In trang này
Thứ hai, 15 Tháng 8 2022 21:22

Khái quát chung về đấu giá tài sản công

1. Khái niệm đấu giá tài sản công

Trên thế giới, đấu giá tài sản công đã xuất hiện từ rất sớm ở Hy Lạp cổ đại. Những cuộc đấu giá này được tổ chức bởi các quan chức công để bán quyền cho các khoản vay chưa trả, đất công và các hàng hóa công cộng khác; hàng hóa bị tịch thu từ kẻ thù bị chinh phục, hàng hóa bị tịch thu từ những người nợ thuế Chính phủ, nhữngngười lạm dụng hoặc chiếm dụng tài sản công và hàng hóa từ những người lưu vong và người bị kết án. Tù nhân chiến tranh cũng bị bán làm nô lệ thông qua đấu giá công khai. Ở Hy Lạp cổ đại, đấu giá cũng được sử dụng như một cách để thu ngân sách cho nhà nước, đáp ứng các khoản chi thường xuyên. Nó cũng hữu ích như một cơ chế để nhà nước thu thuế. Ngày nay, đấu giá tài sản công vẫn là một trong cách thức để nhà nước xử lý hiệu quả đối với tài sản quốc gia. Theo Vijay Krishna, có lẽ điều quan trọng nhất là đấu giá đã được sử dụng để tạo thuận lợi cho việc chuyển tài sản công đến tay tư nhân - một hiện tượng trên toàn thế giới trong mấy thập kỷ qua. Chúng bao gồm việc bán các doanh nghiệp công nghiệp ở Đông Âu và Liên Xô cũ, các hệ thống giao thông ở Anh và bán đảo Scandinavia. Quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bất động sản, quyền khai thác dầu ngoài khơi đã được bán bởi phương thức đấu   giá. Trong thời kỳ hiện đại, đấu giá quyền sử dụng điện phổ từ cho truyền thông cũng là một hiện tượng trên toàn thế giới[1].

Dưới góc độ kinh tế, trong tác phẩm “Introduction to Combinatorial Auctions”, P. Cramton, Y. Shoham và R. Steinberg đã tiếp cận khái niệm đấu giá dưới góc độ lý thuyết kinh tế, theo đó, đấu giá được hiểu “là phương pháp xác định giá trị của một hàng hoá có mức giá không thể xác định hoặc biến đổi quá nhiều. Thông qua đấu giá, người mua người bán có thể mua và bán được hàng hoá gần đúng với giá trị của hàng hoá đó”[2]. Vijay Krishna cũng cho rằng, đấu giá được sử dụng vì người bán không chắc chắn về các giá trị mà những người tham gia đấu giá gắn vào đối tượng được bán, số tiền tối đa mỗi đối tượng người tham gia đấu giá sẵn sàng trả. Nếu người bán biết chính xác các giá trị, anh ta có thể cung cấp đối tượng cho nhà thầu có giá trị cao nhất tại hoặc ngay dưới mức người tham gia đấu giá này sẵn sàng trả tiền. Sự không chắc chắn về các giá trị mà cả người bán và người mua phải đối mặt là một tính năng vốn có của đấu giá[3]. Vijay Krishna đã đưa ra một ví dụ điển hình là việc bán một dải đất với một lượng dầu không xác định dưới lòng đất. Các nhà thầu có thể có ước tính khác nhau về lượng dầu, có lẽ dựa trên các thử nghiệm được tiến hành tư nhân, nhưng giá trị cuối cùng của đất được lấy từ doanh số tương lai của dầu, vì vậy giá trị này là gần đúng, giống nhau cho tất cả các nhà thầu[4].

Hai tác giả Flavio M. Menezes và Paulo K. Monteiro cũng đưa ra một tình huống để xem xét, trong đó giá trị của đối tượng được đấu giá là giống nhau cho tất cả người chơi nhưng giá trị này không được biết tại thời điểm đấu giá diễn ra. Một ví dụ điển hình là đấu giá quyền thăm dò một số tài nguyên thiên nhiên. Lượng dầu có sẵn trong một khu vực cụ thể là cố định nhưng nó chỉ thực sự được biết đến sau cuộc đấu giá và khi người thắng trong cuộc đấu giá bắt đầu khoan. Flavio M. Menezes và Paulo K. Monteiro cho rằng, hầu hết các cuộc đấu giá sẽ có một thànhphần giá trị chung liên quan đến đối tượng được bán. Ví dụ, trong một cuộc đấu giá nhà, giá trị chung thành phần có thể là giá trị thị trường dự kiến của ngôi nhà.

