1. Khái quát một số thay đổi lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật
Xét từ góc độ tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có thể nói rằng, sự thay đổi và phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là nhằm tiếp cận với các chuẩn mực quan hệ pháp lý trong việc bảo đảm quyền tự do của con người về tài sản và về nhân thân làm nền tảng cho sự phát triển, mở cửa và hội nhập.
Sự thay đổi quan trọng nhất là sự khẳng định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 nguyên tắc về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền dân sự. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng (Điều 2). Từ nguyên tắc này, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận đầy đủ hơn các phương thức để bảo vệ các quyền dân sự. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Bộ luật dân sự 2015 đã quy định cụ thể về các quyền nhân thân mang tính chất dân sự bao gồm quyền có họ, tên (Điều 26), quyền thay đổi họ (Điều 27), quyền thay đổi tên (Điều 28), quyền xác định và xác định lại dân tộc (Điều 29), quyền được khai sinh, khai tử (Điều 30), quyền đối với quốc tịch (Điều 31), quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32), quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 33), quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34), quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (Điều 35), quyền xác định lại giới tính (Điều 36), quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38), quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều 39). Quy định được coi là mới so với trước đây là quy định về quyền của chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Cũng theo hướng triệt để tôn trọng và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015, Luật Đất đai năm 2014 và những văn bản pháp luật khác đã đặc biệt chú ý đến bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, đặc biệt là người yếu thế trong năng lực hành vi dân sự. Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ quy định tại Bộ luật dân sự 2005 về việc người chưa đủ sáu tuổi là người không có năng lực hành vi dân sự, thay vào đó, đối với người chưa đủ sáu tuổi thì giao dịch dân sự của người này do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập và thực hiện.
Đồng thời với đó là một quy định khác, chưa từng có trong hệ thống pháp luật Việt Nam trước đây. Đó là quy định về trách nhiệm của Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưa có điều luật để áp dụng (Khoản 2 Điều 4 Bộ luật dân sự). Sự thay đổi trong pháp luật dân sự nói riêng và trong lĩnh vực pháp luật tư nói chung đều xuất phát từ yêu cầu đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng và cụ thể hơn nguyên tắc công bằng, duy trì công lý, bảo đảm tối đa khả năng tiếp cận công lý của các chủ thể. Có thể nói rằng, Bộ luật Dân sự năm 2015 là văn bản sớm nhất thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 một cách nhất quán thông qua các quy định mở rộng phạm vi các nguồn pháp luật nhằm mục đích nói trên. Theo đó, khi giải quyết các vụ, việc dân sự mà chưa có các quy định của pháp luật thì Tòa án căn cứ vào tập quán; áp dụng pháp luật tương tự, án lệ, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và lẽ công bằng để xem xét, giải quyết. Những quy định mới này của pháp luật dân sự Việt Nam là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người của Tòa án (Điều 102).
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng đã khẳng định khả năng áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình, theo đó, trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 của Luật này được áp dụng (Điều 7). Không chỉ đối với các quan hệ pháp luật dân sự trong nước, đối với các quan hệ, pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài, tập quán cũng được pháp luật dân sự Việt Nam coi là nguồn pháp luật. Theo đó, Điều 666 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định các bên được lựa chọn tập quán quốc tế để áp dụng trong trường hợp điều ước quốc tế hoặc pháp luật Việt Nam có quy định cho lựa chọn tập quán đó. Kể cả trong trường hợp có luật để áp dụng nhưng các bên lựa chọn tập quán quốc tế để áp dụng thì lựa chọn của các bên được tôn trọng và tập quán đó được ưu tiên áp dụng.
Một trong những điểm mới của pháp luật dân sự Việt Nam là vấn đề thời hiệu: thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự (Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015). Theo đó, Tòa án không được tự mình áp dụng thời hiệu hưởng quyền dân sự nếu không có yêu cầu của một bên hoặc các bên trong quan hệ dân sự; và nếu một bên hoặc các bên có yêu cầu về việc áp dụng thời hiệu thì yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Quy định này hoàn toàn phù hợp với Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, theo đó, việc hết thời hiệu chỉ có hiệu lực nếu bên có nghĩa vụ viện dẫn việc hết thời hiệu như là một biện pháp tự vệ.
