In trang này
Thứ bảy, 24 Tháng 5 2025 10:04

Một số kiến nghị về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, phòng, chống tham nhũng trong sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.

1. Tính tất yếu của việc thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước

Việc thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước không chỉ là yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn quản trị quốc gia hiện đại mà còn là nội dung trọng tâm, xuyên suốt được đặt ra trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương và được nhấn mạnh trong các Kết luận số 126-KL/TW[1], 127-KL/TW[2], 134-KL/TW[3] và Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2025. Theo đó, tính tất yếu của việc bảo đảm các nguyên tắc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình không thể tách rời khỏi mục tiêu xây dựng bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, liêm chính, chuyên nghiệp, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lấy phục vụ Nhân dân làm mục tiêu tối thượng.

Theo khoản 5 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), “trách nhiệm giải trình là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền làm rõ thông tin, giải thích kịp thời, đầy đủ về quyết định, hành vi của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao.” Cùng với đó, Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chính phủ cũng nêu rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước được thực hiện thông qua việc cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Như vậy, trách nhiệm giải trình không chỉ đơn thuần là nghĩa vụ pháp lý mà còn là công cụ bảo đảm kiểm soát quyền lực, phòng ngừa lạm quyền, góp phần tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh tổ chức bộ máy hành chính nhà nước đang được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả, như yêu cầu nêu tại Kết luận số 126-KL/TW, trách nhiệm giải trình càng trở nên cấp thiết, là một cấu phần thiết yếu trong cấu trúc của quản trị nhà nước hiện đại.

Công khai và minh bạch là hai yếu tố có nội hàm gần gũi nhưng không trùng lặp. Theo nghĩa pháp lý và hành chính, “công khai” được hiểu là việc thông tin, dữ liệu phải được phổ biến rộng rãi, sẵn sàng tiếp cận đối với tất cả chủ thể có liên quan; trong khi đó, “minh bạch” bao hàm cả tính rõ ràng, mạch lạc, nhất quán và khả năng kiểm chứng của thông tin đó. Minh bạch, do vậy, là khái niệm rộng hơn, bao gồm cả công khai, đồng thời đòi hỏi cao hơn về chất lượng và độ tin cậy của thông tin. Theo báo cáo của UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc), tại các quốc gia có chỉ số minh bạch và trách nhiệm giải trình cao, chi phí thực hiện dịch vụ công giảm 20 - 30%, hiệu quả quản trị công tăng khoảng 40%[4]. Trong điều kiện Việt Nam, việc thể chế hóa các nguyên tắc công khai, minh bạch đã được thực hiện thông qua hàng loạt văn bản pháp luật, đặc biệt là Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Tiếp cận thông tin; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật Tổ chức chính quyền địa phương…

Về mặt tổ chức bộ máy, Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định yêu cầu phải nghiên cứu, đề xuất mô hình tổ chức tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm, qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ. Theo đó, mỗi vị trí việc làm trong hệ thống cơ quan hành chính đều cần được thiết kế với đầu vào và đầu ra minh định, tiêu chuẩn hóa quy trình xử lý công việc và gắn liền với cơ chế giám sát, đánh giá, công khai hóa kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đây cũng là nội dung được nhấn mạnh tại Kết luận số 134-KL/TW, trong đó yêu cầu xây dựng hệ thống cơ quan thanh tra các cấp theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, góp phần chủ động phòng, ngừa và phát hiện vi phạm, không để xảy ra tình trạng thanh tra chồng chéo, né tránh trách nhiệm giải trình, buông lỏng quản lý.

