In trang này
Thứ sáu, 22 Tháng 10 2021 09:39

Một số mô hình kinh tế sử dụng bền vững vốn đa dạng sinh học ở khu vực dãy Trường Sơn hướng tới phát triển kinh tế xanh

Với một diện tích rộng lớn, trải dài trên 1.100 km, tạo thành xương sống của bán đảo Đông Dương (từ sông Cả Nghệ An đến giáp miền Đông Nam Bộ), dãy Trường Sơn vô cùng đa dạng về nhiều mặt: về mặt địa sinh thái, có thể gặp ở đây nhiều loại địa hình núi và cao nguyên, các dải sót bán bình nguyên, các triền núi ăn lan ra biển tạo thành các dải đồng bằng hẹp ven biển, các cồn cát ven bờ, chế độ khí hậu thời tiết thay đổi từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây và cả theo độ cao của địa hình. Đặc biệt, Trường Sơn là vùng cư trú của rất nhiều dân tộc thiểu số giàu bản sắc văn hóa. Tất cả những điều kiện đó tạo cơ sở cho sự hình thành nhiều mô hình kinh tế sử dụng hợp lý vốn đa dạng sinh học, thậm chícó những mô hình truyền thống bền vững nhiều đời do dựa trên nền tri thức bản địa phong phú và đa dạng[1], tạo đà cho sự nghiệp phát triển kinh tế xanh tại đây. Kinh tế xanh là lộ trình của phát triển kinh tế bền vững,do con người và vì con người, phát triển hài hòa đời sống xã hội với môi trường tự nhiên, đồng thời, góp phần giảm và phòng chống tác động của biến đổi khí hậu. Kinh tế xanh phải dựa trên việc tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, trong đó có vốn đa dạng sinh học[2]. Đa dạng sinh học là nền tảng của nền kinh tế xanh trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. Sử dụng hợp lý và bảo tồn vốn đa dạng sinh học là một trong các giải pháp then chốt nhằm xóa đói, giảm nghèo, thúc đẩy bình đẳng xã hội, thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

Hiện nay chúng ta đã có Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành từ năm 2012 theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 theo Quyết định số 403/QĐ-TTg. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng của tăng trưởng xanh. Những văn bản này được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn quý giá trong đó có những thực tiễn ở khu vực dãy Trường Sơn.

Dưới đây là một số mô hình cụ thể, chủ yếu thuộc loại quy mô nhỏ ở cấp địa phương:

Sâm Ngọc Linh - Kon Tum và Quảng Nam

Trước khi có sự phát hiện từ phía các nhà khoa học, sâm Ngọc Linh đã được dân tộc Xơ Đăng sử dụng như một loại củ rừng, mà họ gọi là củ ngải rọm con hay cây thuốc giấu, chữa nhiều loại bệnh theo các phương thuốc cổ truyền, mọc tập trung ở miền núi Ngọc Linh thuộc huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum và huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam. Ngoài Ngọc Linh, sâm còn phân bố tại núi Ngọc Lum Heo thuộc xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn và còn có thể có ở đỉnh Ngọc Am, tỉnh Quảng Nam. Theo những kết quả điều tra mới nhất từ tháng 01-1995, công việc nghiên cứu gieo trồng sâm Ngọc Linh được tiến hành một cách có hệ thống hơn tại Trại dược liệu Trà Linh. Những nỗ lực của Trại dược liệu đã giúp tăng số lượng hạt đậu trên cây, tỷ lệ nảy mầm của hạt cao đến 75% khi gieo trồng, tỷ lệ cây sống khi trồng đại trà lên tới 95%, cây nhân bản vô tính tỷ lệ sống và đâm chồi tới 65%, mọc khỏe, nhanh, ra hoa sớm và năng suất thân rễ và củ cao hơn so với cây mọc từ hạt.

Cà phê sạch ở huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum

Đắc Hà là huyện có diện tích cà phê lớn nhất tỉnh Kon Tum với trên 7.000 ha. Đắk Hà có đến 3 thương hiệu cà phê sạch, sản xuất, kinh doanh ở mô hình hợp tác xã, cung cấp ra thị trường loại cà phê bột nguyên chất và sạch, được tuyểnchọn từ những vườn cà phê robutta và arabica của vùng đất Tây Nguyên đầy nắng, gió.

Cà phê Đắk Hà được sản xuất theo tiêu chuẩn (Common Code for the Coffee Community) tạo ra sản phẩm cà phê có chất lượng cao, được nhiều người tiêu dùng đánh giá cao vì sự khác biệt rất riêng so với những sản phẩm ca phê khác. Hiệp hội 4C là tổ chức quốc tế thực hiện Bộ nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê, có trụ sở tại Bonn, Cộng hòa Liên bang Đức.

Trong khi người trồng cà phê nhiều nơi ở Tây Nguyên đang loay hoay với bài toán giá cả thì cà phê sạch của Đắk Hà có giá thành và đầu ra luôn ổn định với giá cao[3].