Về chế định hợp đồng dân sự. Trong luật dân sự, vấn đề hình thức hợp đồng được coi là một trong những đặc trưng quan trọng. Tuy nhiên, trong thời đại Công nghiệp 4.0 và thương mại xuyên biên giới thì các giao dịch dân sự thông qua hợp đồng điện tử hay nói rộng hơn là thương mại điện tử ngày càng phổ biến. Hợp đồng điện tử được hiểu là hình thức hợp đồng khi các bên sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin (điện thoại, máy fax, email, truyền hình, các hệ thống ứng dụng thương mại điện tử, các mạng máy tính kết nối với nhau) trong đàm phán, giao kết và thực hiện giao kết.
Trước tình hình phát triển của thương mại điện tử, ngày 29/11/2005 Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội ban hành. Việc ban hành Luật Giao dịch điện tử đáp ứng tốt cho thực tiễn giao dịch điện tử ở nước ta hiện nay dưới cả bốn hình thức phổ biến của giao dịch điện tử là hợp đồng truyền thống được đưa lên website, hợp đồng thương mại điện tử được hình thành qua giao dịch điện tử, hợp đồng thương mại điện tử được hình thành qua thư điện tử và hợp đồng thương mại điện tử có sử dụng chữ ký số. Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đưa ra một khái niệm rất cô đọng nhưng cũng hàm chứa nội dung này: “Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử”. Luật Giao dịch điện tử điều chỉnh các giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như các giao dịch điện tử trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại. Phạm vi điều chỉnh của Luật này bao gồm 4 yếu tố: thông điệp dữ liệu, chữ kí điện tử và chứng thực chữ ký điện tử; giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử; an ninh, an toàn, bảo mật và bảo vệ trong giao dịch điện tử; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử.
Đáng chú ý là, mặc dù Việt Nam chưa tham gia Công ước của Liên hợp quốc về sử dụng các chứng từ điện tử trong giao dịch quốc tế, nhưng Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng đã cập nhật đầy đủ 4 nguyên tắc chủ đạo của Công ước là: tự nguyện, tự thỏa thuận trong việc lựa chọn công nghệ để thực hiện giao dịch; trung lập về công nghệ; bảo đảm bình đẳng; an toàn.
Trên cơ sở và để thực hiện Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Chính phủ đã ban hành một loạt nghị định như: Nghị định số 57/2004/NĐ-CP về Thương mại điện tử; Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 28/02/20017 về Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 8/03/2007 về Giao dịch điện tử trong ngân hàng; Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 16/05/2013 quy định những hành vi bị cấm trong thương mại điện tử, trách nhiệm của các thương nhân cung cấp các dịch vụ bán hàng trực tuyến; trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử. Luật Thương mại điện tử năm 2015 cùng các nghị định của Chính phủ đều hướng vào mục tiêu tạo môi trường thuận lợi cho thương mại điện tử phát triển, nâng cao lòng tin của người tiêu dùng và bảo vệ lợi ích người tiêu dùng trong giao dịch điện tử. Tuy nhiên, Luật giao dịch điện tử năm 2005 loại trừ không áp dụng giao dịch điện tử đối với “việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các loại bất động sản khác, văn bản thừa kế, giấy đăng ký kết hôn, quyết định ly hôn, giấy khai tử, giấy khai sinh, hối phiếu và các giấy tờ có giá khác”. Việc loại trừ này gây khó khăn cho việc triển khai dịch vụ công trực tuyến cũng như triển khai ứng dụng giao dịch điện tử trong các lĩnh vực thuộc phạm vi đó.