Thực tiễn quản lý nhà nước cho thấy, tham nhũng và tiêu cực trong khu vực công thường phát sinh tại những điểm “nóng” quyền lực - nơi có sự kết nối giữa quyền lực hành chính và lợi ích kinh tế, tài chính. Các nghiên cứu của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) chỉ ra rằng, những quốc gia không thực hiện công khai hóa ngân sách, tài sản công, đấu thầu và tuyển dụng công vụ sẽ có chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) thấp, kéo theo niềm tin của người dân và nhà đầu tư sụt giảm nghiêm trọng. Theo Báo cáo quốc gia về phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ Việt Nam năm 2023, trong giai đoạn 2021 - 2023, toàn quốc đã phát hiện 1.132 vụ tham nhũng, gây thiệt hại gần 16.000 tỷ đồng, trong đó 78% vụ việc liên quan đến lĩnh vực hành chính công, cấp phép, đấu thầu, quản lý tài sản công.

Một trong những nguyên nhân căn bản của tình trạng trên là việc thiếu cơ chế công khai, minh bạch, cũng như cơ chế giải trình một cách hiệu quả từ phía các cơ quan hành chính nhà nước. Nhiều cơ quan vẫn tồn tại tình trạng che giấu thông tin, quy trình giải quyết công việc không rõ ràng, khó giám sát, dẫn đến việc người dân không thể truy cứu hoặc khiếu nại khi quyền lợi bị xâm phạm. Điều này đi ngược lại tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó xác định rõ yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, tăng cường trách nhiệm công vụ, nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính trong kỷ nguyên phát triển số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương hiện hành cũng quy định rõ về cơ chế giám sát, phản biện xã hội và tiếp công dân của các cơ quan hành chính, đặc biệt là ở cấp cơ sở, nơi trực tiếp tiếp xúc với người dân và triển khai các chính sách công. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Nội vụ, một số địa phương vẫn chưa thực hiện đầy đủ quy định này, còn hình thức, thiếu thực chất, dẫn đến việc quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ. Từ đó đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm giải trình và công khai hóa hoạt động hành chính, đồng thời nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi trách nhiệm công vụ.

Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai chính phủ số, xã hội số và công dân số, việc ứng dụng công nghệ thông tin để tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng được xem là giải pháp mang tính chiến lược. Theo số liệu từ Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm 2024, 100% các bộ, ngành trung ương và địa phương đã kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia, 95% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến mức độ 4. Đây là cơ sở để các cơ quan hành chính tiến tới công khai toàn diện hoạt động của mình trên môi trường điện tử, qua đó cho phép người dân, tổ chức, doanh nghiệp giám sát, đánh giá, khiếu nại, phản ánh kịp thời nếu có sai sót, vi phạm. Hệ thống số hóa, nếu được thiết kế tốt, cũng có thể cảnh báo sớm những hành vi bất thường, dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng phát sinh trong nội bộ các cơ quan công quyền.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ là yêu cầu đạo đức công vụ hay tiêu chuẩn hành chính mà đã trở thành nguyên lý tổ chức căn bản, là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng chính quyền vì dân, do dân và phục vụ nhân dân. Các nội dung này cần được thể chế hóa đầy đủ, rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành, đồng thời phải được cụ thể hóa trong từng quy trình quản lý, kiểm soát nội bộ và đánh giá cán bộ, công chức. Việc triển khai cần gắn với rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành theo yêu cầu tại Kết luận số 126-KL/TW, 127-KL/TW, 134-KL/TW của Bộ Chính trị, để bảo đảm sự thống nhất giữa quy định pháp luật và thực tiễn sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, cũng như yêu cầu cấp thiết trong cải cách hành chính, cải cách thể chế, kiểm soát quyền lực nhà nước trong bối cảnh mới. Như vậy, việc thể chế hóa đầy đủ và thực thi hiệu quả công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình không chỉ là biện pháp phòng ngừa tham nhũng hữu hiệu mà còn là yếu tố cốt lõi để xây dựng nền hành chính liêm chính, hiện đại, phục vụ, tạo niềm tin xã hội và bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi số và hội nhập toàn diện.

Để tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đồng thời bảo đảm yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, việc thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các nội dung về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Trong tiến trình tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo tinh thần các Kết luận số 126-KL/TW, 127-KL/TW và 134-KL/TW của Bộ Chính trị năm 2025 và Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, việc tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, nhất là ở cấp chính quyền địa phương, được xác định là một trong những nguyên tắc nền tảng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, đồng thời góp phần xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, liêm chính, hiện đại, phục vụ nhân dân.

