In trang này
Thứ hai, 11 Tháng 11 2024 01:59

Một vài nét về hoạt động giám sát Tòa án ở Trung Quốc trong bối cảnh cải cách thể chế giám sát Nhà nước

1. Bộ phận giám sát của Tòa án 

Trong bối cảnh cải cách thể chế giám sát nhà nước tại Trung Quốc, tư tưởng chủ yếu được nhấn mạnh là sự điều chỉnh và kết hợp giữa cơ cấu và chức năng. Đầu tiên, cần tạo ra một hệ thống giám sát hành chính mạnh mẽ, đảm bảo rằng các cơ quan chức năng được phối hợp chặt chẽ trong việc theo dõi và kiểm tra hoạt động của các tổ chức và công chức nhà nước. Tiếp theo, hoạt động chống tham nhũng và tiêu cực cần được tăng cường với việc triển khai các biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Cuối cùng, công tác điều tra và xử lý các trường hợp tham ô, hối lộ, cũng như những vi phạm nghiêm trọng trong thực hiện nhiệm vụ công cần phải được đẩy mạnh hơn nữa, nhằm tạo ra một môi trường làm việc minh bạch, công bằng. Như vậy, việc điều chỉnh và kết hợp giữa cơ cấu và chức năng trong lĩnh vực giám sát không chỉ giúp củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống chính quyền mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững cho xã hội. Có thể nói, trong công tác thí điểm cải cách, việc chuyển giao cơ cấu tổ chức, chức năng và nhân viên có liên quan chính là phương pháp luận chủ yếu nhất của cải cách, cũng là một trong những nội dung cải cách được mọi người quan tâm nhất. Đặc biệt là việc điều chỉnh, hợp nhất một phần chức năng của cơ quan kiểm sát, thậm chí còn dẫn đến các cuộc thảo luận về việc xác định lại vị trí tính chất pháp lý của quyền kiểm sát và quyền giám sát. Thực ra, khi mới thực hiện công tác thí điểm cải cách lần này, đã có không ít những tìm hiểu hay giả thiết về điều chuyển cơ cấu tổ chức và chức năng, ví như bộ phận kiểm toán nhà nước và chức năng kiểm toán có cần điều chuyển vào Ủy ban Giám sát hay không; và sau khi điều chỉnh, hợp nhất cơ cấu tổ chức và chức năng giám sát hành chính vào với Ủy ban Giám sát, nội bộ chính phú có cần bảo lưu chức năng giám sát hành chính với nội dung chủ yếu là giám sát hiệu quả và giám sát công tác chấp hành pháp luật hay không. Mặc dù, công tác thí điểm cải cách không ngừng được nhân rộng ở các địa bàn khác trên khắp Trung Quốc, nhưng những thảo luận liên quan cũng không vì thế mà kết thúc. Có điều, cho dù phương án cải cách đã được các nhà cải cách xác định, hoặc đã có các cuộc hội thảo khoa học liên quan, nhưng thường bỏ qua sự tồn tại của bộ phận giám sát của Tòa án và chức năng giám sát của Tòa án, điều này được tập trung biểu hiện ở việc bộ phận giám sát của Tòa án có cùng thuộc tính giám sát và chức năng chống tham nhũng nhưng lại chưa được chuyển giao cho Ủy ban Giám sát.