Quế Trà My ở tỉnh Quảng Nam

Trồng quế là sinh kế gắn liền với đời sống của người dân các huyện miền núi như Nam Trà My, Bắc Trà My và Tiên Phước của tỉnh Quảng Nam. Trải qua hàng trăm năm kinh nghiệm, các thầy thuốc Đông y cũng như các nhà khoa học đã khẳng định quế Trà My là loại quế có những tính năng vượt trội so với những loại quế ở vùng khác và được ví như “Cao sơn ngọc quê”. Tháng 10-2011, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Trà My” đối với sản phẩm quế Trà My (Quảng Nam). Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam, diện tích quê còn lại tập trung tại huyện Bắc Trà My chỉ khoảng trên 1.000 ha với số lượng 2,4 triệu cây; Nam Trà My khoảng1.500 ha, số lượng gần 3 triệu cây. Quế được trồng ở hầuhết các xã, thị trấn của vùng Trà My, nhưng chất lượng tốtnhất thì chỉ có ở Trà Giác, Trà Giáp (Bắc Trà My) và Trà Dơn, Trà Leng (Nam Trà My)[4].

Rong sụn nuôi trong lồng lưới ở thành phố CamRanh, tỉnh Khánh Hòa

Trồng rong sụn là nghề truyền thống của người Cam Ranh, Khánh Hòa. Trước đây người dân vẫn trống treo trên dây, năng suất thấp. Trồng rong trong lồng lưới là sáng kiến để giảm bớt sự thất thoát. Rong sụn nuôi trong lỏng khi rụng sẽ không bị trôi dạt. Khoảng 1 tấn rong giống ban đầu (trị giá hơn 7 triệu đồng) nếu theo phương pháp trồng treo dây đơn, sau 6 tháng, nếu thuận lợi sẽ cho thu hoạch khoảng 30 tấn rong tươi, tương đương với 4 tấn rong khô; còn khi trồng trong lồng lưới, sẽ thu hoạch hơn 50 tấn rong tươi (tương đương 7 tấn rong khô). Hiện với giá bán 17.000 đồng/kg, sau khi trừ đi chi phí, sản lượng rong khô áp dụng theo phương pháp mới sẽ mang lại lợi nhuận hàng trăm triệu đồng. Hơn nữa, nhờ được lồng lưới bảo vệ nên khoảng 2 tháng sau khi trồng, rong sụn sẽ nhanh chóng cho thu hoạch lứa đầu tiên.

Rong sụn phát triển tốt ở các vùng nước lưu chuyển thông thoáng và thường xuyên. Như vậy, để rong sụn trồng theo phương pháp lồng lưới sinh trưởng và phát triển tốt nhất, người nuôi cần chú ý đến các yếu tố như: nhiệt độ, độ mặn và độ lưu chuyển của nước[5].

Nuôi sá sùng ở xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh,tỉnh Khánh Hòa

Sá sùng là loài hải sản có giá trị, giá thành cao và thường được đánh bắt tự nhiên khiến nguồn lợi nhiều nơi đã suy giảm. Người dân thôn Tuần Lễ, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã có cách nuôi sá sùng trong địa nuôi tôm. Cử 1 ha đìa thu hoạch được 700 kg sá sùng. Năm 2010, thương lái thu mua tại bãi với giá là 160 ngàn đồng/kg tươi. tổng thu hơn 100 triệu đồng/1ha/vụ. Nuôi đơn canh chỉ riêng sá sùng thì không nuôi quá dày vì chúng phàm ăn, phải cho ăn thêm cá nhỏ băm vụn. Nếu nuôi sá sùng hỗn canh xen với tôm thì thả tôm với mật độ thưa hơn bình thường, sá sùng sẽ ăn chung thức ăn với tôm. Mỗi vụ sá sùng khoảng 2 - 3 tháng. Mỗi lần khai thác thường bắt khoảng 50% sá sùng trong đìa, còn lại chúng tiếp tục sinh sôi, tiếp tục khai thác các đợt sau.

Người dân xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa mấy năm gần đây bắt đầu cho sinh sản thành công sá sùng, mở ra triển vọng mới trong việc nuôi và phát triển loài thủy sản đem lại thu nhập cao này. So với nhiều loài thủy sản, sá sùng dễ nuôi, ít tốn chi phí lại cho giá trị kinh tế cao. Ông Gần xã Vạn Thọ cho biết, với 4.000 m ao, mỗi năm thu 1,3 tấn sá sùng. Như vậy, năng suất sá sùng có thể đạt 2,5 – 3 tấn/ha/năm.

Thương hiệu hồ tiêu Chư Sê - Gia Lai

Huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai có trên 3.000 ha hồ tiêu cho năng suất bình quân 6 tấn/ha/năm, chiếm 20% sản lượng hồ tiêu của cả nước, đứng đầu về năng suất, sản lượng cũng như chất lượng trong ngành hồ tiêu thế giới. Tiêu Chư Sê đã được xuất sang 73 quốc gia và vùng lãnh thổ, vượt qua các nước có nghề trồng tiêu lâu đời như Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia,...