Trước hết, xét từ phía bộ máy hành chính nhà nước, đặc biệt là bộ máy chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã), theo quy định tại Điều 2 và Điều 4 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019), đây là thiết chế thực hiện chức năng hành pháp, bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên phạm vi lãnh thổ được phân cấp. Bộ máy hành chính không chỉ mang tính chấp hành mà còn có vai trò điều phối, tổ chức thực hiện và bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.

Với vai trò là bộ phận “năng động” nhất trong cơ cấu quyền lực nhà nước, chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính phụ thuộc trực tiếp vào cơ cấu tổ chức hợp lý, đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, phẩm chất và, quan trọng hơn cả, là cơ chế bảo đảm tính công khai, minh bạch, cũng như trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình hoạch định, ban hành và thực thi chính sách, pháp luật. Một bộ máy hành chính, dù được tổ chức tinh gọn và có hệ thống pháp luật hoàn thiện, nhưng nếu thiếu minh bạch trong hoạt động, thiếu trách nhiệm giải trình rõ ràng thì hiệu quả thực thi công vụ sẽ bị suy giảm nghiêm trọng.

Theo số liệu từ Thanh tra Chính phủ, trong năm 2024, toàn quốc có hơn 9.500 vụ việc liên quan đến hành vi tham nhũng, tiêu cực được phản ánh thông qua các kênh khiếu nại, tố cáo, trong đó có đến 47% vụ việc liên quan đến các quyết định hành chính không rõ ràng, thiếu công khai, minh bạch, hoặc không có cơ chế giải trình phù hợp. Điều này phản ánh mối quan hệ nhân quả giữa sự thiếu vắng công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình với tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động hành chính.

Trong bối cảnh đó, các Kết luận của Bộ Chính trị năm 2025, đặc biệt là Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025, đã chỉ rõ yêu cầu: "Rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật liên quan, bảo đảm sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy thì quyền hạn, trách nhiệm, quy trình xử lý công vụ phải được xác định rõ ràng, minh bạch, có cơ chế kiểm soát, giám sát, giải trình đầy đủ". Đây là cơ sở chính trị, pháp lý để tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương các cấp.

Thứ hai, từ phía các chủ thể ngoài bộ máy hành chính nhà nước, bao gồm hai nhóm chính: nhóm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm soát hoạt động của bộ máy hành chính và nhóm các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý của bộ máy hành chính. Đối với nhóm thứ nhất, gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thanh tra, kiểm toán..., công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình là điều kiện tiên quyết để thực hiện hiệu quả chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra và kiểm toán. Trong thực tế, nhiều cuộc giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã phát hiện các dấu hiệu vi phạm, buông lỏng quản lý tại các địa phương, song việc xử lý chưa triệt để, chủ yếu do thiếu thông tin hoặc thông tin không đầy đủ, không kịp thời.

Việc bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ phụ thuộc vào mức độ minh bạch của bộ máy hành chính và trách nhiệm giải trình của từng cơ quan, cá nhân có liên quan. Theo số liệu của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (2024), chỉ có 61% các đơn vị hành chính cấp tỉnh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giải trình theo yêu cầu giám sát của cơ quan dân cử. Do đó, tăng cường cơ chế công khai thông tin và trách nhiệm giải trình sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời hành vi vi phạm, phòng chống tham nhũng, tiêu cực ngay từ trong trứng nước.