Rõ ràng, sự bỏ qua trong một số vấn đề không hề đơn giản mà ẩn chứa nhiều nhân tố cả chủ quan và khách quan. Tuy nhiên, những vấn đề nảy sinh từ hiện trạng này thực sự đáng suy ngẫm. Một trong những câu hỏi quan trọng đặt ra là: Trong bối cảnh có một Ủy ban Giám sát bao trùm toàn diện về phạm vi giám sát, liệu bộ phận giám sát của Tòa án có thể duy trì và phát huy được vai trò độc lập của mình hay không. Điều này đòi hỏi cần phân tích sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa các cơ quan giám sát, cũng như tính hiệu quả của hệ thống giám sát hiện nay. Nếu đã không có vị trí phát huy vai trò, vậy có lý do gì để bảo lưu bộ phận này trong Tòa án. Và nếu vẫn còn vị trí phát huy vai trò, thì vị trí ấy rốt cuộc là thế nào cũng như làm thế nào để bộ phận giám sát của Tòa án phát huy chức năng mong muốn với vị trí đó. Ngoài ra, thực chất ngay từ trước cải cách thể chế giám sát nhà nước, bộ phận giám sát của Tòa án đã trải qua một lần nguy cơ bị xóa sổ, tức trong quá trình cải cách thể chế kiểm tra kỷ luật của Đảng, tháng 12 năm 2014, Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành văn bản “Ý kiến về tăng cường xây dựng tổ chức đại diện của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương”, yêu cầu Ủy ban Kiểm tra kỷ luật các cấp của Đảng thành lập tổ chức kiểm tra kỷ luật đại diện theo phương thức đại diện độc lập và đại diện trực thuộc, đồng thời chấm dứt hoạt động của tổ chức giám sát, kiểm tra kỷ luật đặt trong các cơ quan. Do đó, bộ phận giám sát của Tòa án nằm trong danh sách tổ chức giám sát bị chấm dứt hoạt động, nhưng xét tới tính đặc thù của các cơ quan tư pháp, Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương về nguyên tắc đồng ý bảo lưu bộ phận giám sát của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.

2. Bối cảnh ra đời và thuộc tính “tổ chức” của giám sát tòa án

Khi nói đến hệ thống giám sát trong quản lý nhà nước, có thể thấy rõ rằng sự điều chuyển các bộ phận giám sát hành chính sang Ủy ban Giám sát diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn khá lạ lẫm với bộ phận giám sát của Tòa án. Thực tế, giữa giám sát của Tòa án và giám sát hành chính không chỉ có sự liên quan mà còn tồn tại nhiều nét khác biệt. Đầu tiên, giám sát hành chính thường tập trung vào việc kiểm tra và quản lý hoạt động của các cơ quan hành chính nhằm đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động của họ. Trong khi đó, giám sát của Tòa án lại chủ yếu liên quan đến việc bảo đảm công lý và quyền lợi hợp pháp của công dân thông qua việc xem xét các vụ việc cụ thể. Thứ hai, hình thức và quy trình giám sát ở hai bộ phận này cũng khác nhau, với giám sát hành chính thường mang tính chất kiểm tra định kỳ, còn giám sát của Tòa án thường được thực hiện thông qua các vụ kiện tụng. Như vậy, sự khác biệt và liên quan giữa hai hình thức giám sát này không chỉ giúp hệ thống giám sát hoạt động hiệu quả hơn mà còn tạo ra một cơ chế giám sát toàn diện hơn cho toàn bộ bộ máy nhà nước. Sự liên quan được biểu hiện ở chỗ cả hai đều liên quan tới bộ phận giám sát, nhắc nhở kỷ luật hành chính nội bộ mỗi bên, do đó, giữa chúng có điểm chung rất lớn về mặt hoạt động cũng như chức năng, thể chế, đồng thời, sự ra đời của thể chế giám sát tòa án cũng có thể coi là mô hình cải biến của thể chế giám sát hành chính. Sự khác biệt giữa chúng được thể hiện ở chỗ do tổ chức giám sát của Tòa án thuộc cơ quan xét xử và tổ chức giám sát hành chính thuộc cơ quan hành chính, đối tượng quản lý giám sát lần lượt là thực thi quyền xét xử và quyền hành chính, vì thế mà thể chế giám sát được thiết lập cũng khó tránh khỏi có sự khác nhau về chức năng thể chế và quy luật hoạt động.

Mô hình cải biến của thể chế giám sát hành chính và sự hình thành tổ chức giám sát của Tòa án