Ở góc độ nghiên cứu trên, đấu giá tài sản nói chung và đấu giá tài sản công nói riêng được xem là một phương pháp xác định giá trị của tài sản và hướng đến giá trị tăng thêm của tài sản thông qua đấu giá. Ngoài ra, hai tác giá Flavio M. Menezes và Paulo K. Monteiro đã định nghĩa một cuộc đấu giá như một thị trường để đánh đồng cung cầu. Nó khác với cơ chế thị trường khác như bán hàng giá cố định (như trong siêu thị) hoặc thương lượng (như trong thương lượng bán nhà hoặc xe đã qua sử dụng). Trong cơ chế thị trường phân bổ nguồn lực khan hiếm, một đặc điểm của đấu giá là quá trình hình thành giá là rõ ràng. Đó là, các quy tắc xác định giá cuối cùng thường được hiểu rõ bởi tất cả các bên liên quan.

Khi nghiên cứu chính sách ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi và vấn đề đất đai ở Việt Nam hiện nay, Martin Ravallion và Dominique van de Walle đã cho rằng: “Chính sách chuẩn mực để thực hiện chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường trước tiên là phải tư nhân hóa các tư liệu sản xuất, và sau đó là thay đổi pháp luật nhằm cho phép giao dịch tự do các loại hình tài sản đó”[5]. Trong những năm 1980, 1990, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành tư nhân hóa một số tài sản công. Tư nhân hóa là một trong những cách để đưa của cải công khỏi tầm tay của các chính trị gia, nhưng nó cũng tạo ra cạm bẫy. Bản thân quá trình tư nhân hóa tạo cơ hội cho người ta làm giàu nhanh chóng, do đó có thể xuất hiện chủ nghĩa tư bản tư hữu, tham nhũng[6]. Do vậy, mỗi quốc gia cần xây dựng một cơ chế quản lý, khai thác tài sản công khoa học, chặt chẽ, đảm bảo sử dụng tài sản công tiết kiệm, hiệu quả, phát huy nguồn lực tài sản, hạn chế tình trạng lãng phí, thất thoát tài sản công. Và đấu giá tài sản công được xem là một trong những cách thức xử lý tài sản công công khai, minh bạch, hiệu quả được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn.

Dưới khía cạnh pháp lý, đấu giá tài sản công là một hình thức xử lý, mua bán tài sản công. Nhà nước giao tài sản công cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, khai thác, sử dụng. Những tài sản công thanh lý, tài sản công mà nhà nước không còn nhu cầu sử dụng, tài sản công mà nhà nước sử dụng chưa hết công suất, tài sản công mà nhà nước thấy cần chuyển giao cho những chủ thể khác nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực tài chính của tài sản công, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng, v.v.. sẽ được xử lý thông qua đấu giá. Việc đấu giá tài sản công thông qua các tổ chức đấu giá tài sản nhằm đưa tài sản công cho bên thứ ba trung gian thực hiện việc xử lý tài sản, đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch, hạn chế tình trạng lãng phí, thất thoát tài sản công, tăng thu cho ngân sách nhà nước. Tổ chức đấu giá tài sản thực hiện việc đấu giá tài sản công theo trình tự do pháp luật quy định. Các thủ tục cần thực hiện để đấu giá tài sản công bao gồm:

Thứ nhất, thực hiện các hoạt động trước khi tiến hành đấu giá tài sản công, như: xử lý, xác định giá khởi điểm/giá bảo lưu để đưa tài sản công ra đấu giá, lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản để tiến hành đấu giá;

Thứ hai, thực hiện các hoạt động tổ chức đấu giá tài sản công, như:ký kết hợp đồng để thực hiện việc đấu giá tài sản công, xây dựng Quy chế cuộc đấu giá, niêm yết, thông báo công khai việc đấu giá tài sản công, tổ chức cho xem tài sản đấu giá, tổ chức đăng ký tham gia đấu giá, tổ chức cuộc đấu giá tài sản công;

Thứ ba, thực hiện các hoạt động sau cuộc đấu giá tài sản công, như: thực hiện hợp đồng mua bán tài sản công, thanh toán tiền, giao tài sản, chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản công.

