dân sự bao gồm các quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại.

-  Nhóm chủ thể giữ vai trò kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự: là chủ thể có nhiệm vụ kiểm sát hoạt động hành án dân sự của các chủ thể tổ chức thi hành án và chủ thể tham gia, hỗ trợ hoạt động hành án dân sự. Nhóm chủ thể này bao gồm viện kiểm sát hoặc các quan công tố.

-  Nhóm chủ thể tham gia thi hành án dân sự: là nhóm chủ thể tham gia hoạt động thi hành án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác như đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

-  Nhóm chủ thể hỗ trợ hoạt động thi hành án dân sự: các chủ thể thực hiện các hoạt động hỗ trợ chủ thể nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự như các cơ quan công an, UBND các cấp, các cơ quan quản lý đất đai, tổ chức định giá tài sản, tổ chức bán đấu giá tài sản, người bảo quản tài sản…

Như vậy, có thể thấy, hoạt động thi hành án dân sự không phải là hoạt động của riêng cơ quan nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ, trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự xác minh điều kiện thi hành án thì phải có sự tham gia hỗ trợ của các cơ quan quản lý thông tin về tài sản của người phải thi hành án như cơ quan quản lý đất đai, cơ quan quản lý tài khoản, các cơ quan có thẩm quyền quản lý thông tin về tài sản khác… Trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự phải cưỡng chế thi hành án thì nhất định phải sự tham gia hỗ trợ của cơ quan công an. Đối với trường hợp phải kê biên, đấu giá tài sản thì phải có sự tham gia của tổ chức đấu giá tài sản…

Theo A.N. Ponomarev, Thẩm phán của Tòa án thành phố Moscow Liên bang Nga cho rằng nhiệm vụ thi hành án của chấp hành viên đòi hỏi sự phối hợp nhằm thực hiện kịp thời các văn bản thi hành án. Việc phối hợp này không chỉ liên quan đến các bên tham gia tố tụng mà còn là tất cả các cơ quan nhà nước, bao gồm cả Tòa án và bất kỳ tổ chức nào cần thiết cho việc thi hành quyết định của Tòa án[1].

Cũng bàn về vai trò của việc phối hợp trong hoạt động thi hành án, ông Nazirjon Hasanov, Trưởng phòng đăng người phải thi hành án sở dữ liệu điện tử của quan thi hành án thuộc chính phủ Tajikistan khẳng định: để tăng cường hiệu quả của công tác thi hành án cần phải ban hành các đạo luật phù hợp về sự tương tác giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác. Do đó, các CHV được giao nhiệm vụ hợp tác với các cơ quan nhà nước, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác. Những cơ quan, tổ chức này có nghĩa vụ hỗ trợ chấp hành viên trong việc đảm bảo thi hành các quyết định tư pháp và các quyết định khác[2].

Thứ hai, quá trình thi hành án dân sự luôn phải đối diện với sự chống đối của đương sự

Đối tượng hướng tới của thi hành án dân sự là các tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hoặc các hành vi của người phải thi hành án với mục đích để tổ chức thi hành án là các bản án, quyết định của Toà án hoặc của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hoặc các văn bản khác giá trị thi hành. Khác với quá trình giải quyết tranh chấp, quyền lợi của đương sự được giải quyết mới chỉ dừng lại bản án, trên giấy tờ, thì quá trình thi hành án, quyền lợi từ bản án sẽ được thực hiện trên thực tế. Sự chống đối của đương sự trở nên quyết liệt hơn bao giờ hết khi họ thực sự phải từ bỏ tài sản, lợi ích. Không chỉ dừng lại ở việc họ không tự nguyện thi hành án, quan thi hành án dân sự phải tổ chức cưỡng chế, còn thái độ phản ứng dữ dội của họ. Nhiều vụ cưỡng chế phải huy động xe cứu thương, cứu hoả, nhân viên y tế đi cùng vì sự quyết tử của người phải thi hành án[3].

