Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quan hệ sở hữu trong nông nghiệp nước ta đã trải qua những giai đoạn vận động khác nhau.
1. Thời kỳ 1945 - 1953 (trước cải cách ruộng đất)
Sau khi cách mạng thành công, chính quyền đã về tay nhân dân nhưng đất nước ta phải trải qua 9 năm kháng chiến. Để phát huy sức mạnh của cả dân tộc, Đảng chủ trương hạn chế sự bóc lột tô thuế nặng nề của địa chủ phú nông đối với nông dân với chủ trương “giảm tô”. Đem ruộng đất công chia cho dân nghèo, ruộng đất thủ được của Việt gian, phản động đem tạm cấp cho nông dân. Vận động một số nhà giàu hiến ruộng chia cho nông dân.
Những năm 1945 - 1953 đã chia thêm cho nông dân 927.165 ha, trong đó, ở miền Bắc: 476.000 ha; miền Nam: 451.000 ha; nguồn gốc đất lấy chia bao gồm: 347.000 ha của địa chủ; 289.000 ha đất công; 3.200 ha của Nhà chung; 226.000 ha của thực dân[1].
Kết quả dẫn đến làm thay đổi tương quan chiếm hữu ruộng đất trước cải cách ruộng đất như sau[2]:
| Thành phần | % Nhân khẩu | % Ruộng đất |
| Địa chủ | 2,3 | 18 |
| Phú nông | 1,6 | 4.7 |
| Trung nông | 36,5 | 39,0 |
| Bần nông | 42,9 | 25,4 |
| Cố nông | 13,1 | 6,5 |
| Các thành phần khác | 3,6 | 1,0 |
So với tình hình chiếm hữu ruộng đất trong cả nước trước Cách mạng Tháng Tám 1945 như sau (% ruộng đất): Địa chủ: 41,4%; Thực dân Pháp: 9,5%; Đất nhà thờ: 1,2%; Ruộng đất công và nửa công: 11,9%; Ruộng đất của các thành phần lao động: 36,0% (với 97% số hộ)[3].
Chính nhờ mang lại ruộng đất cho nông dân và thực hiện chính sách giảm tô (trung bình 25%, có nơi 50%) đã bước đầu xóa bỏ hình thức bóc lột phong kiến, làm cho nông dân tin tưởng, đi theo cách mạng, đưa đến thắng lợi to lớn sau 9 năm kháng chiến chống Pháp, giải phóng miền Bắc.
2. Trong thời kỳ cải cách ruộng đất (1954 - 1957)
Thời gian này, nước ta chủ trương thực hiện triệt để cải cách ruộng đất, xóa bỏ triệt để chiếm hữu ruộng đất và bóc lột phong kiến, thực hiện trọn vẹn khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Năm 1953, Chính phủ đã ban hành Luật cải cách ruộng đất với nội dung chủ yếu là: Tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất của địa chủ và phản động (có phân biệt đối với địa chủ kháng chiến - trưng mua, địa chủ thường - trưng thu) và vẫn để lại một phần ruộng đất cho địa chủ; Ruộng đất công và nửa công đem chia cho nông dân; Ruộng đất chia theo mức bình quân của từng địa phương (không chia theo lao động, mà chia theo khẩu), song có chiếu cố đến hộ nhiều lao động; Nếu người nước ngoài và gia đình họ sống ở nông thôn và cũng thuộc thành phần như nông dân Việt Nam cũng được chia ruộng đất như nông dân Việt Nam; Ngụy quân, ngụy quyền vốn xuất thân từ nông dân cũng được chia ruộng đất (nhưng chính quyền tạm quản lý, khi nào họ quay về với cách mạng, với nhân dân thì được sử dụng).
Năm 1957, cải cách ruộng đất đã hoàn thành thắng lợi đã tịch thu, trưng thu, trưng mua: 810.000 ha ruộng đất, đem chia cho 2.217.256 hộ nông dân (gồm 8,5 triệu khẩu). Sau khi chia, chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu cho nông dân.