Đặc tính sản phẩm tiêu Chư Sê là độ đen bóng đồng đều, hạt to đều và đẹp; hương thơm đặc trưng, cay nồng, dung trọng sản phẩm tiêu đen Chư Sê cao nhất cả nước. Hiện tại, Chư Sê đã chế biến được các loại sản phẩm đặc trưng như: tiêu đen, tiêu trắng, tiêu đỏ, tiêu hữu cơ và tiêu bột. Sản phẩm tiêu Chư Sê hiện đã được xuất khẩu sang những thị trường khó tính như EU và Mỹ; tạo việc làm, ổn định đời sống cho gần 10.000 hộ dân, trên 16.000 lao động trực tiếp sản xuất; thu ngoại tệ trên 60 triệu USD cho đất nước[6].

Hồ tiêu là một trong những cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, chiếm khoảng 50% giá trị sản xuất thu được của 3 loại cây trồng chủ lực trên địa bàn Chư Sê (cà phê, cao su, hồ tiêu), góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân của huyện Chư Sê trên 14%/năm. Đồng thời, đây cũng là loại cây trồng tạo thu nhập ổn định cho khoảng 55% số hộ nông dân trong đó 22% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số[7]

Nông nghiệp thích ứng với sa mạc hóa ở Ninh Thuận

Nhằm ứng phó với tình trạng sa mạc hóa đang ngày càng trầm trọng, những năm qua, tỉnh Ninh Thuận đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp thông qua việc hình thành nhiều vùng chuyên canh phục vụ công nghiệp chế biến sản phẩm đặc thù vùng khô hạn, như: táo, nho, dê, cừu. Cục Sở hữu tr tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp Giấy chứng nhận theo Quyết định số 61701/QĐ-SHTT ngày 5-11-2013 bảo hộ Nhãn hiệu hàng hóa tập thể đối với táo Ninh Thuận. Đây là loại cây trồng có khả năng chịu hạn tốt, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, là “cây làm giàu” của người dân địa phương. Riêng trong năm 2013, sản lượng táo thu hoạch đạt 26.681 tấn, trong đó nhiều hộ gia đình đã có mức thu nhập từ 500 - 600 triệu đồng/hécta/năm. Nông dân còn kết hợp trồng táo với chăn nuôi dê, cừu. Ngoài việc tận dụng lá và trái táo sâu bệnh làm thức ăn cho gia súc, phân dê cừu còn được sử dụng bón lại cho cây táo, nên năng suất đạt rất cao, trung bình từ 60 - 70 tấn/hécta/năm, cá biệt năng suất có thể lên đến trên 100 tấn/hécta/năm[8].

Ngay ven đô thành phố Phan Rang khô hạn vào bậc (phường Văn Hải), thôn Mỹ Tường (xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải), thôn Thái An Hải, huyện Ninh Hải) chuyên duy suốt mấy chục năm qua, chất lượng đồng nhất, gọi tên chung hành, tỏi Phan Rang.

Hành, tỏi Phan Rang củ khá các tép ra như cánh (thường là cánh), hấp dẫn từ hình hài, sắc đến vị. Hành, tỏi Rang phơi không cần lý bất thể lưu giữ trong thời gian tháng thu hoạch, thậm mà vẫn giữ hương vị đầu, không thối, óp. Đất trồng Thuận trên nền trầm của hô, loại đất giàu chất kali, magiê, sắt[9]... giống đất trồng hành, tỏi Lý do đó, Phan Rang trở thành nơi cấp giống truyền thông cho “Tỏi LýSơn” nổi tiếng.

Tôm hùm Vĩnh Hy - Ninh Thuận

Vĩnh Hy là một thôn của xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, Ninh Thuận, nằm lập Đông Bắc Vườn Núi Chúa. Vĩnh có dãy núi bao tạo nước rộng 100 ha, kín gió, sâu ổn định từ 5 thích để phát triển nghề nuôi trồng hải sản, tôm hùm. Từ những năm 90 thế kỷ XX, một số hộ đầu tư lồng bè nuôi tôm hùm và nhanh chóng phát thành “làng tôm hùm” Vĩnh Hy.

Thời điểm nghề nuôi tôm hùm phát triển nhất là trong ba năm, từ năm 1999 đến năm 2000, toàn thôn có đến 250 lồng nuôi tôm hùm. Theo điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển ngành thủy sản Ninh Thuận giai đoạn 2006-2010 và định hưởng đến năm 2020, khu vực đầm Vĩnh Hy chỉ có thể phát triển tối đa đến 200 lồng[10].