Là hình thức mua bán tài sản rất đặc thù, chủ thể có thẩm quyền quyết định đưa tài sản công ra đấu giá, chủ thể có thẩm quyền định giá tài sản công, người có tài sản đấu giá là tài sản công (bên bán) không hoàn toàn là chủ sở hữu tài sản công mà là người có quyền bán tài sản theo quy định của pháp luật. Tổ chức đấu giá tài sản thực hiện việc bán đấu giá tài sản công theo chức năng, thẩm quyền được pháp luật cho phép, nhưng lại không phải là người có quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản mà mình bán. Do vậy, để bảo toàn và làm gia tăng giá trị của tài sản công, hạn chế việc thất thoát, trục lợi trong quá trình xử lý tài sản công, pháp luật cần có quy định chặt chẽ về việc xử lý tài sản công trước khi đưa ra đấu giá và trình tự, thủ tục thực hiện việc đấu giá tài sản công. Và chỉ được thực hiện việc đấu giá tài sản công sau khi người có thẩm quyền đã ban hành quyết định đưa tài sản công ra đấu giá, đã hoàn thành xong việc định giá tài sản phù hợp với quy định của pháp luật. Việc đấu giá tài sản công phải thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng, khách quan, tuân theo quy luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu của nền kinh tế thị trường.

Đấu giá là một cách thức khách quan để đánh giá giá trị của tài sản thông qua đánh giá của thị trường dựa trên các quy luật giá trị, canh tranh, cung - cầu. “Đấu giá là mô hình thị trường trong đó các sản phẩm, dịch vụ hoặc quyền được mua và bán thông qua một quy trình đấu giá chính thức”[7]. Người thực hiện việc đấu giá (tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên) thực hiện việc bán tài sản không thuộc sở hữu của mình để hưởng thù lao. Giá bán tài sản càng tăng thì mức thù lao được hưởng sẽ càng nhiều. Để bảo toàn giá trị tài sản đồng thời hướng tới giá trị tăng thêm của tài sản, người thực hiện việc đấu giá phải đảm bảo các thủ tục luật định nhằm công khai thông tin rộng rãi, qua đó thu hút được nhiều người quan tâm tham gia đấu giá, tổ chức cho họ cạnh tranh trả giá vào cùng một thời điểm, địa điểm (ngoại trừ đấu giá trực tuyến). Và càng thu hút được nhiều người quan tâm tham gia đấu giá, tham gia cạnh tranh mua thì tài sản càng có cơ hội được bán với giá cao nhất. Một phiên đấu giá cạnh tranh đơn giản với N người đặt giá +1 sẽ mang lại cho người bán doanh thu dự kiến cao hơn những gì họ có thể mong đợi bằng cách khai thác triệt để vị thế bán hàng độc quyền của mình so với N người tham gia. Người bán, cho dù họ là ban giám đốc của các công ty tư nhân, hay Chính phủ muốn tư nhân hóa các công ty thuộc khu vực công thì nên tập trung vào việc thu hút số lượng người đấu giá tiềm năng cho tài sản của họ, và nói chung họ nên từ chối mặc cả với những nhà thầu muốn trả trước[8]. Người chiến thắng trong cuộc cạnh tranh về giá - người trả giá cao nhất hợp lệ sẽ là người được quyền mua tài sản đấu giá. Tuynhiên, người thực hiện việc đấu giá cũng phải đảm bảo để giữa những người tham gia đấu giá không có sự liên kết với nhau, bởi khi có sự liên kết giữa các bên trong đấu giá tài sản, tính cạnh tranh sẽ bị triệt tiêu và tài sản hầu như chỉ bán được với giá khởi điểm ban đầu. Trên cơ sở giao kết hợp đồng thông qua đấu giá, người mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền và nhận tài sản. Người bán nhận tiền bán tài sản và chuyển giao tài sản, quyền sở hữu, sử dụng tài sản cho người mua. Tổ chức đấu giá trung gian hưởng thù lao đấu giá.