Bảng: Mức chiếm hữu ruộng đất bình quân theo khẩu (m2)
| Thành phần | Trước cải cách ruộng đất (1953) | Sau cải cách ruộng đất (1957) | Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 |
| Địa chủ | 10.980 | 6.393 | 730 |
| Phú nông | 4.200 | 3.345 | 1.720 |
| Trung nông | 1.450 | 1.257 | 1.710 |
| Bần nông | 472 | 490 | 1.390 |
| Cố nông | 112 | 282 | 1.370 |
| Thành phần khác | 336 | 237 | 403 |
Cải cách ruộng đất đã được hoàn thành, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng đã phạm những khuyết điểm nghiêm trọng (giáo điều, rập khuôn, quy sai vào ngay một số người tham gia cách mạng…), nhưng Đảng ta đã kịp thời sửa chữa.
Mục đích của cải cách ruộng đất là thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Từ vị trí người làm thuê, nay người nông dân đã trở thành chủ nhân của đồng ruộng. Năm 1957,08 chính sách quan trọng về ruộng đất đã được Đảng và Nhà nước ban hành, đó là: trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân, cho thuê mướn lao động, phát triển kinh tế hộ, khuyến khích đổi công, khuyến khích khai hoang phục hóa... Hiến pháp năm 1959 vẫn chế định chế độ sở hữu đất đai gồm ba hình thức chủ yếu là sở hữu nhà nước. sở hữu tập thể (cộng đồng) và sở hữu tư nhân; Nhà nước thừa nhận và bảo hộ sở hữu về ruộng đất và tư liệu sản xuất của các hộ nông dân. Những chính sách đó đã đưa đến sự phát triển vượt bậc của nông nghiệp trong giai đoạn 1955 - 1959 (đạt mức sản lượng năm cao nhất thời kỳ Pháp thuộc vào năm 1939).
3. Trong thời kỳ thí điểm hợp tác xã ở miền Bắc (1958 - 1959)
Từ năm 1958, Đảng ta chủ trương làm thí điểm hợp tác xã (bậc thấp) với nội dung sau: Nông dân góp ruộng đất, trâu bò, tư liệu sản xuất… vào hợp tác xã làm của chung, sau đó hợp tác xã thực hiệnphân phối theo lao động và phân phối theo hoa lợi ruộng đất và một phần theo tư liệu sản xuất (như một phần khấu hao tài san cố định đã góp vào hợp tác xã). Tuy nhiên, phần hoa lợi và phần theo tư liệu sản xuất thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế và kéo dài không lâu. Từ cuối năm 1960 đã thực hiện hợp tác xã bậc cao (điểm khác chủ yếu là xóa bỏ việc chia theo hoa lợi và phần khấu hao tư liệu sản xuất), xã viên chỉ hưởng theo công điểm. Đây chính là khởi đầu của quá trình tha hóa sâu sắc lao động, ruộng đất và tư liệu sản xuất.
4. Thời kỳ hợp tác xã - tập thể hóa cao (1960 - 1980)
Nội dung cơ bản của thời kỳ này gắn với quá trình đưa các hợp tác xã lên bậc cao, mở rộng quy mô hợp tác xã, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn (theo quan niệm cũ). Kết quả là cuối năm 1960, ở miền Bắc: 85% hộ vào hợp tác xã với 68,12% ruộng đất. Năm 1987, trong cả nước: 93,7% hộ vào hợp tác xã với 87,5% ruộng đất[4].
Với sự bao cấp rất lớn của Nhà nước, nông dân đã tiến hành cải tạo đồng ruộng, làm thủy lợi, xây dựng cơ sở vật chất của tập thể như nhà kho, sân phơi, mua sắm tư liệu sản xuất chung... Trên thực tế, kinh tế hộ nông dân đã bị xóa bỏ, ngoại trừ để cho hộ nông dân đất 5%.
Đặc trưng cơ bản của thời kỳ này là tập thể hóa ruộng đất và tư liệu sản xuất; tập thể hóa lao động điều hành sản xuất tập trung; phương thức phân phối tập trung theo kiểu bình quân; chính quyền trực tiếp điều hành các hợp tác xã. Đặc biệt là giai đoạn đưa các hợp tác xã lên quy mô lớn, toàn xã, liên xã, thành lập các đội chuyên khâu tổ chức điều hành sản xuất theo kiểu công nghiệp. Ruộng đất, tư liệu sản xuất, tài sản đưa vào hợp tác xã trên thực tế dẫn dẫn trở thành vô chủ, không gắn bó với người lao động, bị sử dụng lãng phí, không hiệu quả.