Thể chế giám sát tòa án ở Trung Quốc có một lịch sử hình thành muộn hơn rất nhiều so với thể chế giám sát hành chính và thể chế giám sát nhà nước. Tuy nhiên, sự phát triển của thể chế giám sát tòa án không thể tách rời khỏi những biến chuyển trong thể chế giám sát hành chính. Cụ thể, các cải cách trong giám sát hành chính đã tạo ra những tiền đề và áp lực cần thiết cho việc hình thành và phát triển thể chế giám sát tòa án. Khi mà giám sát hành chính ngày càng trở nên chặt chẽ và hiệu quả, những yêu cầu về tính minh bạch, công bằng và trách nhiệm cũng được đặt ra đối với hoạt động của tòa án. Do đó, thể chế giám sát tòa án đã phát triển để đáp ứng những yêu cầu này, trong khi vẫn đảm bảo rằng quyền lợi hợp pháp của công dân được bảo vệ một cách hiệu quả. Như vậy, mặc dù lịch sử phát triển không đồng đều, nhưng sự tương tác giữa hai hệ thống giám sát này cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng một cơ chế giám sát toàn diện và đồng bộ trong quản lý nhà nước. Kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Trung Quốc đã xây dựng thể chế giám sát kỷ luật hành chính do cơ quan giám sát thực hiện. Điều 19 của “Cương lĩnh chung của Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân nhân Trung Quốc” quy định, thành lập cơ quan giám sát nhân dân tại chính quyền các cấp từ cấp huyện, thành phố trở lên, nhằm giám sát việc cơ quan nhà nước các cấp và công chức các địa phương có thực hiện đúng chức trách của mình hay không, đồng thời thanh tra, phát hiện những cơ quan và nhân viên vi phạm hoặc không làm tròn chức trách. Theo quy định này, Chính vụ viện và chính quyền nhân dân các cấp địa phương lần lượt thành lập Ủy ban Giám sát nhân dân. Với sự ra đời của Ủy ban này, rõ ràng hệ thống giám sát hiện tại về danh nghĩa chính là hệ thống giám sát hành chính. Ủy ban Giám sát nhân dân có trách nhiệm giám sát việc thực hiện chức trách của các nhân viên hành chính, điều này phân biệt nó một cách rõ ràng với cơ quan kiểm sát. Chính vì sự khác biệt trong vai trò và chức năng này, Ủy ban Giám sát đã được xếp vào hàng cấp dưới của Chính vụ viện, thay vì trực thuộc Ủy ban Giám sát chính quyền nhân dân Trung ương. Điều này không chỉ phản ánh cơ cấu tổ chức mà còn cho thấy sự ưu tiên và vị trí của công tác giám sát hành chính trong hệ thống quản lý nhà nước, từ đó tạo ra một cơ chế giám sát có hệ thống và hiệu quả hơn trong việc quản lý bộ máy nhà nước. Nhưng trong thực tế, đối tượng giám sát của Ủy ban Giám sát khi đó lại có thể bao gồm tất cả các cơ quan và nhân viên nhà nước, trong đó bao gồm cả cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát. Ví dụ, theo quy định tại Điều 2 “Điều lệ tổ chức thí điểm của Ủy ban Giám sát nhân dân Chính vụ viện" ban hành tháng 10 năm 1950, đối tượng giám sát của Ủy ban Giám sát Chính vụ viện là cơ quan nhà nước các cấp và các nhân viên công vụ trên cả nước. Về mặt ý nghĩa này, việc giám sát hành chính trên danh nghĩa khi đó nghiễm nhiên trở thành việc giám sát nhà nước trên thực tế.