Như vậy, có thể hiểu: Đấu giá tài sản công là hình thức mua bán tài sản côngđặc biệt qua tổ chức đấu giá trung gian, được tổ chức công khai theo những nguyên tắc, trình tự và thủ tục luật định nhằm thu hút nhiều người tham gia cạnh tranh trả giá. Người trả giá cao nhất và không thấp hơn giá do người có tài sản đấu giá đã định ra là người trúng đấu giá tài sản công.

2. Bản chất của đấu giá tài sản công

Có thể thấy, ĐGTS nói chung và đấu giá tài sản công nói riêng là quan hệ dân sự về mua bán tài sản thông qua hình thức đấu giá. Người có tài sản đấu giá không tự mình bán tài sản mà việc bán tài sản sẽ do những chủ thể đủ điều kiện (tổ chức đấu giá tài sản/đấu giá viên) thực hiện theo một trình tự, thủ tục pháp luật quy định, mang tính công khai, minh bạch. Người bán đấu giá tài sản sẽ thực hiện việc giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá với người trúng đấu giá. Theo tác giả Nguyễn Thị Minh, “Hoạt động bán đấu giá tài sản được diễn ra theo ý chí của chủ sở hữu và người được chủ sở hữu ủy quyền yêu cầu tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản thực hiện việc bán đấu giá”[9].

Trong tác phẩm “Auction theory”, Vijay Krishna đã phân tích bản thân từ “đấu giá” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “augere” có nghĩa là “tăng lên” (hoặc “tăng thêm”), thông qua phân từ auctus (“đang tăng”)[10]. Và “Thông qua hình thức bán đấu giá tài sản, quyền lợi của người có tài sản được thỏa mãn một cách tốt nhất, còn người mua sẽ mua được tài sản với giá cả phù hợp, các quyền lợi của người mua liên quan đến tài sản đã mua được đáp ứng một cách nhanh chóng”[11]. Như vậy, trong đấu giá tài sản nói chung và tài sản công nói riêng, người có tài sản đấu giá, ngoài mong muốn bảo toàn giá trị tài sản thì còn hướng tới giá trị tăng thêm của tài sản thông qua sự cạnh tranh giữa những người tham gia đấu giá.

Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định nguyên tắc công khai, minh bạch, cạnh tranh trong đấu giá tài sản nói chung và đấu giá tài sản công nói riêng. Tổ chức đấu giá trung gian phải công khai thông tin về việc đấu giá tài sản công đến rộng rãi những người quan tâm theo thủ tục pháp luật quy định để mời họ mời tham gia đấu giá; tổ chức cuộc đấu giá cho những người tham gia đấu giá cạnh tranh nhau về giá để tìm ra người trả giá cao nhất mua tài sản. Theo “Giáo trình Kỹ năng bán đấu giá tài sảncủa Họcviện Tư pháp năm 2014, “bản chất của bán đấu giá tài sản là quan hệ dân sự về mua bán tài sản thông qua hình thức đấu giá nhằm bán được tài sản với giá cao nhất”[12]. Tác giả Vũ Văn Cương trong bài viết: “Pháp luật về đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại ở Việt Nam” cũng cho rằng “Bản chất của hoạt động đấu giá là một quan hệ mua bán mà trong đó người bán chỉ có một mà người mua lại rất nhiều”[13]. Và tương tự như vậy, đấu giá tài sản công là một phương thức giao kết hợp đồng với mục tiêu tối ưu hóa giá trị tài sản bán. Tuy nhiên, ngoài mục tiêu doanh thu như trong đấu giá các loại tài sản khác (tài sản tư, tài sản cộng đồng), đấu giá tài sản công còn là phương thức để nhà nước thực hiện các chính sách công, các mục tiêu xã hội, để nhà nước có thể lựa chọn các chủ thể phù hợp nhất để trao quyền khai thác tài sản công một cách hiệu quả.