Do sai lầm trong chính sách tập thể hóa ruộng đất và từliệu sản xuất gắn với sai lầm trong mô hình hợp tác xã tập thể hóa dẫn đến những trì trệ và suy thoái của nông nghiệp trong suốt thời kỳ 1960 - 1980, nhất là cuộc khủng hoảng năm 1978 - 1980. Trong bối cảnh đó, Hiến pháp năm 1980 của nước ta đã quy định chế định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Cơ sở của chế định này là nhận thức về con dường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta được Tổng Bí thư Lê Duẩn nêu khi nói về Dự thảo Hiến pháp năm 1980, như sau: “Từ sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, trong điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa có gì đáng kể thì chỗ dựa to lớn nhất là sức mạnh của làm chủ tập thể. Do đó, đi ngay vào làm chủ tập thể là vấn đề có tính quy luật trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta... Tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy là hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội, đúng với thực trạng ruộng đất của nước ta, phù hợp với lợi ích toàn xã hội và cũng phù hợp lợi ích của chính nông dân. Thật vậy, nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội là tất cả những tư liệu sản xuất cơ bản phải thuộc về của chung. Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thống nhất quy hoạch và có chính sách khai thác hợp lý, đầu tư thích đáng, bảo vệ và bồi bổ đất đai trên phạm vi cả nước cũng như trong từng vùng kinh tế, làm sao cho toàn bộ đất đai bảo đảm nuôi sống hơn 50 triệu người, làm sao đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa để phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà. Chỉ với điều kiện chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân mới làm được như thế. Tuy thuộc sở hữu toàn dân, song một phần quan trọng ruộng đất được giao cho các tập thể hợp tác xã và nông dân lao động cá thể sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật, những hộ lao động đang sử dụng ruộng đất tất nhiên được tiếp tục sử dụng”[5]. Theo quan điểm này và như chế định trong Hiến pháp năm 1980 các hộ nông dân vẫn chưa có cơ sở kinh tế và được coi là đơn vị kinh tế tự chủ, chưa được làm chủ thực sự về ruộng đất; phải đợi đến sau Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị năm 1988 và sau Luật đất đai năm 1993 mới có cơ sở pháp lý và cơ sở kinh tế để trở thành hiện thực.
5. Thời kỳ 1981 – 1987
Thời kỳ này gắn liền với việc ra đời Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương (năm 1981) về thực hiện chế độ khoán trong nông nghiệp. Mặc dù trên danh nghĩa ruộng đất vẫn là của tập thể nhưng đã chuyển từ khoán việc sang khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (quy định tập thể bảo đảm 5 khâu, còn 3 khâu giao cho xã viên làm là cấy, làm cỏ, thu hoạch).
Với chính sách này, trên thực tế đã phân cho người lao động làm chủ ruộng đất ở những khâu khoán cho họ. Người lao động được hoàn toàn hưởng phần vượt khoán. Đây là một bước (dù mới chỉ là ban đầu và chưa cơ bản) song rất quan trọng về điều chỉnh quan hệ ruộng đất và tư liệu sản xuất, làm cho người nông dân gắn bỏ trở lại với ruộng đất, đầu tư phát triển sản xuất, tạo nên những bước tiến của nông nghiệp trong thời kỳ 1981-1987.
Song, do những chính sách vĩ mô chưa đổi mới, do chế độ khoán ngày càng thay đổi bất lợi cho nông dân, ở các khâu mà tập thể quản lý vẫn rơi vào tình trạng vô chủ, phần vượt khoán ngày càng giảm, dẫn đến tình trạng nông dân lại không tha thiết với ruộng đất, nhiều nơi trả lại ruộng, động lực phát triển sản xuất nông nghiệp bị suy giảm.
6. Vấn đề sở hữu ruộng đất và tư liệu sản xuất trong nông nghiệp ở miền Nam
Vấn đề ruộng đất và tư liệu sản xuất ở miền Nam có những đặc thù riêng như trên đã nêu (đó là mức độ tư hữu hóa, quy mô ruộng đất, trình độ sản xuất hàng hóa đã cao hơn các vùng khác). Trên thực tế đã bắt đầu hình thành khá rộng sự phân công lao động xã hội ở nông thôn tầng lớp nông dân (trung nông) sản xuất hàng hóa, hệ thống dịch vụ phát triển, hệ thống thu mua sản phẩm, quan hệ thuê mướn...