Sau khi Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc vụ viện được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa I thông qua vào tháng 9 năm 1954, một số thay đổi quan trọng đã diễn ra trong cơ cấu tổ chức của chính quyền Trung Quốc. Đầu tiên, Chính vụ viện đã được đổi tên thành Quốc vụ viện, đánh dấu một bước tiến mới trong việc củng cố cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước. Tiếp theo, Ủy ban Giám sát nhân dân cũng đã tương ứng đổi tên thành Bộ Giám sát, phản ánh sự chuyển mình trong chức năng và nhiệm vụ của cơ quan này. Những thay đổi này không chỉ liên quan đến tên gọi mà còn điều chỉnh vai trò của các bộ phận trong hệ thống chính trị, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác giám sát trong khuôn khổ quản lý nhà nước. Những diễn biến này cho thấy sự phát triển và hiện đại hóa của hệ thống tổ chức hành chính tại Trung Quốc trong bối cảnh lịch sử thời điểm đó. Từ đó, cho đến khi Bộ Giám sát giải thể vào tháng 4 năm 1959, Bộ Giám sát không còn có tính chất là cơ quan giám sát nhà nước như Ủy ban Giám sát nhân dân nữa, đối tượng giám sát phần lớn là cơ quan và nhân viên hành chính. Theo quy định tại Điều 2 “Tóm tắt nguyên tắc tổ chức của Bộ Giám sát” công bố năm 1955, đã có những thay đổi rõ rệt trong phạm vi giám sát của Bộ Giám sát. Cụ thể, các cơ quan phi hành chính như cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát đã không còn là đối tượng của giám sát hành chính. Điều này có nghĩa là Bộ Giám sát sẽ không tham gia vào việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của những cơ quan này. Thay vào đó, đối tượng giám sát của Bộ Giám sát chỉ giới hạn trong các cơ quan, tổ chức thuộc Quốc vụ viện, các cơ quan hành chính ở cấp địa phương, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân có vốn đầu tư nhà nước, cũng như các hợp tác xã. Sự hạn chế này không chỉ phản ánh rõ nét vai trò của Bộ Giám sát trong việc quản lý và kiểm tra các hoạt động hành chính mà còn cho thấy cách tiếp cận cụ thể của Nhà nước trong việc tổ chức và phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Điều này cho thấy rằng trong bối cảnh đó, Bộ Giám sát tập trung vào việc bảo đảm sự minh bạch và hiệu quả của các tổ chức nhà nước để phục vụ tốt hơn cho lợi ích công cộng. Kể từ khi Bộ Giám sát được thành lập lại vào tháng 11 năm 1986, cho đến khi triển khai cải cách thể chế giám sát nhà nước hiện nay, Bộ Giám sát luôn có tính chất là cơ quan giám sát hành chính. Tổ chức giám sát hành chính các cấp, trong đó có Bộ Giám sát, phụ trách giám sát công tác kỷ luật hành chính đối với các cơ quan hành chính và toàn bộ nhân viên thuộc cơ quan hành chính.

Từ những nội dung sửa đổi phía trên có thể thấy, giám sát hành chính Trung Quốc đã trải qua quá trình thay đổi chế độ từ giám sát nhà nước đến giám sát hành chính. Sự thay đổi này tuy sát với thực tế, phù hợp với logic của chế độ giám sát hành chính, nhưng cũng đưa các cơ quan phi hành chính như cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát ra ngoài phạm vi giám sát, nói cách khác, ở một ý nghĩa nhất định đã xuất hiện khoảng trống giám sát trong giám sát kỷ luật hành chính đối với cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát, tuy vậy, để cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát thực hiện quyền xét xử theo pháp luật, thì không thể thiếu công tác giám sát kỷ luật hành chính vì nếu hệ thống Tòa án thiếu bộ phận chuyên phụ trách điều tra xử lý các trường hợp vi phạm kỷ luật thì tất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính liêm chính của Tòa án. Vì thế, để bảo đảm việc cán bộ, nhân viên Tòa án nghiêm túc thực hiện chức trách của mình, bảo đảm việc thực thi pháp luật và chính sách của nhà nước chính xác, xuyên suốt, Đảng bộ Tòa án nhân dân tối cao đã nghiên cứu và quyết định thành lập tổ chức giám sát nội bộ trong hệ thống Tòa án nhân dân toàn quốc.

Tháng 7 năm 1989, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Kế hoạch tổ chức nhà nước đã phối hợp công bố “Thông báo thành lập tổ chức giám sát tòa án nhân dân các cấp”, “Quyết định thành lập văn phòng giám sát tại Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương các cấp cũng thành lập tổ chức giám sát tương ứng. Văn phòng giám sát là tổ chức có hai danh nghĩa, bao gồm: tổ chức nội bộ của Tòa án và bộ phận kiểm tra kỷ luật của Tòa án”. Sau đó, tháng 8 năm 1989, Tòa án nhân dân tối cao ban hành “Quy định tạm thời về một số vấn đề thành lập tổ chức giám sát của hệ thống Tòa án”, đưa ra các quy định tương đối cụ thể đối với các vấn đề của bộ phận giám sát của Tòa án như tính chất, đối tượng giám sát, nhiệm vụ chủ yếu, thẩm quyền, cơ chế lãnh đạo, sắp xếp vị trí và biên chế nhân sự,... Đồng thời, để công tác giám sát kỷ luật hành chính của bộ phận giám sát của Tòa án được thực hiện một cách có quy củ, tháng 3 năm 1990, Toà án nhân dân tối cao ban hành các văn bản mang tính quy phạm như “Quy định tạm thời trong công tác giám sát của Tòa án nhân dân”, “Các biện pháp tạm thời trong việc điều tra, xử lý vi phạm kỷ luật của bộ phận giám sát của Tòa án nhân dân”. Để hoàn thiện hơn nữa quy chế giám sát nội bộ của Tòa án nhân dân, thúc đẩy công tác giám sát tòa án nhân dân phát triển sâu hơn, tháng 6 năm 2008, Tòa án nhân dân tối cao ban hành “Điều lệ công tác giám sát của Tòa án nhân dân”, quy định khá chi tiết các nội dung như bộ phận giám sát của Tòa án và nhân viên giám sát, chức trách và quyền hạn của bộ phận giám sát, trình tự giám sát, bãi bỏ “Quy định tạm thời trong công tác giám sát của Tòa án nhân dân” đã ban hành trước đó. Tháng 01 năm 2013, Tòa án nhân dân tối cao tiến hành sửa đổi “Điều lệ công tác giám sát của Tòa án nhân dân”. Theo đó, bộ phận giám sát của Tòa án là đơn vị chuyên môn có chức năng giám sát trong nội bộ Tòa án, Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp cao thành lập cục giám sát, Tòa án nhân dân cấp trung thành lập phòng giám sát, Tòa án nhân dân cơ sở thành lập giám sát hoặc giám sát viên.