Trên thực tế, giai đoạn thi hành án, quan thi hành án dân sự bắt buộc phải tác động đến tài sản, hành vi của người phải thi hành án để hiện thực hoá các nghĩa vụ của người phải thi hành án, các quyền, lợi ích của người được thi hành án. Vì vậy, nếu người phải thi hành án không thoả mãn với nội dung bản án, quyết định; thiếu ý thức tôn trọng pháp luật thì sự chống đối với mọi hoạt động của quan thi hành án dân sự luôn hiện hữu.

Thứ ba, việc thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong quá trình thi hành án dân sự là các yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các chủ thể.

Vì hoạt động thi hành án dân sự có sự tham gia của rất nhiều chủ thể, thậm chí, có nhiều hoạt động, nếu thiếu bất kỳ chủ thể nào hoạt động đó sẽ không thể tiến hành, ví dụ, đối với hoạt động cưỡng chế thi hành án, do ở nhiều quốc gia, pháp luật không trao quyền được trực tiếp sử dụng lực lượng mà phải có một tổ chức trung gian giữ vai trò bảo vệ cưỡng chế quan công an như Pháp, Việt Nam, Nhật Bản,… nên nếu thiếu quan công an để bảo vệ hoạt động cưỡng chế thì cơ quan tổ chức thi hành án không thể thực hiện cưỡng chế thi hành án do sự chống đối của đương sự. Khi một hoạt động cần sự tham gia của nhiều chủ thể thì cần quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể để đảm bảo việc thực hiện của các chủ thể đó. Đây chính là lý do, pháp luật thi hành án dân sự cần phải quy định về các quyền, nghĩa vụ, đồng thời, quy định rõ các trách nhiệm pháp lý của các chủ thể nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quyền, nghĩa vụ pháp của mình.

Thứ tư, phương pháp điều chỉnh quan hệ pháp luật thi hành án dân sự có sự kết hợp giữa tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và cưỡng chế bằng sức mạnh của nhà nước

Thi hành án dân sự, ngoài các trường hợp cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án (án phí, lệ phí Tòa án, trả lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án…), cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án trong phạm vi yêu cầu của đương sự[4]. Đây là điểm khác biệt so với thi hành án hình sự. Trong thi hành án hình sự người bị kết án không có bất kỳ sự thỏa thuận nào mà phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thi hành án hình sự có trách nhiệm thổ thức thi hành dứt điểm. nghĩa hoạt động thi hành án dân sự vẫn phụ thuộc vào ý chí của các đương sự nên cần có phương pháp điều chỉnh quan hệ pháp luật thi hành án dân sự phải đảm bảo tôn trọng quyền tự nguyện, tự định đoạt của các đương sự. Đây do pháp luật thi hành án dân sự quy định về việc người được thi hành án quyền yêu cầu không thi hành án, hoặc cho người phải thi hành án hoãn thi hành án hoặc thỏa thuận với người phải thi hành án về phương thức, cách thức, thời gian và địa điểm thi hành án.

Trên thực tế, trong suốt quá trình thi hành án từ khi ra quyết định thi hành án đến lúc kết thúc hồ thi hành án, quan thi hành án dân sự luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, thậm chí ở nhiều giai đoạn của quá trình thi hành án, chấp hành viên buộc phải hướng dẫn cho các đương sự quyền thỏa thuận, định đoạt, chỉ khi nào đương sự không định đoạt, không tự nguyện thì chấp hành viên mới tiếp tục quá trình tổ chức thi hành án như việc định thời gian tự nguyện, việc định giá, bán đấu giá tài sản…

Bản chất của hoạt động thi hành án dân sự là hiện thực hoá các quyền, nghĩa vụ được ghi nhận trong các bản án, quyết định nên thi hành án dân sự vẫn cần sự tham gia của quyền lực nhà nước với những lý do không khác nhiều so với trong lĩnh vực thi hành án hình sự. Trong nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc lựa chọn phương thức tổ chức xã hội là tất cả đều đặt dưới quyền lực Nhà nước mà không cho phép cá nhân sử dụng bạo lực. Nhà nước cần trao cho những người nào chứng minh được quyền của họ các biện pháp cưỡng chế để thực hiện quyền đó. Chính vì vậy, Nhà nước phải tổ chức và hướng dẫn việc áp dụng, thực hiện các biện pháp cươngx chế thi hành án theo phương pháp mệnh lệnh, là biểu hiện của việc sử dụng bạo lực một cách hợp pháp để bảo vệ lợi ích cá nhân[5].