Kiến thức bản địa về dược liệu của người Raglai,tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận

Phan Lâm và Phan Sơn là hai xã dân tộc miền núi thuộc huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận chủ yếu là đồng bào Raglai, Cơ Ho. Đồng bào dân tộc thiểu số ở đây có nhiều kinh nghiệm sử dụng các loại cây cỏ hoang dại trong rừng để chữa bệnh. Có cả những loại cây chữa bệnh nan y (ung thư gan, ung thư máu, phong,...) đã khảo sát và thống kê khoảng 103 loại cây thuốc.

Tại Kà Lon, có một ngôi miếu được xây dựng để thờ một vị thầy thuốc cách đây khoảng 200 năm. Hằng năm, người dân tổ chức hai đợt cúng tế tại miếu, cả cộng đồng người Raglai và Cơ Họ cùng đóng góp lễ vật và đến miếu tham dự đầy đủ.

Tại làng Chăm Phước Nhơn, có 90% hộ làm nghề thuốc có truyền. Hơn 10 năm qua, Hội Y học cổ truyền Ninh Thuận đã tập hợp được 300 phương thuốc gia truyền của 210 hội viên. Hội đã tổ chức điều tra, thống kê trên 300 loài thực vật làm thuốc ở địa phương. Đặc biệt, Chi hội Y học cổ truyền xã Xuân Hải (huyện Ninh Hải) đã đúc kết được 136 bài thuốc gia truyền của bào dân Chăm, huyện Ninh Sơn đúc bài thuốc đồng bào Raglai[11].

Có những bài thuốc rất lạ. Ví dụ, bài thuốc chữa dập thương từ cây Zrao ù rạ (một loài cây rừng trông giống cây nghệ hoang dại) đàn ông hái và chế biến hiệu nghiệm. Bài thuốc từ cây Zrao dia pụi dùng để sức phụ nữ sau khi sinh phải hái từ một loài dây leo sét đánh cụt ngọn. Sản phụ chỉ cần nước sắc cây dia pụi thì giờ khi sinh đi nương được ngay.

Nuôi bò dưới tán rừng ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa và Đắk Lăk

Bác Ái là huyện núi tỉnh Thuận. Tổng đàn gia súc có sừng huyện Bác Ái 2013 trên 18.400 con, nghèo nàn. Đã từ xưa việc súc sừng rừng trở thành sinh đáo, đã huy thế xóa đói, giảm nâng cho người dân[12].

Ở xã Cư M'lan, huyện Súp, Đắk Lắk nay hình thành hình chăn nuôi bò thịt dưới tán rừng

Vài năm gần đây, một hiện tượng lai tự nhiên thú vị giữa bò tốt (có thể bắt đầu từ những con bò tót già tách đàn) với bộ nhà đã xảy ra tại vùng rừng giáp ranh Lâm Đông và Ninh Thuận. Trong khoảng giữa tháng 6-2011, một con bò tốt đực ở thôn Bạc Rây 2, xã Phước Bình, tỉnh Ninh Thuận đã sống chung với đàn bò nhà của ông Nguyễn Văn Chuẩn và kết quả là một con bê lại bò tót đã ra đời. Đến năm 2014, tại thôn đã ra đời 11 con bê con[13].

Ba tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng và Khánh Hoà sẽ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ về giống bò lai bò tót (F1, F2); tiến tục xây dựng dự án nhân rộng kết quả đề tài, tạo ra các ho lai F2 làm bò giống thương phẩm và thương mại hóa sản phẩm trên thị trường[14].

Nghề trồng mai vàng ở tỉnh Bình Định

Hiện nay ở xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định có 6 làng nghề trồng mai (mai vàng), trong đó nhiều nhất là làng Hảo Đức.

Từ năm 1995 nghề trồng mai bắt đầu phát triển với quy mô rộng lớn. Người dân chủ yếu trồng ở đất vườn, sau đó trồng ở một số thửa ruộng gần nhà. Mai được xem là nghề truyền thống, và là mũi nhọn kinh tế của xã Nhơn An. Mỗi dịp Tết người dân xã Nhơn An cung cấp cho thị trường mai Tết trong và ngoài tỉnh hàng chục ngàn chậu mai, tổng thu nhập từ mai lên đến cả chục tỷ đồng, một số tiền lớn đối với vùng quê nghèo.

Mai Bình Định được ưa chuộng vì ngoài sắc vàng rực còn có thể đẹp, đa dạng. Hiện ở Bình Định có tới vài chục giống mai: hồng mai, hoàng mai, bạch mai phân biệt theo màu hoa; cúc mai, hoàng tỉ, ngũ đài hoa... phân biệt theo cấu tạo hoa, theo số cánh hoa. Rồi còn mai thế (mai bonsai) với giá có thểlên đến trên dưới trăm triệu đồng mỗi chậu.