Lĩnh vực kinh tế quốc tế được coi là trung tâm của quá trình liên kết kinh tế quốc tế và khu vực. Có thể nói quá trình đổi mới pháp luật trong lĩnh vực này bắt đầu từ chủ trương ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (năm 2000) và đặc biệt là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đưa Việt Nam gia nhập thị trường toàn cầu nhằm vừa bảo đảm lợi ích quốc gia vừa bảo đảm phù hợp với môi trường pháp lý quốc tế[1]. Vào thời điểm trước khi nước ta gia nhập WTO (ngày 11/1/2007) đã diễn ra một quá trình được gọi là rà soát WTO, tức là rà soát toàn bộ hệ thống các văn bản pháp luật từ góc độ tĩnh phù hợp với các quy định của WTO theo nguyên tắc mà WTO đã đề ra cho các quốc gia thành viên tại Điều XVI Khoản 4 Hiệp định Marakesh “Mỗi thành viên phải bảo đảm sự thống nhất cả các luật, các quy định dưới luật và những quy tắc hành chính với các nghĩa vụ của mình được quy định trong các Hiệp định của WTO”. Toàn bộ các hiệp định của tổ chức quốc tế này nằm trong 3 lĩnh vực lớn: Thương mại hàng hóa, Thương mại dịch vụ và Thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ. Kết quả tại thời điểm đó đã có 311 văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ (BTA) và WTO đã được ban hành. Trên cơ sở đó, nhiều văn bản pháp luật được ban hành trước đó đã được sửa đổi, bổ sung một cách căn bản theo hướng bảo đảm thực hiện các cam kết song phương và đa phương; đồng thời một loạt quy định và chế định pháp luật mới chưa từng có ở Việt Nam đã hình thành, chẳng hạn như các quy định trong Pháp lệnh năm 2002 về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế, trong Pháp lệnh năm 2007 về chống trợ cấp, Pháp lệnh năm 2006 về chống bán phá giá. Nhiều văn bản pháp luật nền tảng của thương mại đã ra đời trong thời kỳ này mà khi xây dựng và ban hành đã nhất thiết phải đối chiếu với các chuẩn mực pháp luật quốc tế như Luật Thương mại (năm 2005), Luật Trọng tài thương mại (2005), Luật Hải quan (2001), Luật Du lịch (2005), Luật sở hữu trí tuệ (2005), Luật chuyển giao công nghệ (2006) v.v…
Nhiều thuật ngữ, khái niệm pháp luật mới đã được đưa vào hệ thống thuật ngữ pháp lý Việt nam và trở nên quen thuộc trong đời sống pháp lý, trước hết là khái niệm trong các lĩnh vực hoạt động thương mại như: thương mại, thương mại hàng hóa; hàng hóa, xuất xứ hàng hóa; dịch vụ, thương mại dịch vụ; các quy chế như “đãi ngộ tối huệ quốc” (Most Favoured Nation - MFN), “bảo lưu MFN” (Most Favoured Nation Treatment Principle), “đối xử quốc gia” (National Treatment - NT), nguyên tắc tiếp cận thị trường (hay là mở cửa thị trường) (market access - MA); thuế quan và rào cản phi thuế quan (obbreviation for non-tariff barrier - NTB) v.v…
Cùng với hoạt động rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến thương mại quốc tế là việc gia nhập một loạt các định chế thương mại quốc tế như Tổ chức Hải quan thế giới - WCO (năm 1993), Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO (năm 1976) v.v… và gia nhập các điều ước quốc tế như Công ước Berne về sở hữu trí tuệ (năm 2004) và các công ước khác về sở hữu trí tuệ được liệt kê trong Hiệp định TRIPS/WTO.
Một lĩnh vực đặt ra nhu cầu điều chỉnh pháp luật mới là lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trong phạm vi điều chỉnh pháp luật đối với lĩnh vực luật dân sự, từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 1995, để đảm bảo sự tương thích với Hiệp định về khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), một đạo luật riêng về sở hữu trí tuệ (Luật Sở hữu trí tuệ) đã được ban hành vào năm 2005, tuy nhiên, vẫn bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định chung, có tính nền tảng của Bộ luật Dân sự so với Luật Sở hữu trí tuệ với tính cách là luật chuyên ngành hướng nhiều hơn vào sự phát triển khoa học, công nghệ và nền thương mại tự do. Các hiệp định thương mại tự do sau đó mà Việt Nam đã ký kết và tham gia cũng đều đã đặt ra yêu cầu điều chỉnh chuyên ngành phù hợp này, bởi so với các quan hệ dân sự thông thường thì các quan hệ về sở hữu trí tuệ ít bị giới hạn về phạm vi lãnh thổ và có nhiều điểm chung đối với mọi quốc gia.