Vì vậy, ngay sau khi miền Nam được giải phóng năm 1975, tầng lớp địa chủ còn lại rất ít, chiếm 0,17% số hộ và 0,47% ruộng đất. Theo số liệu điều tra của Ban cải tạo nông nghiệp miền Nam thì trung nông chiếm 70% dân số nông thôn với 80% ruộng đất, 70% máy móc cơ khí nhỏ, 93% sức kéo trâu bò[6].
Phân phối ruộng đất trong nội bộ nông dân ở miền Nam lúc đó không đều nhau, một trong những lý do chủ yếu đó là đã có mức độtích tụ tập trung cho sản xuất hàng hóa (3,8% số hộ có diện tích bình quân trên 3.000 m2 người; 16.3% số hộ có diện tích bình quân từ 2.000 m2 người đến 2.000 m2 /người;58,8% số hộ có diện tích bình quân từ 1.000 m2/ người đến 2.000 m2/ người. 21,4% số hộ có diện tích bình quân dưới 1000 m2/người)[7].
Sau năm 1975, Đảng và Nhà nước chủ trương xóa bỏ triệt để tàn dư bóc lột phong kiến: xóa bỏ tình trạng cho vay nặng lãi và tiến hành: Tịch thu ruộng đất của địa chủ phản động; Trưng mua ruộng đất của địa chủ, vận động địa chủ phú nông hiến ruộng
Đây là một bước đi đúng đắn. Tuy nhiên, do số địa chủ và phú nông không nhiều, ruộng đất thu được từ các đối tượng này không lớn, Đảng ta có chủ trương điều chỉnh lại ruộng đất trong nông dân. Về thực chất là điều chỉnh ruộng đất của 70% trung nông sản xuất hàng hóa thông qua cuộc vận động trung nông nhường bởi ruộng cho người thiếu ruộng (vận động “nhường cơm sẻ áo”). Kết quả của việc điều chỉnh này là: ở Nam Bộ: Tịch thu và trưng thu: 302.095 ha, trong đó điều chỉnh nội bộ: 277.431 ha, tổng số ruộng đất chia là 579.526 ha, chia cho 500.000 hộ. Ở Trung Bộ và Tây Nguyên: 125.527 ha chia cho trên 2 triệu nhân khẩu[8].
Việc điều chỉnh ruộng đất đã thu được một số kết quả quan trọng, đó là: Xóa bỏ triệt để phương thức bóc lột phong kiến, tạo nên sự công bằng hơn trong quan hệ ruộng đất (xét về thành quả cách mạng); Tạo nên động lực mới cho phát triển sản xuất nông nghiệp (xét về quyền làm chủ tư liệu sản xuất của người nông dân).
Tuy nhiên, việc điều chỉnh này cũng đã phạm phải một số sai lầm như: Ở nhiều nơi, trên thực tế có sự ép buộc trung nông phải nhường ruộng đất, không có tính tự nguyện; Xáo canh, cào bằng (dẫn đến tranh chấp đất sau này); Làm suy yếu cơ sở kinh tế của tầng lớp trung nông (tầng lớp cơ bản sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp); Nhiều nơi ruộng đất không giao theo năng lực sản xuất: người có năng lực sản xuất lại thiếu ruộng, người không làm ruộng cũng được phân phối ruộng; Nảy sinh hiện tượng chiếm đoạt, tham nhũng về ruộng đất của một số cán bộ, đảng viên.
Sau khi tiến hành việc điều chỉnh ruộng đất đó, ở miền Nam đã tiến hành công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình cũ của miền Bắc, tức là tập thể hóa ruộng đất và tư liệu sản xuất.
Vào những năm 1984 – 1985, miền Nam thực hiện việc hóa giá máy móc đưa vào tập đoàn sản xuất. Tiền hóa giá máy lại không được trả ngay (vì tập đoàn sản xuất không có tiền). Có thể nhận xét qua ví dụ ở tỉnh An Giang. Ngay sau giải phóng, An Giang có 2.500 máy nông nghiệp[9]. Với số máy móc này đã phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp hàng hóa và khai hoang đất mới (chính quyền cũ đã làm một phần trước giải phóng). Nhưng với phương pháp tập thể hóa như đã nêu trên đã làm cho gần 50% máy móc nông nghiệp không sử dụng được, bị hư hỏng rất nhiều, không có hiệu quả. Kết quả là vụ hè - thu năm 1986 có tới 10.094 ha ruộng trên đất không cày bừa và 37% diện tích lúa mùa không được cày trở (cày lượt thứ hai). Cũng trong năm này, diện tích gieo trồng giảm đi 40.000 ha, năng suất và sản lượng lúa tụt dần.