Căn cứ theo các quy định liên quan của “Điều lệ công tác giám sát của Tòa án nhân dân”, thẩm quyền của bộ phận giám sát của Tòa án tương đối rộng, như có quyền kiểm tra tình hình tuân thủ và chấp hành quy định pháp luật của Tòa án và các thẩm phán; việc thụ lý đơn thư tố giác, khiếu nại về các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật của Tòa án và thẩm phán; điều tra, xử lý các hành vi vi phạm kỷ luật của Tòa án và thẩm phán. Ngoài ra, cũng giống như biện pháp “yêu cầu giải trình vào thời gian và địa điểm chỉ định” của tổ chức giám sát hành chính, được sự phê chuẩn của bộ phận giám sát của Tòa án trên một cấp, bộ phận giám sát của Tòa án cũng có thể yêu cầu các nhân viên bị nghi ngờ liên quan đến vi phạm kỷ luật phải giải trình các vấn đề liên quan tới công tác điều tra theo thời gian và địa điểm được chỉ định. Tuy nhiên, bộ phận giám sát của Tòa án không có quyền trực tiếp xử lý kỷ luật đối với người vi phạm. Theo quy định tại Điều 33 “Điều lệ công tác giám sát của Tòa án nhân dân”, bộ phận giám sát không thể tự mình thực hiện các hình thức xử lý kỷ luật như cảnh cáo, lập biên bản lần thứ nhất, lập biên bản lần thứ hai, giáng chức, bãi chức hay buộc thôi việc. Thay vào đó, bộ phận này chỉ đóng vai trò là chủ thể có trách nhiệm đưa ra ý kiến xử phạt. Điều này có nghĩa là mặc dù bộ phận giám sát có trách nhiệm theo dõi và phát hiện các hành vi vi phạm, nhưng quyết định cuối cùng về hình thức xử lý kỷ luật thuộc về các cơ quan có thẩm quyền khác trong Tòa án. Qua đó, có thể thấy rằng cơ chế giám sát tại Tòa án không chỉ bảo đảm tính khách quan và công bằng trong quá trình xử lý kỷ luật mà còn giúp duy trì sự phân công rõ ràng về quyền lực và trách nhiệm trong hệ thống tư pháp, cần chờ Chánh án hoặc Hội đồng thẩm phán Tòa án phê duyệt mới có thể đưa ra quyết định xử lý kỷ luật tương ứng với danh nghĩa của Tòa án. Đối với các hình thức kỷ luật như bãi chức, buộc thôi việc, còn cần đệ trình xin ý kiến Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp hoặc Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp, sau khi được phê chuẩn mới có thể tiến hành xử lý kỷ luật.