Người Bình Định vốn yêu thích thi ca và thượng võ, dường như tìm thấy cách thể hiện cốt cách của mình ở cây mai vàng. Nhìn vào “thể” mai, người ta cũng có thể biết được người trồng. Trồng mai cũng có “đạo trồng mai”, ngộ ra được “đạo trồng mai” phải là người có cơ duyên với cây mai. Mà người Bình Định quê hương của Tây Sơn Tam kiệt, của tuồng Đào Tấn và những thi phẩm của Hàn Mặc Tử - vốn từ xa xưa đã sẵn cái duyên đó.

Vùng rau và hoa sạch công nghệ cao Lâm Đồng

Ngay từ năm 1978, Đà Lạt đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu khoai tây - rau và hoa, Công ty Rừng hoa Đà Lạt, đây là hai trong số những “ngân hàng cây giống” của địa phương, góp phần quan trọng vào việc chuyển giao công nghệ, cung cấp nhiều giống mới, giống sạch có năng suất cao. Gần đây, Đà Lạt còn xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp tư nhân hoặc có vốn đầu tư nước ngoài như: Kim Bằng, Bio Organics, An Phu Lacue... với lợi thế công nghệ hiện đại, nguồn vốn lớn đã góp phần hình thành những trang trại trồng rau, hoa quy mô và hiện đại ở Đà Lạt. Hiện tại rau Đà Lạt được tiêu thụ ở hầu hết các địa phương trong cả nước, và phần lớn được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản,Đài Loan (Trung Quốc), Thái Lan, Xingapo, Malaixia... Rau Đà Lạt được sản xuất theo phương pháp rau an toàn và được công nhận tiêu chuẩn GAP. Cả tỉnh Lâm Đồng có khoảng 11 dự án do doanh nghiệp Nhật Bản sản xuất rau, hoa. Một số doanh nghiệp như Lacue International, Capital (Japan), Tổ chức Jica (Nhật Bản)… đã có những đóng góp nhất định trong việc phát triển ngành nông nghiệp của địa phương.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng và thành phố Đà Lạt đã có nhiều biện pháp hỗ trợ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cho người trồng hoa và rau gồm hỗ trợ sản xuất thử nghiệm, chuyển giao khoa học kỹ thuật, miễn thuế, giảm thuế, hỗ trợ vay vốn lãi suất thấp... đã thúc đẩy nông dân tham gia sản xuất theo hướng mới. Thành phố Đà Lạt còn quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung và xây dựng thành các vùng sản xuất rau, hoa ứng dụng công nghệ cao[15].

Du lịch sinh thái Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà tỉnh Lâm Đồng

Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà với đa dạng hệ sinh thái độc đáo rất thích hợp cho các loài sinh vật hoang dã. Bidoup nổi tiếng là một trong 63 khu vực thăm quan chim quan trọng của Việt Nam. Đỗ quyên Langbiang: là loài thực vật khá đặc trưng trong khu vực vườn quốc gia, hoa nhiều màu sắc như trắng, tím, cam như tô điểm thêm cho hương sắc rừng Bidoup. Tuyến du lịch sinh thái đỉnh Bidoup nằm trênchính xã Đanhim, cách thành phố Đà Lạt 40 km theo tuyến đường ĐT 723 (Đà Lạt - Nha Trang)[16].

Trong khuôn khổ dự án JICA BIDOUP NUI BA do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng đã được xây dựng. Từ đầu năm 2013, tính đến tháng 9-2014, lượng khách đến tham quan Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà đã đạt mức 10.000 người, trong đó có 60% là khách nội địa và 40% là khách quốc tế. Hiệu quả từ các hoạt động phát triển du lịch sinh thái góp phần đóng góp tích cực cho các hoạt động bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa trong Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà và vùng dân cư phụ cận[17].

Mô hình Đồng quản lý rừng của người Cơ Tu ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Đối với rừng đầu nguồn trong đó có cả rừng nguyên sinh, thì mô hình Đồng quản lý ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam là mô hình mới xuất hiện ở Việt Nam vài năm gần đây, và đang phát huy hiệu quả cao trong thực tiễn. Mô hình dựa trên sự tạo quyền tối đa cho cộng đồng, bảo đảm sinh kế rừng truyền thống của cộng đồng và phát huy thế mạnh của vốn tri thức bản địa của người Cơ Tu, huyện Tây Giang.

Vài nét về khu vực triển khai mô hình

Khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn sông A Vương, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam là nơi cư trú chủ yếu của dân tộc Cơ Tu. Địa hình núi non hiểm trở, độ cao từ 1.000 m đến 2500 m, phân cắt mạnh. Tuy nhiên, tại đây đã xuất hiện một mô hình Đồng quản lý rừng rất hiệu quả, mô hình bao phủ gần toàn bộ diện tích phần phía Tây của huyện Tây Giang, dọc theo đường biên giới Việt - Lào. Phía Việt Nam là thượng nguồn sông A Vương, phía Lào là thượng nguồn sống Se Kong - một dòng nhánh của sông Mê Kông.