Việc tiến hành hợp tác xã tập thể hóa theo mô hình ở miền Bắc trước đây đã không thành công, các hộ nông dân đã có những phản ứng mạnh, nhất là tầng lớp trung nông[10]; mặc dù năm 1985 đã tuyên bố "cơ bản hoàn thành".
Khi có Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương, ở miền Nam trên thực tế cũng lại bắt đầu giao ruộng đất lại cho hộ nông dân (theo chế độ khoản), nhất là sau khi có Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 1988), nhiều nơi đã trả lại máy móc tư liệu sản xuất cho các hộ nông dân, hoặc nơi nào không hóa giá đúng thì phải trả đúng giá cho bà con. Điều đó đã tạo nên động lực mới cho sự phát triển nông nghiệp ở miền Nam.
Như vậy có thể thấy rằng, chính sách hợp tác xã - tập thể hóa ruộng đất và tư liệu sản xuất - làm chung đã dẫn đến tình trạng trong khi đất chật người đông, thiếu đất canh tác nhưng hàng năm vẫn có hàng vạn hécta đất tốt bị bỏ hoang hóa. Đó là nguyên nhân sâu xa của những cái giá phải trả trong nông nghiệp từ năm 1988 trở về trước.
Luật đất đai và quan hệ sở hữu khi có Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị
Đứng trước những thay đổi của thực tiễn và những bài học rút ra từ những sai lầm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã nhận ra phải có sự đổi mới trong quan hệ sở hữu, nhất là trong quan hệ ruộng đất. Chính vì vậy, Luật đất đai năm 1987 đã ra đời với nội dung chủ yếu (xét từ giác độ sản xuất nông nghiệp):
- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao ruộng đất cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, tổ chức xã hội và cá nhân để sử dụng ổn định và lâu dài. Nhà nước còn giao đất để sử dụng có thời hạn hoặc tạm thời.
- Cho phép người được giao quyền sử dụng ruộng đất được chuyển nhượng, bán thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất.
- Cấm mua bán ruộng đất trái phép.
- Để làm kinh tế hộ gia đình, nâng mức ruộng đất này lên 10%.
- Quy định những nguyên tắc pháp lý giải quyết tranh chấp đất đai.
Có thể nói, Luật đất đai năm 1987 một mặt đã khẳng định quyền sở hữu tối cao của Nhà nước về ruộng đất, mặt khác trao cho những người sử dụng quyền sử dụng ổn định lâu dài. Có thể nói, đây là một bước điều chỉnh quan hệ ruộng đất khác với chế độ tập thể hóa trước đây, bước đầu làm cho người nông dân “quay lại” với ruộng đất, yên tâm hơn đầu tư vào sản xuất, bảo vệ và cai tạo đất.
Tuy nhiên, có thể thấy Luật đất đai năm 1987 vẫn còn bộc lộ những điều không đáp ứng sau dây:
- Luật thể hiện quan hệ ruộng đất ở trạng thái tĩnh không phản ánh sự điều chỉnh cần thiết đối với quan hệ ruộng đất trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa, tích tụ tập trung sản xuất trong nông nghiệp phần công lại lao động trong nông thôn.
- Không coi ruộng đất là loại hàng hóa (dù là đặc biệt).
- Việc cho phép bán, chuyển nhượng thành quả đầu tư vốn, lao động trên đất được giao sử dụng (chứ không phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất) cho người khác chứa đựng mâu thuẫn về mặt kinh tế và pháp lý: Người mua thành quả đầu tư vốn, lao động về mặt pháp lý không được sử dụng, khai thác ruộng dất. Mâu thuẫn này làm cho việc mua bán ruộng đất diễn ra trên thực tế nhưng Nhà nước không quản lý được phải mặc nhiên thừa nhận.