3. Ý nghĩa của đấu giá tài sản công

Đấu giá là phương thức xử lý tài sản công được hầu hết các quốc gia trên thế giới lựa chọn áp dụng. Việc đấu giá tài sản công có ý nghĩa:

-              Đấu giá là phương thức khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công một cách hiệu quả. “Hầu hết tất cả các cuộc đấu giá đều tập trung vào việc tối đa hóa doanh thu của người bán”[14]. Nó là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua và người bán gặp nhau và quan hệ mua bán diễn ra nhanh chóng, với thời gian và địa điểm xác định thông qua cạnh tranh, công bằng, minh bạch. Nó giúp cho việc đưa tài sản đến người mua tiềm năng hiểu đúng giá trị, mục đích sử dụng của tài sản. Người có tài sản đấu giá thu về lợi ích nhiều khi còn lớn hơn nhiều so với giá trị thực của tài sản. “Đối với việc bán quyền và tài sản của Chính phủ, hiệu quả có nghĩa là tạo ra thu nhập và của cải tối đa cho nền kinh tế”. Việc đấu giá tài sản công được thực hiện theo nguyên tắc đấu giá công khai, minh bạch, công bằng, khách quan. Tài sản công được định giá theo nguyên tắc sát với giá thị trường. Khi tài sản công được bán theo hình thức đấu giá công khai sẽ có cơ hội thu hút nhiều nhiều tham gia đấu giá mua tài sản, từ đó đảm bảo tài sản côngđược bán tuân theo quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu. Tổng hợp các yếu tố trên đảm bảo cho việc tối đa hóa giá trị tài sản, đảm bảo tài sản công được bán với giá cao nhất, đem lại nguồn thu lớn hơn cho ngân sách nhà nước.

-             Thông qua việc đấu giá tài sản công, nhà nước sẽ lựa chọn được những chủ thể phù hợp để trao quyền quản lý, sử dụng, khai hiệu quả nhất tài sản công. Trong một số trường hợp, tài sản công được sử dụng, khai thác vì các mục tiêu xã hội, phục vụ cộng đồng. Theo tác giả Maarten Janssen, Analys and Alternativer, Chính phủ sở hữu nhiều tài sản thực sự có tầm quan trọng đối với xã hội như: tần số điện thoại di động, tần số radio, cơ sở hạ tầng công cộng, đất, v.v.. Trong nhiều trường hợp, “Chính phủ cần phải lựa chọn một hoặc nhiều công ty tư nhân để sử dụng các tài sản này một cáchthích hợp để phục vụ người tiêu dùng”[15]. Do vậy, trong những trường hợp này, “doanh thu và hiệu quả không phải là tiêu chí duy nhất để lựa chọn một hình thức đấu giá”[16]. Và việc đấu giá để thực hiện các dự án đầu tư, đấu giá điện, quyền phát thải, quang phổ, tần số, quyền khai thác tài nguyên, v.v.. là những ví dụ trong trường hợp này.

-              Đấu giá tài sản công còn là phương thức giúp nhà nước xác định giá trị đối với một số tài sản đặc thù, ví dụ như đấu giá quyền thăm dò khai thác một số tài nguyên thiên nhiên. Giá ban đầu đưa ra đấu giá chỉ mang tính tương đối. Giá trị tài sản sẽ được định giá thông qua thị trường dựa trên đánh giá của những người tham gia đấu giá. “Lượng dầu có sẵn trong một khu vực cụ thể là cố định nhưng nó chỉ thực sự được biết đến sau cuộc đấu giá và khi người thắng trong cuộc đấu giá bắt đầu khoan”[17].

-             Thông qua đấu giá tài sản công sẽ giúp các cơ quan quản lý tài sản công khai, minh bạch các khoản thu chi, hạn chế tình trạng “xin - cho”, nhất là trong đấu giá QSDĐ để thực hiện dự án đầu tư, từ đó tạo ra sự bình đẳng và môi trường cạnh tranh công bằng khi tất cả người tham gia trả giá đều có cơ hội ngang nhau. Và do vậy, “các cuộc đấu giá đã trở thành một công cụ hiệu quả để thực hiện chính sách công”.