Duy trì kỷ luật nội bộ là một trong những thuộc tính quan trọng trong giám sát tòa án. Giám sát tòa án, giống như giám sát hành chính, đều coi việc giám sát kỷ luật chính trị là một chức trách chủ yếu trong quá trình hoạt động của mình. Điều này cho thấy cả hai hệ thống giám sát đều có những nhiệm vụ tương đồng trong việc bảo đảm kỷ luật nội bộ và duy trì trật tự trong tổ chức. Sự tương đồng này không chỉ phản ánh tầm quan trọng của việc giám sát trong các cơ quan nhà nước mà còn nhấn mạnh vai trò của kỷ luật chính trị trong việc xây dựng một môi trường làm việc có trách nhiệm và hiệu quả. Do đó, việc duy trì kỷ luật nội bộ trở thành một yếu tố không thể thiếu trong hệ thống giám sát tòa án. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa chúng cũng rất dễ nhận thấy: bộ phận giám sát của Tòa án thuộc nội bộ Tòa án, giám sát việc thực hiện quyền xét xử của Tòa án và các thẩm phán, ngoài giám sát việc chấp hành pháp luật chung, còn giám sát việc chấp hành quy tắc kỷ luật của nội bộ Tòa án; trong khi đó, tổ chức giám sát hành chính lại thuộc nội bộ chính phủ, giám sát việc sử dụng quyền hành chính của chính quyền và các cán bộ, công chức hành chính, ngoài giám sát việc chấp hành pháp luật chung, còn giám sát việc chấp hành quy tắc kỷ luật của nội bộ chính quyền. Căn cứ vào đó, thuộc tính ngành của giám sát tòa án chủ yếu có hai điểm chính. Thứ nhất, bộ phận giám sát của Tòa án được xác định là tổ chức có chức trách giám sát việc thực hiện các quy tắc kỷ luật trong nội bộ Tòa án. Điều này được quy định rõ ràng trong các văn bản như “Điều lệ xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức của Tòa án nhân dân”, “Quy phạm hành vi của thẩm phán”, cũng như “Các biện pháp thực thi Quy định ghi chép và truy cứu trách nhiệm điều tra của cán bộ, công chức, viên chức cơ quan tư pháp” do Tòa án nhân dân ban hành. Như vậy, vai trò của bộ phận giám sát không chỉ dừng lại ở việc theo dõi các hoạt động, mà còn đảm bảo việc thực hiện các quy tắc và quy định đã đề ra, từ đó góp phần duy trì kỷ luật và trật tự trong bộ máy tư pháp. Điều này thể hiện sự cần thiết của một cơ chế giám sát hiệu quả, giúp bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động của các cán bộ, công chức trong Tòa án. Ví dụ, Điều 90 “Quy phạm hành vi của thẩm phán” quy định, Tòa án nhân dân các cấp phải nghiêm khắc yêu cầu và nhắc nhở các thẩm phán tuân thủ, việc giám sát cụ thể do ban chính trị và bộ phận giám sát kỷ luật của Tòa án các cấp phụ trách. Hay như theo “Một số ý kiến về hoàn thiện chế độ trách nhiệm tư pháp của Tòa án nhân dân” do Tòa án nhân dân tối cao ban hành, bộ phận giám sát của Tòa án tiến hành điều tra xem hành vi của các thẩm phán có vi phạm quy định hay không, vấn đề xử lý kỷ luật sẽ do bộ phận giám sát kỷ luật giải quyết cụ thể. Tuy nhiên, loại nguyên tắc kỷ luật nội bộ này không có tính pháp lý chặt chẽ, cũng không thể bao hàm trong phạm vi giải thích của tư pháp Tòa án. Đối với điều này, có người gọi đó là quy định tư pháp, đồng thời coi đó là sự bảo đảm để cơ quan tư pháp thực hiện quản lý hiệu quả công việc hành chính tư pháp. Bởi trong Luật thẩm phán của Trung Quốc có tương đối ít các quy định liên quan tới chế độ xử lý kỷ luật đối với thẩm phán, mà việc hạn chế hành vi của thẩm phán thông qua các quy tắc kỷ luật nhất định lại tương đối cần thiết, vì thế các quy định liên quan đến nó đa phần nằm rải rác trong các văn bản quy chuẩn nội bộ không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Đương nhiên, tất cả các công việc liên quan tới xử lý kỷ luật thẩm phán đều do pháp luật nhà nước quy định là điều không cần thiết và cũng không thể thực hiện. Ngoài ra, theo "Điều lệ công tác giám sát của Tòa án nhân dân", bộ phận giám sát của Tòa án các cấp có thể thực hiện giám sát toàn bộ các phòng, ban chức năng, thẩm phán và các cán bộ, nhân viên khác thuộc biên chế Tòa án.