Đối với nhóm cá nhân, tổ chức là đối tượng quản lý của bộ máy hành chính, tức là người dân, doanh nghiệp, công khai, minh bạch và giải trình là điều kiện để thực hiện quyền giám sát của Nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời nâng cao nhận thức pháp luật, tạo động lực để người dân tham gia tích cực vào quá trình xây dựng, giám sát và phản biện chính sách. Khi biết rõ quyền lợi của mình được hưởng gì, trong hoàn cảnh nào, với điều kiện nào và cơ quan, cá nhân nào có trách nhiệm thực hiện hoặc bảo vệ quyền lợi đó, người dân sẽ chủ động, tích cực trong quan hệ với chính quyền, góp phần làm lành mạnh hoá hoạt động hành chính công.

2. Thực trạng công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của bộ máy hành chính

Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là những nguyên tắc nền tảng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, được khẳng định rõ trong các văn kiện Đảng và pháp luật hiện hành, đặc biệt là trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, và các nghị quyết, kết luận gần đây của Bộ Chính trị như Kết luận số 126-KL/TW, 127-KL/TW, 134-KL/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW năm 2025. Những nguyên tắc này không chỉ là biểu hiện của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà còn là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính trong điều kiện đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy và xây dựng Chính phủ số.

Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình cần được bảo đảm chặt chẽ trong tất cả các giai đoạn của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Theo số liệu từ Bộ Tư pháp, riêng năm 2021, có 13.233 văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương được kiểm tra, trong đó phát hiện 1.202 văn bản có sai phạm về nội dung, thẩm quyền hoặc các yếu tố kỹ thuật lập pháp khác. Điều này phản ánh thực trạng đáng lo ngại về chất lượng lập pháp và yêu cầu cần thiết phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động lập pháp.

Tại giai đoạn đề xuất chính sách, pháp luật hiện hành đã yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm phải chứng minh tính cần thiết, cơ sở pháp lý, đánh giá tác động chính sách đối với đề xuất xây dựng văn bản. Trong giai đoạn soạn thảo, quy định yêu cầu đánh giá pháp luật hiện hành, tổng kết việc thi hành pháp luật, khảo sát thực tiễn và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các bên liên quan, bao gồm cơ quan nhà nước, đối tượng chịu sự điều chỉnh, các chuyên gia và tổ chức xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp lấy ý kiến chỉ mang tính hình thức, chưa đảm bảo tiếp thu có trách nhiệm. Hơn nữa, chưa có cơ chế đủ mạnh để xử lý nghiêm các trường hợp cố tình không tiếp thu ý kiến hợp lý hoặc giải trình không thuyết phục.

Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình cần được thực hiện xuyên suốt cả trước, trong và sau quá trình ban hành văn bản. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định cơ chế kiểm tra, rà soát và xử lý văn bản sai phạm. Tuy nhiên, tỷ lệ xử lý các văn bản sai phạm còn thấp, việc truy cứu trách nhiệm của cá nhân, cơ quan ban hành văn bản sai phạm chưa đầy đủ. Để nâng cao chất lượng văn bản pháp luật, Kết luận 126-KL/TW và Kết luận 127-KL/TW yêu cầu rà soát toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật sau sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả, đồng thời hoàn thành sửa đổi, bổ sung pháp luật trước ngày 30/6/2025.

Trong tổ chức thực thi pháp luật, yêu cầu về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực càng trở nên bức thiết. Các hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức bao gồm hai nhóm chính: hoạt động nội bộ trong cơ quan hành chính và hoạt động tương tác với người dân, doanh nghiệp. Mặc dù nhóm hoạt động nội bộ dễ kiểm soát hơn do chịu sự quản lý hành chính trực tiếp, nhưng nhóm hoạt động thứ hai có mối quan hệ mật thiết với xã hội, mới là lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực và đòi hỏi phải có cơ chế công khai, minh bạch mạnh mẽ hơn.

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình vào công tác cán bộ đóng vai trò then chốt để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm và cục bộ địa phương. Thực tiễn cho thấy, nếu thực hiện đúng các nguyên tắc trên thì những vi phạm như việc bổ nhiệm vượt quá số lượng quy định như tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa (với 8 Phó Giám đốc trong khi pháp luật chỉ cho phép tối đa 3) sẽ không thể xảy ra hoặc sớm bị phát hiện và xử lý nghiêm.