Như vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án chính là biểu hiện của tính quyền lực nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự. Hoạt động thi hành án dân sự luôn sự đan xen giữa hai phương pháp điều chỉnh là tôn trọng quyền tự nguyện, định đoạt của đương sự và cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước, theo đó, cơ quan thi hành án dân sự sẽ ưu tiên quyền tự nguyện, tự định đoạt của đương sự, nếu đương sự không sử dụng quyền tự định đoạt thì cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên được áp dụng biện pháp cưỡng chế để bắt buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ. Đây do Luật thi hành án dân sự Việt Nam quy định hết thời gian tự nguyện thi hành án, người phải thi hành án điều kiện thi hành án không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án[6]. Trường hợp, người phải thi hành án điều kiện thi hành án không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm[7]. Tuy nhiên, ngay cả khi áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự vẫn phải chấp nhận một số quyền của người phải thi hành án như quyền lựa chọn tài sản biên, quyền chuộc lại tài sản trước khi đưa ra bán đấu giá hoặc phải tôn trọng sự thỏa thuận của đương sự về giá tài sản, tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá…[8].

2. Đặc điểm riêng

Thứ nhất, thi hành án đối với quyền sử dụng đất là loại thi hành án phức tạp, dễ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các bên đương sự và các chủ thể có liên quan.

Với đặc điểm là một loại tài sản có giá trị lớn, lại là “hàng hoá” khan hiếm, có tính chất cố định, được quyết định bởi đối tượng của quyền sử dụng đất là đất đai là một tài sản có tính chất cố định nên việc xác định giá trị của quyền sử dụng đất là việc không đơn giản. Giá trị của quyền sử dụng đất phụ thuộc lớn vào vị trí địa lý, địa thế nơi có tài sản, hình dáng của tài sản, thậm chí tâm lý của người mua tài sản cũng sẽ ảnh hưởng đến giá trị của tài sản. Đặc điểm này của quyền sử dụng đất dễ dẫn đến sự lạm quyền của các chủ thể tham gia vào quá trình thi hành án đối với quyền sử dụng đất như việc định giá tài sản, bán đấu giá tài sản. Do vậy, việc thi hành án đối với quyền sử dụng đất sẽ dễ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và các chủ thể liên quan so với việc thi hành án đối với các tài sản khác.

Ngoài ra, về mặt tâm lý, với quyền sử dụng đất nơi ở, nơi an lạc nghiệp (đối với đất ở), nơi để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh (trụ sở công ty hoặc đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp…) nên tâm chống đối của người phải thi hành án luôn mạnh mẽ hơn so với việc tác động đến các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ. Đây là lý do việc thi hành án đối với quyền sử dụng đất thường phức tạp hơn so với thi hành án đối với các tài sản khác.        

Từ những đặc điểm quan trọng này của thi hành án đối với quyền sử dụng đất, kết hợp với những nguyên nền tảng khác như sự cân bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ thi hành án dân sự, trong đó, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của người được thi hành án thì cũng phải bảo vệ người phải thi hành án những quyền bản, pháp luật của một số vùng hoặc một số quốc gia cũng những quy định khác biệt khi thi hành án đối với quyền sử dụng đất hoặc liên quan đến quyền sử dụng đất. dụ, Mỹ, hầu hết các bang của Mỹ đều cho phép biên nhà của người phải thi hành án nhưng bang Texas, Florida Wyoming thì không cho phép biên nhà của người phải thi hành án[9]. Armenia, quyền bản của người phải thi hành án cũng được bảo vệ theo cách rất đặc biệt. Cụ thể, Armenia không bán đấu giá đối với nhà duy nhất (trừ trường hợp cam kết, thu hồi tiền cấp dưỡng, hình phạt cho thiệt hại gây ra cho yêu cầu của người thu hồi nợ)[10]. Thậm chí, một số bang của Mỹ, để được thu giữ đối với đất đai, người yêu cầu thu giữ còn phải chứng minh rằng đã xử tất cả các tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành nghĩa vụ (ví dụ như bang Michigan)[11]. Hay như Zambia thì việc xử lý đối với bất động sản được coi biện pháp cuối cùng sau khi đã xử tất cả các tài sản nhân khác không đủ để thi hành khoản nợ[12].