Sau khi ban hành Luật đất đai năm 1987, năm 1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 ngày 05/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, tiếp đó là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI) khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ và chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa; công nhận sự tồn tại lâu dài và khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần trong đó có kinh tế tư nhân, cá thể đổi mới chế độ kinh tế hợp tác và các quốc doanh nông nghiệp (Nghị định số 169, Nghị định số 170, Nghị định số 171 của Hội đồng Bộ trưởng). Việc thay đổi một cách cơ bản cơ chế kinh tế trong nông nghiệp đòi hỏi phải có những đổi mới tiếp theo trong quan hệ sở hữu về ruộng đất và tư liệu sản xuất, mà nét chủ đạo là trao quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân; hóa giá trâu bò cho xã viên, hóa giá, đấu thầu những tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất - kỹ thuật mà hợp tác xã quản lý, sử dụng kém hiệu quả để cho xã viên mở rộng sản xuất. Ở miền Nam, những tư liệu sản xuất, máy móc trước đây tập thể hóa nói chung được trả về cho chủ cũ, hoặc ai sử dụng phải trả đúng giá. Nông dân được tự bỏ tiền mua máy kéo, máy phát lực và các tư liệu sản xuất khác để phát triển sản xuất, bỏ tiền ra cùng Nhà nước đầu tư cải tạo đồng ruộng, làm thủy lợi, khai hoang, lấn biển; trồng rừng, trồng cây công nghiệp... Những chính sách điều chỉnh quan hệ sở hữu đó về thực chất là từng bước xóa bỏ sở hữu tập thể vô chủ, từng bước xác lập kinh tế hộ nông dân. Sự điều chỉnh quan hệ sở hữu đó cùng với một loạt các chính sách vĩ mô khác như: chính sách tự do lưu thông, chính sách một giá... đã mang lại cho nền nông nghiệp nước ta sức sống mới. Kết quả bước đầu thật đáng mừng. Sau ba năm (1988 - 1991) diện tích gieo trồng tăng 411.000 ha (trong đó khai hoang phục hóa được đưa vào sản xuất gồm 5.000 ha). Hiệu quả sử dụng ruộng đất, tư liệu sản xuất tăng đáng kể, thể hiện tập trung ở năng suất, sản lượng lương thực ngày càng tăng (sản lượng lương thực năm 1987: 17,5 triệu tấn, năm 1990: 21,5 triệu tấn, năm 1992: 24 triệu tấn)[11], bảo đảm đủ lương thực cho cả nước và còn xuất khẩu trên 1 triệu tấn mỗi năm. Kinh tế tư nhân trong lĩnh vực khai thác ruộng đất đã xuất hiện, tuy chưa nhiều nhưng có hiệu quả rõ rệt, họ tự bỏ vốn đầu tư hàng trăm triệu đồng, lấn biển hàng trăm hécta để nuôi tôm, trồng cói, cấy lúa (như ở Thái Bình), hoặc đầu tư hàng chục lạng vàng để khai hoang vùng Đồng Tháp Mười, hoặc đầu tư hàng chục triệu đồng cho khai thác đất đồi, rừng.
Xét về mặt bản chất, có thể thấy rằng, chủ trương điều chỉnh quan hệ sở hữu, giao ruộng đất lâu dài cho người nông dân sử dụng là phù hợp với quy luật khách quan của sản xuất nông nghiệp, phù hợp với lòng dân, do đó đã tạo nên một động lực to lớn để phát triển sản xuất. Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân đã làm bộc lộ những bất hợp lý về quan hệ ruộng đất trước đây và dẫn đến những tranh chấp về ruộng đất.
7. Một số vấn đề về tranh chấp ruộng đất thời kỳ 1970 đến 1993
Để có nhận thức đúng, cần nhìn rõ tính hai mặt của vấn đề tranh chấp đất đai.
Một, tranh chấp ruộng đất về phương diện nào đó thể hiện sự gắn bó trở lại của người nông dân với ruộng đất - đó là điều quan trọng nhất, đồng thời họ đòi hỏi sự công bằng và bình đẳng trong quan hệ ruộng đất.
Hai, việc tranh chấp ruộng đất còn thể hiện những chính sách cũ về ruộng đất đã bộc lộ những bất hợp lý khi chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa với hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ. Đồng thời, quá trình tập thể hóa trước đây, cộng với việc thay đổi quy hoạch ruộng đất, thay đổi kết cấu hộ nông dân... đã làm biến dạng các quan hệ ruộng đất, cần có sự điều chỉnh phù hợp.
Ba, nhiều nông dân vẫn chưa hoàn toàn yên tâm với những chính sách mới về ruộng đất (khi chưa có luật khẳng định đầy đủ các quyền sử dụng đất đai, thời gian sử dụng đất đai và tư liệu sản xuất của họ).