Về trách nhiệm pháp lý, công khai, minh bạch và giải trình chính là nền tảng để truy cứu trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc hình sự đối với cơ quan, cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, theo báo cáo tổng hợp của Thanh tra Chính phủ, trong giai đoạn 2020 - 2023, mặc dù có trên 1.800 vụ việc có dấu hiệu vi phạm được phát hiện qua thanh tra, nhưng tỷ lệ xử lý kỷ luật còn thấp, thậm chí nhiều trường hợp không được công khai, minh bạch trong việc xử lý, gây tâm lý hoài nghi trong xã hội. Chính vì vậy, Kết luận 134-KL/TW đã yêu cầu sắp xếp lại hệ thống cơ quan thanh tra theo hướng hai cấp (Trung ương và địa phương), tinh gọn, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính kịp thời, đúng quy định, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan kiểm tra, giám sát.

Để giải quyết căn cơ tình trạng này, Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định định hướng đổi mới toàn diện công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo hướng bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; nâng cao chất lượng công chức làm công tác pháp chế trong các cơ quan hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ pháp luật vững về phẩm chất, giỏi về chuyên môn. Đồng thời, khẳng định rõ yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình xây dựng pháp luật, ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát văn bản và công khai hóa quá trình xây dựng, thực thi pháp luật để người dân và doanh nghiệp giám sát.

Đổi mới tư duy trong hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật cũng là một điểm nhấn được nêu rõ trong các kết luận của Bộ Chính trị. Cần chuyển từ tư duy “quản lý bằng mệnh lệnh hành chính” sang “quản lý phục vụ” trên nền tảng pháp luật, tôn trọng quyền con người, quyền công dân và đảm bảo nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước cần chủ động công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành, quy hoạch, đầu tư công và thu chi ngân sách nhà nước ở tất cả các cấp chính quyền.

Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theo hướng số hóa, liên thông và minh bạch cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu tiêu cực, tham nhũng trong các hoạt động của bộ máy hành chính. Theo đánh giá của UNDP năm 2023, chỉ số hài lòng về dịch vụ hành chính công (SIPAS) tại Việt Nam tuy có cải thiện (đạt mức trung bình 83%), nhưng vẫn còn khoảng 30% người dân phản ánh phải chi thêm tiền ngoài quy định để được giải quyết thủ tục nhanh hơn. Điều này cho thấy, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình vẫn còn là khoảng trống lớn cần tiếp tục hoàn thiện trong hoạt động hành chính.

Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng: công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là yêu cầu xuyên suốt trong xây dựng, tổ chức và vận hành bộ máy chính quyền địa phương hai cấp theo đúng tinh thần của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các Kết luận, Nghị quyết của Bộ Chính trị năm 2025. Việc thực hiện tốt các yêu cầu này không chỉ góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị công mà còn xây dựng lòng tin xã hội, tạo nền tảng cho phát triển bền vững và nhà nước kiến tạo trong kỷ nguyên số.

3. Một số đề xuất tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong sắp xếp bộ máy hành chính nhà nước

Một trong những yêu cầu đặt ra trong tiến trình tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo tinh thần Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025, Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025, Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới là bảo đảm thực chất nguyên tắc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đây là nền tảng pháp lý chính trị có ý nghĩa quyết định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân đối với thể chế, đồng thời tạo môi trường chính sách thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Thứ nhất, trong hoạt động xây dựng pháp luật, cần quán triệt quan điểm lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy thực tiễn quản lý nhà nước và yêu cầu đổi mới thể chế làm căn cứ định hướng; lấy phòng, chống lợi ích cục bộ, nhóm lợi ích, ngăn chặn tham nhũng chính sách làm mục tiêu cốt lõi. Mặc dù Hiến pháp, luật, pháp lệnh không do cơ quan hành chính ban hành, nhưng các văn bản dưới luật, đặc biệt là nghị định, quyết định, thông tư do Chính phủ và các cơ quan hành chính ban hành lại chiếm số lượng lớn nhất và có ảnh hưởng sâu rộng, trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công dân, tổ chức. Số liệu thống kê của Bộ Tư pháp cho thấy, trung bình mỗi năm Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành khoảng 800 -1.000 văn bản quy phạm pháp luật, chiếm trên 85% tổng số văn bản trong hệ thống pháp luật hiện hành. Điều này cho thấy vai trò trung tâm của bộ máy hành chính trong việc triển khai cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, nội dung của luật thành quy định điều chỉnh hành vi trong thực tiễn.