Khu vực rừng phòng hộ có diện tích khoảng 450 ha với trên 1.200 cây pơ mu cổ thụ, độ tuổi khoảng 300 đến trên 1.000, nằm, tọa lạc trên đỉnh Trường Sơn ở độ cao trên dưới 1.500 mét tại khu vực núi Zỉ liêng thuộc hai xã A Xan và Tr'Hy (Tây Giang). Thảm rừng pơ mu thuần chủng được mệnh danh là “Vương quốc" pơ mu, pơ mu (Fokienia) là một chi trong họ Hoàng đàn, là một loại gỗ quý, có mùi thơm đặc trưng, vân gỗ đẹp không bị mối mọt. Nó là loài nguy cấp tại Việt Nam và được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam năm 1996. Cây pơ mu theo tiếng Cơ Tu là Hynghee, có nghĩa là cây thiêng.

Rừng đầu nguồn Tây Giang là một hệ sinh thái đa dạng loài rất cao. Ngoài pơ mu còn những loài cây rất đặc biệt. Đó là những cây tavak (họ hàng với cây cọ), cây tadin vẫn được khai thác nước nhựa cây làm rượu, là cây bòn bon (lansium domesticum), trái rất ngon có vị vừa giống như măng cụt lại giống như dấu da rừng, ngày trước là sản vật tiến Vua của xứ Quảng (được khắc trên cửu đỉnh ở Huế).

“Cơ Tu” trong tiếng dân tộc Cơ Tu có nghĩa là “Con người ở đầu suối, ngọn sông”. Sinh kế chủ yếu của người Cơ Tu là nương rẫy, nghề rừng (khai thác các sản phẩm gỗ và phi gỗ), dệt thổ cẩm, điêu khắc gỗ mỹ nghệ, trồng và chế biến tam thất. Văn hóa Cơ Tu là văn hóa đồng rừng có nhiều nét độc đáo khác với văn hóa các dân tộc khác cùng chung sống trên đỉnh Trường Sơn. Nhìn chung các di sản văn hóa Cơ Tu đều liên quan rất nhiều đến sinh kế rừng.

Tri thức bản địa và sinh kế truyền thống của người Cơ Tu về rừng là cơ sở của mô hình Đồng quản lý

Năm 2010, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) nhấn mạnh rằng Indigenous Knowledge (IK) là một hệ thống tri thức, thường được gọi là tri thức bản địa hay tri thức truyền thống, là loại di sản “không thể hiểu thấu” (intangible) của nhân loại trên toàn cầu. Tri thức bản địa bao gồm các hiểu biết, kỹ năng và cả triết lý quyết định giao diện giữa hệ sinh thái và hệ xã hội, cũng như quyết định sự tương thích giữa thiên nhiên và văn hóa. Tri thức bản địa là loại tri thức địa phương - là duy nhất trong một nền văn hóa hay một cộng đồng nhất định[18].

Theo truyền thống của người Cơ Tu, những cây to trong rừng, hoặc là chỗ trú ngụ của thần linh hoặc là nơi linh hồn của người chết trú ẩn. Quan niệm này rất gần gũi với tín ngưỡng thờ cây của người Việt ở Bắc Bộ, thân cây bảo vệ dân làng khỏi thú dữ, bệnh tật, giữ nước, giữ đất và cung cấp các sản phẩm từ rừng cho cuộc sống của người dân. Việc chặt cây làm nhà phải có sự đồng ý của bản làng, phải làm lễ cúng để xin chặt cây. Người làng khác cũng không được xâm phạm phần đất, phần rừng của nhau.

Cây pơ mu được người Cơ Tu xem như người thân trong gia đình, là một loài gỗ quý linh thiêng nên từ xưa đến nay khi chọn đất lập làng, người Cơ Tu luôn tin rằng ở đâu có rừng, có sông, suối, ở đó làng mới tồn tại và phát triển. Rừng luôn được xem như vị thần linh, ân nhân vĩ đại, linh thiêng của làng, nếu xâm hại rừng rừng sẽ làm dân làng ốm đau, không sinh con đẻ cái được, bùng phát dịch bệnh, thiên tai lũ lụt,... Người xâm hại rừng sẽ bị làng phạt và thậm chí bị đuổi khỏi làng. Từ xa xưa việc làm nương rẫy của người Cơ Tu luôn được các già làng họp bàn kỹ lưỡng và khi chấp hành tốt các yêu cầu của già làng họ mới được phát rẫy. Khu vực phát rẫy thường là đất rừng không non quá, không già quá, cấm tuyệt đối phát rẫy nơi khu rừng có nghĩa địa, rừng thiêng (khu rừng có nhiều gỗ quý), rừng đầu nguồn... Khi làm nhà ở, làm nhà gươi của làng (nhà làng, có chức năng giống nhà Rông của nhiều dân tộc Tây Nguyên) việc chọn cây, việc cúng thần cây luôn được già làng bàn kỹ, chặt cây nào, ở đâu, để không gây hại đến cây con. Nếu già làng không đồng ý thì không được chặt. Việc khai thác các sản phẩm rừng theo truyền thống Cơ Tu từngàn xưa đến giờ chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng địa phương, không sản xuất hàng hóa để thương mại hóa sản phẩm. Vì thế mà bao đời nay rừng không bị cạn kiệt. Hiện nay ở Tây Giang, chỉ có thổ cẩm và tam thất (được thâm canh từ các vườn rừng) là những mặt hàng được bán ít nhiều ra ngoài huyện[19].