Thứ hai, hoạt động thi hành án đối với quyền sử dụng đất đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức hữu quan, đặc biệt là cơ quan quản lý đất đai

Phối hợp là một trong những đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thi hành án đối với quyền sử dụng đất còn yêu cầu mức phối hợp mức độ cao hơn. dụ, trong hoạt động xác minh đối với các tài sản khác, chấp hành viên cũng cần phải phối hợp nhưng sự phối hợp chỉ dừng lại ở mức độ các cơ quan quản lý tài sản hoặc nắm giữ thông tin cung cấp về quyền sở hữu tài sản. Trong khi đó, nếu xác minh tài sản quyền sử dụng đất quyền sử dụng đất đó sự thay đổi về diện tích so với giấy chứng nhận thì cơ quan quản lý đất đai bên cạnh việc xác nhận về quyền sở hữu, còn phải xác nhận về thực trạng thửa đất, làm nguyên nhân của sự thay đổi và có sự điều chỉnh hợp lý trước khi cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các công việc khác của quá trình thi hành án. Trong hoạt động cưỡng chế thi hành án cũng cần có sự tham gia của cơ quan quản lý đất đai cùng cấp và trong mọi trường hợp đều phải có sự tham gia của lực lượng công an để bảo vệ cưỡng chế. Thiếu sự hỗ trợ của các cơ quan này, cơ quan thi hành án dân sự không thể tiến hành hoạt động tổ chức thi hành án.

Thứ ba, hoạt động thi hành án đối với quyền sử dụng đất chịu sự chi phối của chính sách của nhà nước đối với đất đai

Khác với các tài sản khác, người phải thi hành án có không có toàn quyền quyết định, định đoạt tuyệt đối với đất thuộc quyền sử dụng của mình. Bởi lẽ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Còn người phải thi hành án - người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền đối với đất - chỉ quyền sử dụng đất. Do vậy, quyền của người phải thi hành án đối với đất đai, cụ thể ở đây là quyền của cơ quan thi hành án dân sự trong việc xử đối với đất đai không thể vượt quá phạm vi chủ sở hữu cho phép. Nhà nước, với tư cách là đại diện chủ sở hữu tài sản sẽ thể hiện sự cho phép của mình bằng quy định của luật. Đây do mỗi thời kỳ khác nhau, khi các chính sách khác nhau của Nhà nước đối với đất đai thì quyền của người sử dụng đất cũng có những thay đổi rệt, từ đó, cũng ảnh hưởng tới hoạt động thi hành án đối với quyền sử dụng đất.

Hiến pháp 1980 đã khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý. Với quy định này, Nhà nước chỉ thừa nhận một hình thức sở hữu duy nhất - sở hữu toàn dân về đất đai. Đồng thời, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức. Hay nói cách khác, sau khi Hiến pháp 1980 ra đời thì việc sử dụng đất đai bị “đóng khung” trong quan hệ giao đất, thu hồi đất giữa người sử dụng đất với Nhà nước. Dưới khía cạnh sử dụng đất, đất đai được coi là tài sản chung của toàn dân, không được coi là tài sản thông thường được phép giao dịch. Người sử dụng đất không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác khi không còn nhu cầu sử dụng. Tại thời điểm này, pháp luật thi hành án dân sự không đặt ra vấn đề thi hành án đối với quyền sử dụng đất thi hành án đối với tài sản trên đất, cụ thể là nhà (như quy định về việc bán đấu giá nhà tại Điều 30 Pháp lệnh của Hội đồng nhà nước số 23-LCT/HĐNN8 ngày 28/8/1989 về thi hành án dân sự).