Tuy nhiên, chính việc nắm giữ vị trí trung tâm trong xây dựng pháp luật hành chính cũng khiến bộ máy hành chính đối mặt với nguy cơ lạm quyền, thiên lệch chính sách hoặc "tham nhũng chính sách", thông qua việc cài cắm lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để ngăn chặn và khắc phục tình trạng này, cần tăng cường công khai hóa toàn bộ quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các dự thảo văn bản của Chính phủ, bộ, ngành. Việc công khai phải đảm bảo tính minh bạch từ khâu xác định nhu cầu ban hành văn bản, đến việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến và hoàn thiện nội dung. Theo đó, các cơ quan chủ trì soạn thảo cần thực hiện nghiêm túc trách nhiệm công khai dự thảo văn bản trên Cổng thông tin điện tử của mình và Cổng thông tin điện tử của Chính phủ trong thời hạn tối thiểu 60 ngày, theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Song song với công khai, phải phát huy hiệu quả cơ chế tiếp nhận, tổng hợp và phản hồi ý kiến góp ý của người dân, tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học. Việc lấy ý kiến cần chuyển từ hình thức sang thực chất, có báo cáo giải trình, tiếp thu rõ ràng, minh bạch, thể hiện đầy đủ quá trình cân nhắc, chọn lọc nội dung. Đồng thời, cần đa dạng hóa các kênh lấy ý kiến, ứng dụng công nghệ số để tạo diễn đàn rộng rãi, kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng, đề xuất của các nhóm đối tượng chịu sự tác động. Việc tăng cường sự tham gia của xã hội trong xây dựng pháp luật là yêu cầu mang tính chiến lược, không chỉ để nâng cao chất lượng thể chế mà còn là biện pháp phòng ngừa tham nhũng từ gốc, từ quá trình hình thành chính sách.

Một nội dung cấp thiết khác là kiểm tra và xử lý hậu kiểm đối với các văn bản do cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Hiện nay, pháp luật chưa quy định kiểm tra đối với các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, mà chỉ đặt ra yêu cầu giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, cơ chế giám sát hiện hành chủ yếu mang tính định kỳ, chưa đáp ứng yêu cầu kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các nội dung bất hợp pháp, bất hợp lý trong văn bản hành chính cấp cao. Do đó, cần sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng bổ sung thẩm quyền kiểm tra đối với văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm nguyên tắc pháp quyền, tính minh bạch và trách nhiệm chính trị, pháp lý của các chủ thể ban hành.

Đặc biệt, cần khắc phục tình trạng "miễn trách nhiệm" cho các chủ thể xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật sai phạm. Trong thời gian qua, đã có nhiều văn bản bị phát hiện là trái luật, gây hậu quả xã hội nghiêm trọng, làm phát sinh khiếu kiện, gây bất ổn trong thi hành nhưng chưa có cơ chế xác định và truy cứu trách nhiệm rõ ràng đối với cơ quan, cá nhân có liên quan. Do đó, việc thiết lập cơ chế xác định trách nhiệm pháp lý của cơ quan hành chính khi ban hành văn bản trái pháp luật là yêu cầu bắt buộc. Có thể nghiên cứu thành lập cơ quan hiến định độc lập - cơ quan bảo hiến để kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp và hợp lý của toàn bộ hệ thống văn bản, bao gồm cả văn bản hành chính. Đồng thời, cần quy định cụ thể về trách nhiệm hành chính, kỷ luật và thậm chí hình sự đối với người đứng đầu cơ quan soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản có lỗi trong việc để xảy ra vi phạm.