Bốn, việc tranh chấp ruộng đất cũng đã bị một số ít kẻ xấu lợi dụng, kích động, làm phức tạp thêm tình hình ở một số nơi. Việc giải quyết các tranh chấp ruộng đất nhiều khi không thấu tình đạt lý, không được sự đồng tình của nông dân.
Trong các quan hệ đất đai thì tranh chấp đất đai là việc thưởng xảy ra không riêng một nước nào hoặc chế độ chính trị nào. Ở nước ta, trong thời kỳ cuối những năm 1970 và những năm 1980, do điều kiện lịch sử hình thành quan hệ đất đai ở mỗi nơi, mỗi lúc mỗi trường hợp có khác nhau; từ cơ chế hợp tác xã tập thể hóa “làm chung” chuyển sang giao quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân tự chủ canh tác dẫn đến những tranh chấp ruộng đất ở hầu hết các tỉnh, nên tình hình tranh chấp rất đa dạng, nhiều cấp độ và rất phức tạp.
Các dạng tranh chấp chủ yếu là: tranh chấp về quyền sử dụng ruộng đất giữa cá nhân với nhau; Tranh chấp giữa đồng bào địa phương với nhân dân nơi khác đến khai hoang; Tranh chấp đất trong việc giao khoán theo Nghị quyết số 10-NQ/TW, có gần 3 vạn trường hợp (chủ yếu là các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ). Tranh chấp đất do những người ở nông thôn đã chuyển sang làm nghề khác, nay thất nghiệp không có đủ việc làm đòi lại ruộng đất của mình để sản xuất sinh sống.
Bên cạnh đó còn có tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các tổ chức với nhau, cụ thể là: Tranh chấp giữa các hợp tác xã khi từ cùng một hợp tác xã chia ra thành một số hợp tác xã, có gần 1 nghìn trường hợp (chủ yếu là ở đồng bằng Bắc Bộ) và tranh chấp các thôn xóm cũ trong nông thôn; Tranh chấp đất giữa các tổ chức với cá nhân, nhân dân địa phương; Tranh chấp đất giữa tổ chức kinh tế với các hộ dân vùng tiếp cận; Tranh chấp đất giữa các tổ chức tôn giáo (hoặc có tính chất tôn giáo) với những người xung quanh.
Ngoài ra, còn có tranh chấp đất bãi - rừng ngập mặn để nuôi tôm, lấy củi rộ lên ở các tỉnh ven biển Nam Bộ (Minh Hải, Kiên Giang). Số vụ không nhiều nhưng khá gay gắt, việc xử lý cũng gặp nhiều khó khăn. Tranh chấp địa giới hành chính các cấp cũng xảy ra gay gắt ở một số nơi…
Xét về bản chất của những tranh chấp ruộng đất sau khi giải thể các hợp tác xã tập thể hóa và khi thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, về căn bản không phải là việc đời tư hữu hóa ruộng đất và đòi lại đất ông cha (biểu hiện này tuy có, nhưng xét bình diện toàn quốc thì không phải là nhiều), mà điều chủ yếu là các hộ nông dân đòi có sự bình đẳng, công bằng trong quan hệ ruộng đất và giải quyết vấn đề ruộng đất có lý có tình, có tính đến các yếu tố lịch sử của các vùng khác nhau.
8. Giải quyết tranh chấp đất đai
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, với sự chỉ đạo và nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước, của lãnh đạo ở các cấp, các ngành của địa phương và sự thỏa thuận của bà con nông dân với nhau, chúng ta đã giải quyết được đa số các vụ tranh chấp ruộng đất ở nông thôn, chỉ còn trên dưới 10% số vụ tranh chấp có nguồn gốc phức tạp khó xử lý.
Việc giải quyết tranh chấp ruộng đất ở mỗi vùng có những nét đặc thù và kinh nghiệm khác nhau. Có thể khái quát tình hình giải quyết tranh chấp ruộng đất ở các vùng như sau:
Vùng Nam Bộ
Tranh chấp về đất xen canh, xáo canh, cào bằng, điều chỉnh không hợp lý trước đây... về cơ bản đã được giao lại cho chủ cũ với tổng diện tích trên 26 vạn hécta; hoặc nếu chủ mới tiếp tục sử dụng thì có sự bồi hoàn hoa màu cho chủ cũ. Để thực hiện việc điều chỉnh này, dưới sự lãnh đạo của các cấp, các ngành của địa phương, bà con nông dân đã thương lượng, thuyết phục, thỏa thuận với nhau để đôi bên cùng có lợi, khắc phục tình trạng bình quân, xáo canh, cào bằng, manh mún trước đây để dẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa.
