Kinh tế thế giới năm 2025 - 2026 dự báo tiếp tục xu hướng tăng trưởng chậm, tính bất định, khó lường và rủi ro gia tăng. Xung đột, căng thẳng gia tăng, nguy cơ bùng phát chiến tranh; khủng hoảng kinh tế dưới sức ép của lạm phát, nợ công tăng cao và sự bất ổn của tài chính toàn cầu; khủng hoảng năng lượng và an ninh lương thực; các hiện tượng thời tiết cực đoan; khủng hoảng chuỗi cung ứng do biến động kinh tế và địa chính trị tiếp tục làm gián đoạn sản xuất và vận chuyển toàn cầu.
Một số nền kinh tế lớn nhiều khả năng không giữ được tăng trưởng. IMF (7/2025) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2025 đạt 3%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với dự báo tháng 01/2025 của Tổ chức này. Tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026 được dự báo đạt 2,9%, giảm 0,4 điểm phần trăm. Sự điều chỉnh này diễn ra khi mức độ bất định trên toàn cầu tăng cao, do hàng loạt động thái khó lường của Tổng thống Donald Trump về thuế quan, từ công bố áp thuế quan cho tới tạm hoãn một số thuế quan đã công bố và cảnh báo sẽ tiếp tục có thêm thuế quan mới.
Năm 2026 được dự báo là giai đoạn ổn định hơn nhưng tăng trưởng chậm lại, với sự phân hóa giữa các khu vực. Các nền kinh tế cần cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định vĩ mô, đồng thời quản lý rủi ro từ lạm phát, chi phí tài chính và thương mại. Việt Nam có cơ hội bứt phá mạnh mẽ nếu khai thác hiệu quả các động lực nội tại và đầu tư.
Dự báo tác động tích cực đến kinh tế Việt Nam
Xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn như FED, ECB, PBoC sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn quốc tế chảy vào các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam. Khi lãi suất tại các thị trường phát triển giảm, lợi suất trái phiếu tại các nước này trở nên kém hấp dẫn hơn, khuyến khích dòng vốn tìm kiếm cơ hội sinh lời ở các thị trường đang phát triển. Điều này có thể giúp Việt Nam thu hút thêm dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và gián tiếp (FII), đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất, công nghệ và năng lượng tái tạo.
Các chính sách kích thích tài khóa và tiêu dùng quy mô lớn tại Trung Quốc sẽ tạo ra cơ hội cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam gia tăng xuất khẩu sang thị trường này. Việc Trung Quốc mở rộng trợ cấp tiêu dùng, tăng đầu tư công và nới lỏng các quy định tài chính có thể thúc đẩy nhu cầu đối với các mặt hàng nông sản, thực phẩm chế biến, hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu nhập khẩu. Nếu tận dụng tốt, Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc, giúp bù đắp cho những khó khăn từ các thị trường khác.
Xu hướng dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc tiếp tục mang lại lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam. Trong bối cảnh Hoa Kỳ gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại, đặc biệt là áp thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc, nhiều doanh nghiệp đa quốc gia sẽ đẩy nhạnh chiến lược "Trung Quốc +1" để mở rộng sản xuất sang các quốc gia Đông Nam Á. Việt Nam, với lợi thế về chi phí lao động cạnh tranh, vị trí địa lý thuận lợi và các FTA đã ký kết, sẽ là điểm đến hấp dẫn cho các tập đoàn lớn, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử và công nghệ cao.
Sự phát triên của các công nghệ mới, đặc biệt là tri tuệ nhân tạo, chuỗi cung ứng thông minh và kinh tế số, sẽ mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam. Khi các nước phát triển đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực này, các doanh nghiệp công nghệ và dịch vụ số của Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, thông qua xuất khẩu phần mềm, dịch vụ gia công trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và TMĐT xuyên biên giới.
Xu hướng tăng trưởng ổn định của các nền kinh tế châu Á như Ấn Độ, ASEAN và Trung Đông sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nền kinh tế truyền thống như Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu có sự phân mảnh, việc phát triển các quan hệ thương mại mới với Án Độ, Trung Đông, châu Phi sẽ là chiến lược quan trọng để duy trì tăng trưởng bền vững.
Ngành du lịch Việt Nam có thể hưởng lợi từ xu hướng phục hồi du lịch toàn cầu. Khi kinh tế thế giới ổn định hơn và các nước tiếp tục nới lỏng các chính sách nhập cảnh, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam sẽ tiếp tục tăng. Các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu và Hoa Kỳ có thể gia tăng nhu cầu du lịch, tạo động lực cho ngành dịch vụ, lưu trú và hàng không của Việt Nam.
Bên cạnh đó, kinh tế Việt Nam cũng nên lường trước với những tác động tiêu cựcn như: [1] Căng thẳng địa chính trị toàn cầu, đặc biệt là căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trước mặt sẽ gây bất ổn vĩ mô toàn cầu, thị trường tài chính, tiền tệ, làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng: [2] Áp lực lạm phát vẫn là một yếu tố đáng lo ngại, đặc biệt khi các biện pháp kích thích tài khóa quy mô lớn được triển khai tại nhiều quốc gia, có thể làm gia tăng giá cả hàng hóa và tác động đến chi phí nhập khẩu của Việt Nam; [3] Rủi ro về tỷ giá gia tăng với xu hướng mạnh lên của đồng USD; [4] Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có thể chịu ảnh hưởng từ biến động toàn cầu. Dù nhiều TTCK lớn trên thế giới tiếp tục xu hướng tăng trưởng, nhưng sự bất ổn trong chính sách kinh tế và thương mại của các nền kinh tế lớn có thể làm suy giảm tâm lý nhà đầu tư.