Nhờ tuân thủ nghiêm ngặt quy định này, rừng đầu nguồn Tây Giang vẫn được bảo vệ từ ngàn đời nay dù rằng sinh kế truyền thống của người Cơ Tu chủ yếu là dựa vào rừng.

Mô hình Đồng quản lý rừng Tây Giang

Để bảo vệ rừng pơ mu nguyên sinh, từ nhiều năm trước, huyện Tây Giang đã thành lập đội quản lý với gần 30 thành viên, chủ yếu là thanh niên trai tráng để canh giữ không cho người ngoài vào rừng. Cây pơ mu được đánh số, gắn chíp định vị để tiện theo dõi. Hằng năm, huyện cấp kinh phí để phục vụ việc bảo vệ cánh rừng pơ mu nguyên sinh được cho là quý hiếm nhất miền Trung - Tây Nguyên. Cả chính quyền huyện và cơ quan ban ngành địa phương, chính quyền các xã và dân làng các thôn đều chung một mục tiêu bảo vệ bằng được cánh rừng pơ mu để gìn giữ cho thế hệ con cháu. Bởi. còn rừng nghĩa là một phần hồn cốt văn hóa truyền thống Cơ Tu sẽ còn.

Người dân muốn khai thác sản phẩm rừng (cả gỗ và phi gỗ) cho những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, kể cả xin gỗlàm nhà, phải xin phép chính quyền và phải được gia làng đồng ý sau khi xem xét thảo luận kỹ lưỡng. Những vi phạm đều bị xử phạt rất nặng. Mô hình Đồng quản lý rừng Tây Giang có những đặc điểm sau đây:

Mặc dù vấn đề bảo vệ rừng đầu nguồn vẫn tuân theo. quy định của pháp luật, nhưng cộng đồng địa phương được tạo quyền rất lớn. Văn hóa rừng (tri thức bản địa) được tôn trọng và áp dụng tối đa trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng, trong đó, vai trò của già làng được đề cao. Hoạt động của đội bảo vệ rừng cộng đồng luôn được sử chỉ đạo của chính quyền các cấp, kể cả được đầu tư kinh phí và xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý (đánh số cây, gắn chíp vào các cây quý, làm đường tuần tra,...). nhưng mô hình Đồng quản lý đã bảo đảm tôn trọng vị thế, chủ quyền của cộng đồng địa phương đối với những cánh rừng truyền thống của họ. ng t

Bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn nhưng không hạn chế sinh kế truyền thống lâu đời của cộng đồng. Các nguồn lợi rừng vẫn được cung ứng cho cuộc sống của người dân khiến cho người dân cảm thấy rõ ràng việc bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chính mình. Không hề cách ly người dân với nguồn lợi rừng vì nếu tách người dân khỏi nguồn lợi rừng sẽ tạo cơ hội làm cho người dân thành lâm tặc.

Không khai thác cạn kiệt rừng hay chuyển đổi rừng thiêng sang canh tác cây công nghiệp hay phát triển công nghiệp địa phương. Tây Giang đã xác định phát triển du lịch. trong đó du lịch sinh thái, du lịch trên cơ sở cộng đồng, du lịch di sản,... là thế mạnh và hướng đi chính của miền núicao Tây Giang. Thế mạnh này khai thác được vốn di sản văn hóa và sinh thái giàu tiềm năng của vùng đất này trong khi môi trường vẫn được bảo vệ.

Mô hình Tây Giang khác với các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ rừng ở nhiều nơi khác chính là ở chỗ nó thừa kế và phát huy phong tục bảo vệ rừng cả ngàn năm qua của cả một cộng đồng dân tộc. Nó khẳng định quyền sở hữu và quyền sử dụng tài nguyên rừng của cả cộng đồng, qua đó góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống gắn kết và nảy sinh từ rừng của cả một dân tộc cũng như góp phần bảo đảm an ninh sinh kế địa phương. Những mục tiêu rộng lớn này không có một mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ rừng nào (đã có) so sánh được. Đây là những nét đặc sắc nhất của mô hình Đổng quản lý rừng pơ mu Tây Giang.

Như vậy, có thể thấy một số mô hình kể trên đều có những đặc điểm chung như: (i) Quy mô nhỏ, do người dân tự làm hoặc chủ động tham gia làm với sự hỗ trợ của chính quyền, doanh nghiệp trong hoặc ngoài nước; (ii) Góp phần xóa đói, giảm nghèo và đóng góp vào kinh tế địa phương và bình đẳng xã hội; (iii) Góp phần bảo vệ môi trường, bảo tổn, sử dụng hợp lý, phát huy giá trị tài nguyên đa dạng sinh học; (iv) Hạn chế tối đa hoặc không phát xả khí nhà kính góp phần chống biến đổi khí hậu; (v) Áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ phù hợp. Đó cũng chính là những tiêu chí của tăng trưởng xanh.