Quy định của Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005 và của Luật Sở hữu trí tuệ sau này (2010) nhằm bảo đảm sự phù hợp với các yêu cầu của WTO về bảo hộ sở hữu công nghiệp là một ví dụ điển hình về sự “quốc tế hóa” pháp luật Việt Nam, với sự ra đời của những lĩnh vực điều chỉnh pháp luật mới. Theo đó, nếu trước đây, Pháp lệnh về sở hữu trí tuệ cũng như Bộ luật Dân sự 1995 chỉ mới quy định về “quyền tài sản và quyền nhân thân” khi nói về quyền sở hữu trí tuệ mà chưa coi yếu tố “quyền kinh tế” và “quyền tinh thần” như cách diễn đạt trong các hiệp định của WTO; quy trình cung cấp chứng cứ trong cơ chế giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ cũng đa dạng hơn quy trình xét xử các vụ án kinh tế trong nước.
Lĩnh vực đầu tư cũng là một ví dụ về mở rộng diện điều chỉnh pháp luật. Nếu như vào thời điểm năm 1997, Luật Đầu tư nước ngoài chỉ nói về các hình thức đầu tư như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), liên doanh vài hợp đồng hợp tác đầu tư thì Luật Đầu tư năm 2005 qua các lần sửa đổi, bổ sung đã vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh ban đầu này, đã điều chỉnh cả về đầu tư tài chính, đầu tư dưới hình thức cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ, các quyền lợi đối với khoản nợ dưới các hình thức khác nhau. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này nguồn pháp luật là hết sức đa dạng bởi các quốc gia thành viên WTO không chỉ dựa vào những quy tắc thành văn (các hiệp định) của WTO mà còn dựa vào các án lệ thương mại quốc tế, các học thuyết kinh tế, chẳng hạn như học thuyết về “quốc tịch của doanh nghiệp” với hàm ý không hoàn toàn giống như khái niệm trong pháp luật dân sự Việt Nam về pháp nhân, theo đó, khái niệm “quốc tịch của doanh nghiệp” (Corporate Citizenship) được hiểu là việc thừa nhận rằng doanh nghiệp có các nghĩa vụ về xã hội, về văn hóa và môi trường đối với cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động, cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp về kinh tế và tài chính đối với các cổ đông và đối với những người góp vốn khác.
Bước vào đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, quá trình toàn cầu hóa trong lĩnh vực thương mại đã diễn ra rộng hơn, với nhiều chuẩn mực mới hơn và gắn với đó là sự ra đời của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Việt Nam đã tham gia các hiệp định này như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) năm 2009, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Asean và Ấn Độ (AIETA) năm 2010, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Asean và Austrailia, Newzealand (AANZFTA) năm 2010, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Chile (VCFTA) năm 2014, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) năm 2015, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Nga, Belarus, Armenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan (VN-EAEU FTA) năm 2016, Hiệp định đối tác toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) năm 2018, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) tháng 6 năm 2019.
Khác với các hiệp định thương mại tự do truyền thống, các hiệp định thương mại tự do hệ mới có cam kết sâu rộng và toàn diện, ngoài những cam kết về tự do thương mại hàng hóa và dịch vụ như trước đây, còn có các cam kết liên quan đến những lĩnh vực “phi truyền thống” như lao động, môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư; mức độ cam kết của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng sâu hơn, ví dụ như việc cắt giảm thuế theo một lộ trình tới 0%. Hoặc chẳng hạn, các hiệp định này đã mở rộng hơn nhiều so với các quy định của tổ chức lao động quốc tế về khái niệm “quyền lao động” và bổ sung khái niệm mới là “an ninh việc làm” (Employment security) với bảy nội dung hợp thành gồm: việc làm; thu nhập; thời gian làm việc; an toàn lao động và sức khỏe; an sinh xã hội; cơ hội được đào tạo; được có người đại diện và các quyền cơ bản khác ở nơi làm việc.
Phương thức điều chỉnh ngang bằng, bình đẳng đối với các quan hệ kinh tế đã dần dần thay thế phương thức chỉ huy, mệnh lệnh, giao nộp. Do vậy, khái niệm “luật kinh tế” tuy vẫn thông dụng trong ngôn ngữ pháp lý Việt Nam nhưng nội hàm của nó đã chuyển theo hướng điều chỉnh của quan hệ pháp lý thị trường kinh doanh, thương mại với yếu tố chủ đạo là tự do giao kết bình đẳng và cạnh tranh.