Đến năm 1992, Hiến pháp mới được ban hành (Hiến pháp 1992) đã thể hiện chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai, đó là: Nhà nước thống nhất quản toàn bộ đất đai bảo đảm sử dụng đúng mục đích hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác đất đai hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất đai được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật. Cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 đã chính thức ghi nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của hộ gia đình, nhân cho phép họ được quyển chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng. Bắt đầu từ thời điểm này thì pháp luật thi hành án dân sự mới đề cập đến vấn đề thi hành án đối với quyền sử dụng đất (quy định về việc biên quyền sử dụng đất tại Điều 41 Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 13/2004/PL-UBTVQH11 ngày 14/01/2004 về thi hành án dân sự).

Hiến pháp 2013 quy định về chế độ quản lý và sử dụng đất đai đối với tài nguyên đặc biệt của quốc gia và nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước đã được xác định từ bản Hiến pháp 1980. Hiến pháp 2013 đã bổ sung quy định “quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” (Khoản 2, Điều 54), là cơ sở để tiếp tục phòng, chống và xử lý nghiêm các trường hợp sai hạm trong thực hiện pháp luật đất đai, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền sử dụng đất của công dân, tránh tình trạng thu hồi đất tùy tiện nếu không thuộc các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội gắn trực tiếp với các mục tiêu vì lợi ích cộng đồng, quốc gia.

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng, thi hành án đối với quyền sử dụng đất là một quá trình với nhiều công đoạn, nhiều hoạt động khác nhau của chủ thể, nên việc nghiên cứu, định hướng xây dựng khung pháp luật cho từng công đoạn sẽ là cơ sở để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác thi hành án đối với quyền sử dụng đất Việt Nam trong thời gian tới.

 


[1] Federal Bailiffs’ service (2019), State and private enforcement systems: comparative analysis and the best practices, Collection of Materials of the 9th International Scientific and Practical Conference, 10-13 October 2018, Sochi, Krasnodar, Enterprise style publisher, Moscow, pg.559.

[2] Federal Bailiffs’ service (2019), State and private enforcement systems: comparative analysis and the best practices, Collection of Materials of the 9th International Scientific and Practical Conference, 10-13 October 2018, Sochi, Krasnodar, Enterprise style publisher, Moscow, pg.612.

[3] Học viện Tư pháp (2011), Đạo đức nghề luật, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr.237-238.

[4] Hoàng Thế Anh (2015), Giám sát thi hành án dân sự, Luận án tiến sỹ Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.37.

[5] Nhà pháp luật Việt - Pháp (2006), Các mô hình tổ chức thi hành án trên thế giới, Kỷ yếu hội thảo ngày 17-18/4/2006, Hà Nội.

[6] Quốc hội (2008), Luật Thi hành án dân sự, Hà Nội,khoản 1 Điều 46.

[7] Quốc hội (2015), Bộ luật hình sự, Hà Nội, Điều 380.

[8] Hoàng Thế Anh (2015), Giám sát thi hành án dân sự, Luận án tiến sỹ Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.38

[9] Federal Bailiffs’ service (2019), State and private enforcement systems: comparative analysis and the best practices, Collection of Materials of the 9th International Scientific and Practical Conference, 10-13 October 2018, Sochi, Krasnodar, Enterprise style publisher, Moscow, pg402.

[10] Federal Bailiffs’ service (2019), State and private enforcement systems: comparative analysis and the best practices, Collection of Materials of the 9th International Scientific and Practical Conference, 10-13 October 2018, Sochi, Krasnodar, Enterprise style publisher, Moscow, pg. 360.

[11] Lawren M. Durek (2003), Advisability of proposed judgment lien legislation, Address: https://higherlogicdownload.s3.amazonaws.com/MICHBAR/ebd9d274-5344- 4c99-8e26-d13f998c7236/UploadedImages/pdfs/journal/summer03Dudek.pdf, [Access to: 29/5/2020].

[12] Federal Bailiffs’ service (2019), State and private enforcement systems: comparative analysis and the best practices, Collection of Materials of the 9th International Scientific and Practical Conference, 10-13 October 2018, Sochi, Krasnodar, Enterprise style publisher, Moscow, pg. 430.