Khu vực Trường Sơn với tính đa dạng sinh thái và văn hóa cao, là vùng đất đang tồn tại và phát triển nhiều loại mô hình phát triển xanh hoặc mô hình hướng tới phát triển xanh cần được tiếp tục nghiên cứu và nhân rộng.

 


[1]Nguyễn Ngọc Sinh và nnk: Bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn, Nxb. Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội, 2015

[2]Huỳnh Minh: Hướng tới một nền kinh tế xanh: Cơ thức cho Việt Nam, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet nam-tren-duong-doi-moi/2012/16399/Huong-toi-mot-nen-Kinh-te Xanh-Co-hoi-va-thach-thuc aspxm, 2015

[3]Nhật Trường: Cà phê sạch ở Kon Tum, http://kinhtevadubao vn/chi-tiet/190-4513-ca-phe-sach-o-kon-tum.html.

[4]Hương quế Trà My, http://ipaquangnam.gov.vn/vie/tieu-diem chi-tiet/huong-que-tra-my.html

[5] Phung The Trung: Trồng rong sụn trong lồng lưới tại Cam Ranh- Khánh Hòa, Đại học Nha Trang, http://ntu.edu.vn/khoanuoi/ViewTin.aspx?idcd+347&idenews=3875

[6]Thương hiệu hỗ tiêu Chư Sê - Gia Lai, http://agro.gov.vn/news tID17131_Thuong-hieu-ho-tieu-Chu-Se.htm.rohleatbine notree

[7]Xem www.tinhuygialai.org.vn/kinh-te/ho-tieu., ngày 01 2016

[8]Thu Anh: Ninh Phước (Ninh Thuận): Đưa cây táo trở thành đi trồng chủ lực, Báo Công Thương, http://baocongthuong. com.vn/ninh phuoc-ninh-thuan-dua-cay-tao-tro-thanh-cay-trong-chu-luchtml

[9]Nguyễn Hưng: Phan Rang, http://www. nongnghiep.vn/ nongnghiepvn/vi-vn/25/318/Khuyen-nong/Toi-Phan-Ranghtml

[10]Nghề nuôi tôm hùm ở Ninh Thuận, http://www, baomoi.com Nghe-nuoi-tom-hum-o-Ninh-Thuan/45/4338308.epi

[11]Nguyễn Thị Thanh Vân: Bước tìm hiểu cây thuốc của đồng dân tộc thiểu ở Việt Nam. Trong cuốn Nam dân Nxb. Khoa học Hà Nội, 2005, tr.165–190

[12]Bạch Thương: Phát triển lợi thế chăn nuôi gia súc ở Bác Ái, http://baoninhthuan.com.vn.diendan/52725p25c151/phat-trien-loi-the-chan-nuoi-gia-suc-o-bac-ai.html

[13]Thi Hoàng: Thú vị chuyên bò tót - bò nhà, http://nongnghiep. vn/nongnghiepvn/vi-vn/25/118951/Ky-thuat-nghe-nong/Thu-vi chuyen- bo-tot-bo-nha.html

[14]Xuân Bình: Bò tốt lại Ninh Thuận, http://www. baoninhthuan com.vn/news/54642p25c151/bo-tot-lai-ninh-thuan.htm

[15]Sơn Nghĩa: Đà Lạt - “vương quốc” rau và hoa http://vietnam. vnanet.vn/vietnamese/da-lat-vuong-quoc-rau-va-hoa/223901.html

[16]Nguyễn Lương Minh: Trải nghiệm Du lịch sinh thái tại rừng Bi doup, http://bidoupnuiba.gov.vn/vi/hoat-dong-menu/60-du-lich sinh-thai/190-trai-nghiem-du-lich-sinh-thai-tai-rung-bidoup.html

[17]Lê Văn Hương - Nguyễn Lương Minh: Du lịch sinh thái VG Bidoup - Núi Bà, http://bidoupnuiba.gov.vn/tintuc-menu/407-du-lich sinh-thai-vn-quoc-gia-bidoup-nui-ba.html

[18]Nakashima, Douglas (ed.): Indigenous Knowledge in Global Policies and Practice for Education, Science and Culture UNESCO: Paris, 2010

[19]Pøloong Plênh: Quảng Nam: Độc đáo “Văn hóa kiêng cử, giữ rừng" của người Cơ Tu ở Tây Giang, http://mientrung, vanhien.vn quang-nam-doc-dao-van-hoa-kieng-cu-giu-rung-cua-nguoi-co-tu-o tay-giang.html#sthash fufvaC13.LsBOCFA7.dpuf