Theo hướng đó, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã được sửa đổi vào các năm 2005, 2015 nhằm tạo nên một khuôn khổ chung về luật tư cho cả lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại. Đồng thời với đó là việc ban hành Luật Thương mại (2005), Luật Sở hữu trí tuệ (2005 và 2009). Năm 2004 lần đầu tiên Việt Nam đã ban hành một đạo luật chung để điều chỉnh tất cả các hoạt động và hình thức đầu tư trong nước và nước ngoài nhằm xóa bỏ mọi rào cản về đầu tư không phù hợp với cơ chế thị trường và cản trở việc thực hiện các cam kết quốc tế, tạo môi trường minh bạch và bình đẳng cho các nhà đầu tư. Phù hợp với đòi hỏi về điều kiện đầu tư, kinh doanh mà các Điều ước quốc tế đã xác định (Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới WTO - Việt Nam ký ngày 07/11/2006, các hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư; các hiệp định thương mại tự do); Luật Đầu tư năm 2014 đã xóa bỏ những quy định có nội dung phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài, tạo mặt bằng pháp lý bình đẳng về quyền thành lập doanh nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Trừ một số hạn chế về tỷ lệ góp vốn và về phạm vi hoạt động, theo quy định của pháp luật nước ta và của các điều ước quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài được quyền thành lập tất cả các loại hình doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ sở hữu không hạn chế. Lần đầu tiên, Luật Đầu tư đã đề ra nguyên tắc nhà đầu tư được thực hiện hoạt động đầu tư trong tất cả các lĩnh vực và ngành nghề mà pháp luật không cấm: được tự chủ quyết định lĩnh vực đầu tư, ngành nghề đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, quy mô vốn, địa bàn, đối tác đầu tư, thời gian hoạt động của dự án đầu tư v.v…
Luật Đầu tư cũng đã tạo nền tảng pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận bình đẳng các cơ hội đầu tư, nguồn lực đầu tư (như tín dụng, ngoại tệ, đất đai, tài nguyên), tiếp cận các thông tin, pháp luật, chính sách, các dữ liệu cơ bản của nền kinh tế quốc dân. Khả năng thực hiện các khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện ra trước các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trước hết là Tòa án, về các hành vi phạm pháp của các cơ quan, cán bộ, công chức, công quyền. Nhiều rào cản pháp lý trước đây như: yêu cầu bắt buộc nhà đầu tư phải xuất khẩu sản phẩm, sử dụng nguyên liệu hàng hóa trong nước, cân đối xuất nhập khẩu, cân đối ngoại tệ v.v… không còn phù hợp, thiếu tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế, (chẳng hạn như với các quy định tại Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Agreement on Trade - Related Investment Measure TRIMs) năm 1995 của WTO đã bị bãi bỏ. Nhờ đó đã góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài, xóa bỏ dần cơ chế “xin - cho - phê duyệt” bất hợp lý, tạo điều kiện và uy tín để nước ta tiếp tục tham gia vào những hiệp định thương mại và đầu tư song phương và đa phương trong giai đoạn hiện nay.
Phát triển nền kinh tế thị trường là tạo lập và thúc đẩy các thị trường chủ yếu như: thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường đất đai và bất động sản, thị trường vốn và tiền tệ, thị trường lao động, thị trường khoa học và công nghệ. Các thị trường đó đã được xác lập trên những cơ sở pháp lý mà cụ thể là một hệ thống văn bản pháp luật đã được ban hành. Đối với thị trường hàng hóa thì cơ sở pháp luật quan trọng nhất chính là Luật Thương mại năm 2005 và các đạo luật khác như Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Điện lực năm 2004 và 2012, Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Giá năm 2012. Đối với thị trường dịch vụ, cơ sở pháp lý là Luật Viễn thông năm 2009, Luật Bưu chính năm 2010, Luật Khám chữa bệnh năm 2009, Luật Giáo dục năm 2005 và 2009, Luật Giáo dục đại học năm 2012 và 2014, Luật Thể dục thể thao năm 2006 v.v…
Thị trường đất đai, bất động sản đã được điều chỉnh bởi Luật Đất đai năm 2003 và liên tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2008, 2009 và 2010, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 và 2014, Luật Nhà ở năm 2005, 2009 và 2014; thị trường vốn, tiền tệ đã được đặt trên cơ sở quy định của các văn bản chủ yếu như Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Ngân hàng năm 2010, Luật Chứng khoán 2006 và 2010, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012.