Đấu giá tài sản công đã có lịch sử hình thành từ xa xưa ở Hy Lạp cổ đại. Ở Việt Nam, mặc dù đấu giá tài sản nói chung và đấu giá tài sản công nói riêng bắt đầu hình thành từ thời kỳ Pháp thuộc, nhưng hoạt động này chỉ bắt đầu phát triển từ sau những năm 1996, sau khi BLDS năm 1995 và Nghị định số 86/CP được ban hành và có hiệu lực. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, có thể nhận thấy, xu hướng chung tại hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam là ngày càng mở rộng đối tượng tài sản công phải bán thông qua đấu giá, từ tài sản có giá trị nhỏ đến tài sản có giá trị lớn, từ tài sản hữu hình sang tài sản vô hình (quyền phát thải, quang phổ, tần số, kho số viễn thông, v.v..), từ tài sản dễ định giá đến những tài sản đặc thù khó định giá (quyền thăm dò, khai thác dầu khí, khoáng sản), v.v.. Điều đó xuất phát từ đặc điểm của tài sản công, từ bản chất và vai trò, ý nghĩa của đấu giá tài sản công. Thông qua quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, tính công khai, minh bạch trong hoạt động đấu giá đã đem lại những hiệu quả to lớn trong việc xử lý bán tài sản công bằng hình thức đấu giá. Nó vừa góp phần quản lý, sử dụng, xử lý tài sản công minh bạch, hiệu quả, hạn chế tình trạng lạm dụng tài sản công, vừa góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước. Nó cũng góp phần trong việc hỗ trợ nhà nước lựa chọn được những chủ thể phù hợp để trao quyền quản lý, sử dụng, khai hiệu quả nhất tài sản công.

4. Đặc điểm của đấu giá tài sản công

Đấu giá tài sản công mang đầy đủ các đặc điểm chung của đấu giá tài sản. Bên cạnh các đặc điểm chung của đấu giá tài sản, đấu giá tài sản công còn có những đặc điểm riêng như sau:

Một là, cơ sở pháp lý để thực hiện việc đấu giá tài sản công dựa trên quyết định của người có thẩm quyền.

Cơ sở pháp lý để đưa mỗi loại tài sản khác nhau ra đấu giá là khác nhau. Đối với tài sản thi hành án dân sự, việc đưa tài sản ra đấu giá dựa trên bản án/quyết định có hiệu lực của tòa án và các văn bản liên quan đến quá trình thi hành án, kê biên tài sản của cơ quan thi hành án dân sự. Đối với tài sản bảo đảm, việc đưa tài sản bảo đảm ra đấu giá căn cứ vào thỏa thuận của các bên, hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm. Để có thể đưa ra đấu giá, tài sản công phải được xử lý theo một trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Kết quả của quá trình xử lý đó là những người có thẩm quyền sẽ ban hành quyết định hành chính về việc đưa tài sản công ra đấu giá, quyết định giá khởi khởi điểm của tài sản đấu giá (Quyết định bán tài sản côngtheo hình thức đấu giá, quyết định thanh lý tài sản công theo hình thức đấu giá, quyết định phê duyệt đề án cho thuê tài sản công theo hình thức đấu giá, v.v..). Và chỉ khi có văn bản của người có thẩm quyền quyết định xử lý tài sản công theo hình thức đấu giá, người được giao tổ chức thực hiện mới lựa chọn và ký hợp đồng đấu giá tài sản công với tổ chức đấu giá tài sản.

Hai là, người có tài sản đấu giá là tài sản công không hoàn toàn là chủ sở hữu tài sản mà là người được nhà nước trao quyền

Đối với tài sản thuộc sở hữu của cá nhân/tổ chức, khi quyết định đưa tài sản thuộc sở hữu của mình ra đấu giá, cá nhân/tổ chức vừa là chủ sở hữu tài sản, đồng thời là người có tài sản đấu giá. Họ sẽ phối hợp, giám sát quá trình tổ chức đấu giá tài sản/đấu giá viên thực hiện việc bán tài sản của mình nhằm mang lại hiệu quả doanh thu cao nhất. Kết quả của việc đấu giá gắn liền với lợi ích của người có tài sản nên họ thường rất sát sao với quá trình tổ chức đấu giá tài sản. Đối với tài sản thi hành án dân sự, pháp luật quy định chấp hành viên là người có tài sản đấu giá. Người có tài sản đấu giá đối với tài sản bảo đảm là các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, chấp hành viên, tổ chức tín dụng khi đưa tài sản ra đấu giá luôn luôn phải đối mặt với sự phản kháng của người phải thi hành án (đối với tài sản thi hành án dân sự) hoặc của bên bảo đảm (đối với tài sản bảo đảm). Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý tài sản công. Khi đưa tài sản công ra đấu giá, nhà nước giao các cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản cônghoặc người đã được nhà nước giao quản lý, sử dụng, xử lý tài sản công thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Họ thường ít chịu trách nhiệm cá nhân cũng như không được hưởng lợi nhuận và “không lạ gì, từ cổ chí kim, những người quản lý tài sản công chỉ chăm chú khai thác tài sản công một cách khôn khéo để có lợi cho mình”.