Sau khi thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, tranh chấp ruộng đất ở Nam Bộ vẫn còn, song đã ít hơn trước rất nhiều. Nhưng quan hệ ruộng đất dần dần ổn định, nông dân yên tâm đầu tư vào phát triển sản xuất. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên bước phát triển vượt bậc của nông nghiệp vùng này trong những năm tiếp sau - trở thành vùng sản xuất lúa hàng hóa lớn nhất của cả nước.
Vùng đồng bằng Bắc Bộ
Sau hơn 30 năm hợp tác hóa (tập thể hóa) ở miền Bắc nói chung và nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, ruộng đất đã được quy hoạch lại, cải tạo bờ vùng bờ thửa, công cuộc thủy lợi hóa, đưa quy mô lên sản xuất lớn... đã làm cho cấu trúc địa lý của ruộng đất không còn như trước. Ruộng đất đã bị xáo trộn, điều chỉnh nhiều. Cấu trúc của hệ thống hộ gia đình ở nông thôn cũng đã thay đổi rất nhiều. Khi thực hiện Khoán 100 và sau này là Khoán 10, vẫn để tranh chấp ruộng đất có nảy sinh nhưng không gay gắt như ở Nam Bộ và quan hệ tranh chấp cũng khác, nếu như ở Nam Bộ tranh chấp ruộng đất nảy sinh chủ yếu giữa các hộ, thì ở đồng bằng Bắc Bộ (và miền Bắc nói chung) việc tranh chấp nảy sinh chủ yếu giữa các làng, các hợp tác xã, các huyện... (do trước đây đã điều chỉnh lại ruộng đất).
Việc phân phối và giao ruộng đất cho các hộ nông dân ở đồng bằng Bắc Bộ và bắc Khu 4 khi thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW thực chất mang tính chất bình quân (tốt, xấu, xa, gần) theo khẩu hoặc theo lao động quy (hoặc theo cả hai). Việc phân chia ruộng đất bình quân ở những vùng này là một tất yếu khách quan do lịch sử đất đai, do đất chật người đông, ngành nghề chưa phát triển. Đó cũng là một biểu hiện của công bằng, bình đẳng xã hội, tuy về mặt kinh tế là đi ngược lại yêu cầu tích tụ, tập trung ruộng đất cho phát triển sản xuất hàng hóa.
Như vậy, có thể thấy rằng chủ trương giao ruộng đất cho các hộ nông dân sử dụng ổn định, lâu dài là rất đúng đắn, đưa lại những kết quả to lớn và được tuyệt đại đa số bà con nông dân đồng tình. Vấn đề tranh chấp ruộng đất đã giải quyết được một bước căn bản, còn lại khoảng 10% số vụ do những vấn đề lịch sử phức tạp phải tiếp tục xử lý.
[1]Số liệu của Ủy ban cải cách ruộng đất Trung ương, tháng 3-1958
[2]Số liệu của Ủy ban cải cách ruộng đất Trung ương, tháng 3-1958
[3]Số liệu của Ủy ban cải cách ruộng đất Trung ương, tháng 3-1958
[4]Xem Nguyễn Huy: 35 năm kinh tế Việt Nam 1945 - 1980, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980
[5]Lê Duẩn - Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chu tập thể xã hội chủ nghĩa, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr 10 - 11.
[6]Nguyễn Sinh Cúc: “30 năm hợp tác hóa nông nghiệp nước ta”, tạp chí Thông tin lý luận, 12-1989
[7] Nguyễn Sinh Cúc: “30 năm hợp tác hóa nông nghiệp nước ta”, tạp chí Thông tin lý luận, 12-1989
[8]Nguyễn Sinh Cúc: “30 năm hợp tác hóa nông nghiệp nước ta”, tạp chí Thông tin lý luận, 12-1989
[9] Nguyễn Sinh Cúc: “30 năm hợp tác hóa nông nghiệp nước ta”, tạp chí Thông tin lý luận, 12-1989
[10]Trường Chinh: "Về Dự thảo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", ngày 23 2-1978, Hà Nội, 1978.
[11]Trần Quốc Toản (Chủ biên): “Một số vấn đề đổi mới quan hệ sở hữu đất đai”, Tạp chí thông tin lý luận, 1993