Bộ luật Lao động năm 1994, 2006, 2007 và 2012, Luật Việc làm năm 2013, Luật Dạy nghề năm 2006 v.v… là những văn bản chủ yếu và quan trọng nhất đối với việc điều chỉnh pháp luật thị trường lao động; các văn bản pháp luật về khoa học và công nghệ năm 2000 và 2013, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 v.v… điều chỉnh thị trường khoa học công nghệ.
Các văn bản pháp luật trên đây đã tạo dựng được một khung pháp luật thị trường nhằm đưa các lĩnh vực quan hệ kinh tế ở nước ta vào quỹ đạo của thị trường trên cơ sở tiếp cận với kinh nghiệm quốc tế và phù hợp với các giá trị phổ biến của thời đại.
2. Kiến nghị phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật dân sự - thương mại về thương mại điện tử theo hướng hội nhập pháp luật
Trên thế giới, chỉ tính riêng trong năm 2018 giá trị giao dịch qua thương mại điện tử là 2.842 tỉ USD với 1,8 tỉ người tham gia mua hàng trên mạng internet. Tại các nước ASEAN, con số đó là 240 tỉ ước tính vào năm 2025. Việt Nam là nước có quy mô giá trị của thương mại điện tử xếp thứ 6 trên thế giới với tổng giá trị giao dịch là 2,26 tỉ USD bao gồm 35,4 triệu người dùng vào năm 2019 và dự kiến sẽ tăng lên 40 triệu người dùng vào năm 2021[2].
Sự phổ cập của Internet, mạng 3G, 4G và 5G và các thiết bị di động là điều kiện thuận lợi cho phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam. Các doanh nghiệp trong và ngoài nước có cuộc cạnh tranh thị phần thương mại điện tử với nhiều chiến lược kinh doanh mới, trong đó kinh doanh trên ứng dụng điện thoại thông minh và mạng xã hội là rất phát triển. Bằng chứng là Google hiện nay đã trở thành thành viên của Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, Amazon và Rakuten, một số doanh nghiệp Thái Lan, Hàn Quốc đang xúc tiến thiết lập quan hệ đối tác, mua cổ phần tại các hãng thương mại điện tử Việt Nam. Trong nước, một số công ty đã nổi lên như Vật giá, VC Corp, Chợ điện tử (Peacesoft), Mekongcom v.v... Việt Nam đã thực hiện sự hợp tác đa phương trong phát triển thương mại điện tử trong khuôn khổ APEC, ASEAN và với Ủy ban của LHQ về Luật Thương mại Quốc tế UNCTTRAL. Năm 2008 Trung tâm phát triển Thương mại điện tử Việt Nam (Ecom Viet) đã trở thành thành viên chính thức của Liên minh các tổ chức cấp chứng nhận website thương mại điện tử uy tín châu Á - Thái Bình Dương - ATA.
Nếu như việc ban hành Luật Giao dịch điện từ đã đưa vấn đề giao dịch điện tử lên mức độ điều chỉnh cao thì lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam cho đến nay vẫn đang được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật: Nghị định số 52/NĐ-CP ngày 16/05/2013 “Về thương mại điện tử” và các thông tư của Bộ Công thương như Thông tư số 47/2014 – TT-BCT ngày 5/12/2014 về quản lý website thương mại điện tử và Thông tư số 21/2018/TT-BCT sửa đổi, bổ sung Thông tư số 47 nêu trên. Các văn bản pháp luật này đã lần lượt xác định nội hàm một số khái niệm pháp lý quan trọng mà trước hết là khái niệm “thương mại điện tử”, “chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại”, “hệ thống thông tin tự động”, “người khởi tạo chứng từ điện tử”, “người nhận chứng từ điện tử”, “sàn giao dịch thương mại điện tử”, “website thương mại điện tử”, v.v… Qua đó, thấy rõ một nhu cầu cần ban hành một đạo luật về thương mại điện tử nhằm điều chỉnh một cách nhất quán và ở mức độ cao hơn các vấn đề hoạt động thương mại điện tử. Việc ban hành văn bản pháp luật như vậy hoàn toàn tương xứng với mức độ phát triển của một lĩnh vực đã trở nên phổ biến trong đời sống xã hội nước ta khi mà các con số đã cho thấy rõ hình hài một lĩnh vực kinh tế được gọi là “kinh tế số” hoặc “kinh tế điện tử”. Về tính chất, nền kinh tế điện tử, thương