Ba là, tài sản công trước khi đưa ra đấu giá phải được xử lý, định giá theo trình tự được pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công quy định. Tài sản công nói riêng và các loại tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá nói chung, mỗi loại tài sản trước khi đưa tài sản ra đấu giá sẽ được xử lý, định giá theo quy định của pháp luật chuyên ngành về loại tài sản đó. Các trường hợp đấu giá tài sản công được pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công quy định. Và trong những trường hợp phát sinh căn cứ xử lý tài sản công bằng hình thức đấu giá thì việc xử lý, định giá tài sản công trước khi đưa ra đấu giá sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đối với từng loại tài sản công.

Bốn là, việc đấu giá tài sản công được thực hiện theo quy định của pháp luật về ĐGTS và pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Nguyên tắc đấu giá, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản công được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản. Các vấn đề khác có liên quan đến đấu giá, như việc xử lý tài sản trước khi đưa tài sản công ra đấu giá, việc xác định giá khởi điểm/giá bảo lưu tài sản đấu giá là tài sản công, việc xác định người có tài sản đấu giá tài sản công, việc xác định điều kiện tham gia đấu giá tài sản công, v.v.. được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

 


[1]Jeremy Bulow và Paul Klemperer (1996), “Auctions Versus Negotiation”, The American Economic Review, Vol. 86, No. 1 (Mar., 1996), pp.180-194.

[2]Cramton, Y. Shoham and R. Steinberg (editors) (2006), Introduction to Combinatorial Auctions, MIT Press,Boston

[3]Vijay Krishna (2002), Auction theory, New York: Elsevier. ISBN 978-0-12- 426297-3, P.3

[4]Moshe E. Shalev và Stee Asbjornsen (2010), “Electronic reverse auction and the public sector: factors of succes”, journal of public procuregment, volume 10, issue 3, pp.428-452.

[5]Martin Ravallion và Dominique van de Walle (2008), Đất đai trong thời kỳ chuyển đổi - Cải cách và nghèo đói ở nông thông Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.202

[6]Dag Detter và Stefan Folter (2018), Quản lý hiệu quả tài sản công, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, HàNội.tr. 26,41

[7]Cesareo Hernandez Iglesias, Juan Jose Lavios, David J Poza,Andrea Ranieri (2014),        Review   of            Auction-Based     Markets,                p.50;       Address: https://www.researchgate.net/publication/322276880_Review_of_Auction- Based_Markets [Access to:15/9/2020].

[8]Jeremy Bulow và Paul Klemperer (1996), “Auctions Versus Negotiation”, The American Economic Review, Vol. 86, No. 1 (Mar., 1996), pp.180-194.

[9]Nguyễn Thị Minh (2012), “Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật bán đấu giá tài sản ở Việt Nam”, Tạp chí dân chủ và Pháp luật,tr.27-35.

[10]Vijay Krishna (2002), Auction theory, New York: Elsevier. ISBN 978-0-12- 426297-3.p.2

[11]Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập II, NXB Công an nhân dân, HàNội

[12]Học viện Tư pháp (2014), Giáo trình Kỹ năng bán đấu giá đấu giá tài sản”, Nội. Tr.21

[13]Vũ Văn Cương (2012), “Pháp luật về đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (12), tr.36-58

[14]Cesareo Hernandez Iglesias, Juan Jose Lavios, David J Poza,Andrea Ranieri (2014),       Review   of            Auction-Based     Markets,                p.50;       Address: https://www.researchgate.net/publication/322276880_Review_of_Auction- Based_Markets [Access to:15/9/2020].P.24

[15]Maarten Janssen, Analys and Alternativer (2004), Auctioning PublicAssets,

Cambridge Universitypress

[16]Vijay Krishna (2002), Auction theory, New York: Elsevier. ISBN 978-0-12- 426297-3, p.6

[17]Flavio M. Menezes and Paulo K. Monteiro (2005),            An Introduction to Auction Theory, Oxford University Press, Oxford,UK, p.39 - p9