Thứ hai, sự liên quan và những nét riêng biệt giữa giám sát tòa án và giám sát hành chính là điều dễ nhận thấy. Đầu tiên, cả hai đều đóng vai trò là tổ chức giám sát kỷ luật hành chính, do đó, chúng có những điểm tương đồng nhất định trong cấu trúc và chức năng. Chẳng hạn, cả hai hệ thống đều có thẩm quyền giám sát, điều này cho phép họ can thiệp vào các hoạt động của các tổ chức và cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm tính tuân thủ quy định pháp luật. Thêm vào đó, cơ cấu tổ chức của giám sát tòa án và giám sát hành chính cũng có nhiều nét tương đồng, từ cách bố trí bộ máy đến quy trình làm việc. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm chung đó, mỗi loại hình giám sát cũng tồn tại những đặc điểm riêng biệt, phản ánh bản chất và mục tiêu khác nhau của từng lĩnh vực. Như vậy, việc phân tích những nét giống và khác giữa hai hệ thống này không chỉ giúp làm rõ chức năng của từng loại hình giám sát mà còn nhấn mạnh vai trò quan trọng của chúng trong việc duy trì kỷ luật hành chính trong bộ máy nhà nước. Ví dụ, “Điều lệ công tác giám sát của Tòa án nhân dân” thực ra được xây dựng trên cơ sở tham chiếu nội dung và quy định của Luật giám sát hành chính. Đồng thời, trong thực tiễn cụ thể của công tác giám sát tòa án, khi triển khai công tác, bộ phận giám sát của Tòa án cũng đã tham khảo nhiều văn bản quy chuẩn do bộ phận giám sát hành chính xây dựng. Cho dù như vậy, sự khác biệt giữa chúng cũng dễ dàng nhận thấy, như trong quá trình xây dựng Luật giám sát hành chính, Điều 47 Luật giám sát hành chính (Bản dự thảo sửa đổi) thực ra đã có quy định, căn cứ theo nhu cầu công việc, cơ quan nhà nước tham chiếu Luật giám sát hành chính để thành lập bộ phận giám sát nội bộ. Nhưng trong quá trình trình xin ý kiến của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, có ủy viên cho rằng việc các cơ quan nhà nước bao gồm cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát, thành lập bộ phận giám sát kỷ luật nội bộ khác so với tổ chức giám sát và công tác giám sát được nêu trong Luật giám sát hành chính, không nên quy định trong Luật giám sát hành chính. Chính vì thế điều khoản này cuối cùng đã bị xóa bỏ. Đồng thời với đó, đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân tối cao lúc này là Tiêu Dương khi bàn về mối quan hệ giữa công tác giám sát của Tòa án và công tác giám sát của nhà nước cũng phát biểu rằng: “Công tác giám sát kỷ luật của Tòa án nhân dân là yếu tố cấu thành quan trọng của công tác giám sát kỷ luật của Đảng và Nhà nước, vừa có nhiều điểm chung so với công tác giám sát kỷ luật của các ban, ngành khác, vừa có đặc điểm riêng". Ngoài ra, giữa bộ phận giám sát của Tòa án và tổ chức giám sát hành chính "không tồn tại quan hệ lãnh đạo về mặt tổ chức, cũng không tồn tại quan hệ chỉ đạo về mặt nghiệp vụ”. Tuy nhiên, từ tháng 02/1993, sau khi Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc vụ viện phê chuẩn và chuyển lại cho Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương, Bộ Giám sát “Xin ý kiến về các vấn đề liên quan tới việc hợp nhất làm việc và thành lập tổ chức giữa Ủy ban Kiểm tra kỷ luật và các cơ quan thuộc Bộ Giám sát", cơ quan kiểm tra kỷ luật các cấp của Đảng và tổ chức giám sát hành chính các cấp thực hiện hợp nhất làm việc. Còn trong nội bộ Tòa án, tổ chức đại diện của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật và bộ phận giám sát của Tòa án cũng có cơ chế hợp nhất tương tự, do tổ chức của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật đại diện trong Tòa án chịu sự lãnh đạo của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật, vì thế, công tác của bộ phận giám sát của Tòa án trên thực tế cũng chịu ảnh hưởng của tổ chức giám sát hành chính cùng cấp.