mại điện tử bản thân nó là phi biên giới. Bởi vậy mà người ta còn gọi đó là thương mại từ xa (distancing trade). Do đó, các quy định pháp luật nhất thiết phải bảo đảm phù hợp tối đa với các quy chuẩn pháp lý quốc tế. Chính vì vậy, ngoài việc bảo đảm phù hợp với Hiệp định của ASEAN năm 2018 về thương mại điện tử (The ASEAN Agreement on E-Commerce), việc gia nhập Công ước của LHQ năm 2007 về sử dụng chứng từ điện tử trong giao dịch quốc tế (United Nation Convention on the Use of Electronic Communication in International Contracts) là hết sức cần thiết. Việc gia nhập Công ước này cũng nhằm bảo đảm thống nhất sử dụng pháp luật trong các giao dịch, tránh được những khó khăn, rào cản khi ký kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp trong các hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài bởi phải sử dụng quy phạm pháp luật xung đột và án lệ của nước ngoài vốn là điều nan giải cho cá nhân, tổ chức và cơ quan trong nước. Điều này trước hết liên quan đến sự điều chỉnh pháp luật thống nhất và áp dụng nhất quán các quy chuẩn pháp luật quốc tế và khu vực đối với các vấn đề như hệ thống thống nhất xác nhận chữ ký điện tử; áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với các giao dịch điện tử quốc tế v.v…
Thực tiễn điều chỉnh pháp luật, nhất là trong lĩnh vực pháp luật tư, đã cho thấy vai trò không chỉ của các văn bản pháp luật mà cả vai trò không thể thiếu của các quy tắc mẫu. Trong thương mại điện tử thì đây là vấn đề về bộ quy tắc cho các bên trong quan hệ pháp luật về thương mại điện tử: người khởi tạo, người nhận chứng từ điện tử, các tổ chức cung cấp nền tảng công nghệ cho các giao dịch điện tử, thương nhân hoặc tổ chức có website thương mại điện tử và cung cấp các giao dịch như sàn giao dịch thương mại điện tử, dịch vụ khuyến mãi trực tuyến, dịch vụ đấu giá trực tuyến. Kinh nghiệm của EU trong việc sử dụng các luật mẫu như vậy cho thấy rằng, luật mẫu, so với quy định của văn bản pháp luật của Nhà nước, dễ dàng và nhanh chóng phù hợp với sự thay đổi rất nhanh chóng của các phương tiện công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay và phương pháp điều chỉnh pháp luật “từ dưới lên” kiểu này là hoàn toàn cần thiết[3].
Như vậy, tận dụng các thành tựu của Cách mạng Công nghiệp lần thứ IV, trong các lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự - thương mại được coi là ưu tiên của quá trình tiếp tục hoàn thiện pháp luật và đổi mới hệ thống pháp luật ở nước ta. Hoàn thiện Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và chuẩn bị điều kiện để gia nhập Công ước năm 2005 về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế là yêu cầu cấp thiết trong lĩnh vực pháp luật dân sự và thương mại. Các lĩnh vực pháp luật về lao động, công đoàn, an ninh con người cũng được coi là nội dung trọng tâm của quá trình hội nhập quốc tế trước yêu cầu của việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Tiếp tục thực thi dân chủ và quyền lực của nhân dân, bảo đảm công bằng, bình đẳng, công lý và trách nhiệm giải trình được xác định là những yêu cầu cơ bản của quá trình đổi mới lĩnh vực luật hiến pháp, luật hành chính.
[1] Ban chấp hành Trung ương Đảng (2007), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 24/1/2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, Văn kiện Đảng toàn tập.
[2] https://tuoitre.vn/thuong-mai-dien-tu-vn-lot-vao-nhom-6-thi-tron-nhat-the-gioi-20190118123008665.htm.
[3] Directive 2000/31/EC of the European Parliament and of the Council of 8 June 2000 on Certain Legal aspects of Information Society Services in Particular Electronics Commerce in the Internet market (Directive on Electronic Commerces//Oj, 2000, L.178.