Thứ hai, trong hoạt động thực hiện pháp luật, cần xác lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc tổ chức thi hành của bộ máy hành chính theo hướng công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình rõ ràng. Trách nhiệm giải trình không chỉ là nội dung chính trị, đạo đức, mà phải được thể chế hóa thành nghĩa vụ pháp lý. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ công vụ đều phải chịu trách nhiệm giải trình về quyết định, hành vi của mình trước cơ quan có thẩm quyền, người dân và các tổ chức liên quan. Trách nhiệm này phải được xác lập không chỉ trên văn bản mà phải có cơ chế thực hiện hiệu quả, có chế tài xử lý cụ thể nếu không thực hiện hoặc thực hiện hình thức. Đây cũng là nội dung trọng tâm trong Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới, nhấn mạnh đến yêu cầu “nâng cao chất lượng trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực chặt chẽ hơn để phòng ngừa sai phạm”.

Cùng với đó, cơ chế kiểm soát tư pháp đối với hành vi hành chính cần được nâng cao hiệu quả, minh chứng rõ nét qua hoạt động tố tụng hành chính. Trong năm 2023, hệ thống Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý hơn 4.300 vụ án hành chính, trong đó tỷ lệ vụ án người khởi kiện thắng kiện là 28%, cho thấy tòa án đã bắt đầu phát huy vai trò bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, để tăng tính răn đe và kiểm soát thực chất hơn nữa, cần hoàn thiện cơ chế thi hành bản án hành chính, xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan không chấp hành bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật.

Thứ ba, về cơ chế trách nhiệm pháp lý của cơ quan hành chính nhà nước, hệ thống pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, pháp nhân chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu là pháp nhân thương mại, do đó cơ quan hành chính không thuộc đối tượng này. Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không đặt cơ quan hành chính là chủ thể bị xử phạt hành chính, mà chỉ xử lý trách nhiệm cá nhân có liên quan. Luật Cán bộ, công chức cũng chỉ quy định về kỷ luật đối với cá nhân cán bộ, công chức, không có chế tài đối với cơ quan chủ trì. Do đó, trong trường hợp sai phạm mang tính tập thể, không thể quy trách nhiệm rõ ràng thì sẽ làm suy yếu hiệu lực pháp luật, không đảm bảo công bằng giữa khu vực nhà nước và các chủ thể ngoài nhà nước.

Chính vì vậy, trong lộ trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật theo yêu cầu tại Kết luận số 126-KL/TW và Kết luận số 134-KL/TW, cần bổ sung quy định về cơ chế trách nhiệm tập thể của cơ quan hành chính nhà nước khi để xảy ra vi phạm trong quá trình thực thi công vụ, ban hành văn bản trái pháp luật hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho tổ chức, cá nhân. Cơ chế này có thể là trách nhiệm hành chính nội bộ (xử lý tập thể lãnh đạo), trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ ngân sách cơ quan, trách nhiệm giải trình trước cơ quan giám sát, Quốc hội, HĐND hoặc công khai xin lỗi nhân dân. Đây không chỉ là sự hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập pháp, mà còn là yêu cầu chính trị, pháp lý nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, phòng ngừa sai phạm, nâng cao đạo đức công vụ, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ.

Tóm lại, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước phải được thể chế hóa đồng bộ trong cả hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật. Đây là một phần cốt lõi trong chiến lược đổi mới tổ chức bộ máy theo tinh thần Kết luận số 126-KL/TW, 127-KL/TW, 134-KL/TW và Nghị quyết 66-NQ/TW, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu quả, thực sự phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.


[1] Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.

[2] Kết luận 127-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngày 28/2/2025 về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

[3] Kết luận số 134-KL/TW, ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

[4] UNDP Public Service Report, 2023