Tham khảo:
1. Sách “Kinh tế - Tài chính Việt Nam 2024-2025: Đổi mới cho tăng trưởng cao trong kỷ nguyên mới”, Viện Chiến lược vầ chính sách kinh tế - tài chính.
2. IMF nâng triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2025 và 2026
https://thitruongtaichinhtiente.vn/imf-nang-trien-vong-kinh-te-toan-cau-nam-2025-va-2026-69444.html
Để thực hiện nhiệm vụ Quốc hội đề ra, công tác quản lý điều hành giá trong năm 2025 cần bảo đảm thực hiện kiểm soát lạm phát, đồng thời tiếp tục hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân, tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường các dịch vụ công và hàng hóa do Nhà nước quản lý khi điều kiện cho phép; các bộ, ngành, địa phương tiếp tục chủ động triển khai thi hành Luật Giá năm 2023 và các văn bản hướng dẫn Luật theo thẩm quyền quản lý, đảm bảo thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không tạo khoảng trống pháp lý. Bộ Tài chính sẽ chủ động phối hợp với các bộ, ngành đề tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phú - Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá và thực hiện theo thẩm quyền đồng bộ các giải pháp, biện pháp chủ động ứng phó với những thách thức trong công tác quản lý giá; trong đó, tăng cường tập trung các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2025 để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thuật lợi cho phát triển KT-XH, cụ thể như sau:
Tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong đó, thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị định, nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, Ban Chỉ đạo giá trong điều hành kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chủ động phối hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và quản lý giá nhằm đảm bảo thực hiện đạt kết quả cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường từng mặt hàng, đặc biệt là các hàng hóa, dịch vụ thiết yêu. Chủ động rà soát các phương án điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý, các dịch vụ công đang triển khai lộ trình thị trường, đánh giá kỹ tác động đối với mặt bằng giá, mục tiêu kiểm soát lạm phát để có phương án điều chỉnh giá phù hợp. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tổng hợp, phân tích, dự báo, xây dựng các kịch bản, phương án ứng phó trong trường hợp các hàng hóa trên thị trường thế giới tiếp tục tăng cao để điều hành sản xuất trong nước, cân đối và điều hành cung cầu, góp phần giữ ổn định giá cả thị trường.
Tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, thông qua chủ động phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và quản lý giá; nâng cao hiệu quả trong điều hành, phối hợp chính sách (đặc biệt là giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác); khai thác tốt dư địa của chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ nhằm thúc đầy tăng trưởng, ổn định vĩ mô, bình ổn tỷ giá, thị trường tài chính - tiền tệ, đảm bảo an sinh xã hội. Cân nhắc dự địa nợ công, bội chi ngân sách nhà nước còn thấp so với giới hạn cho phép để huy động thêm nguồn lực cho phát triển, nhất là đầu tư cho các công trình hạ tầng chiến lược quốc gia.
Theo ADB, các chính sách phối hợp đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ phục hồi nền kinh tế. Trong ngắn hạn, chính sách tiền tệ nới lỏng cần phải được phối hợp chặt chẽ với việc thực hiện chính sách tài khoá để thúc đẩy hiệu quả các hoạt động của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ cần theo đuổi mục tiêu kép là ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế, ngay cả khi không gian chính sách bị hạn chế. Trong khi chính sách tiền tệ phản ứng với các diễn biến thực tiễn thì dư địa điều hành chính sách khá hạn chế, do đó, cần tăng cường hỗ trợ tài khóa, tăng giải ngân vốn đầu tư công... để giảm bớt gánh nặng cho chính sách tiền tên trong việc củng cố nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ tiếp tục thực hiện linh hoạt trong điều hành lãi suất, tỷ giá để thích ứng các tác động của bất ổn thế giới. Do chính sách tiền tệ của Việt Nam đang gặp thách thức trong xử lý mối quan hệ giữa chính sách lãi suất - chính sách tỷ giá hối đoái - dòng vốn nước ngoài. Để đảm bảo dòng vốn vào Việt Nam không bị ảnh hưởng thì hoặc ổn định lãi suất hoặc ổn định tỷ giá, khó có thể cùng một lúc thực hiện cả hai nhiệm vụ, vì vậy để đưa ra lựa chọn, cần phân tích theo hướng tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa thiệt hại đến tổng thể cũng như từng bộ phận của nền kinh tế. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam có độ mở rất lớn, kim ngạch xuất, nhập khẩu lên tới 200% GDP, trong đó 70% xuất khẩu là do khu vực có vốn FDI cung cấp.
Đối với điều hành chính sách tín dụng, cần thận trọng, đảm bảo cân bằng hợp lý giữa thúc đẩy phục hồi kinh tế và đảm bảo ổn định tài chính. Để giảm bớt sức ép cho hệ thống ngân hàng, cần phát triển thị trường chứng khoán bền vững, trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế; đẩy nhanh nâng hạng thị trường chứng khoán, đồng thời thực hiện các giải pháp phát triển thị trường thị trường doanh nghiệp.
Tiếp tục rà soát để thực hiện lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ công theo lộ trình thị trường và các mặt hàng do Nhà nước quản lý theo nguyên tắc thị trường, thực hiện đánh giá, tính toán kỹ tác động để tránh gây xáo trộn lớn về mặt bằng giá cả, ảnh hướng lớn đến đời sống của người dân, bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát.
Thực hiện công tác truyền thông, thông tin rộng rãi tới công chúng trước khi điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý để tránh các thông tin không chính xác, gây hoang mang dư luận. Công khai minh bạch thông tin về giá và công tác điều hành giá của Chính phủ, Ban Chỉ đạo điều hành giá, các bộ, ngành, địa phương để kiểm soát lạm phát kỳ vọng. Bên cạnh đó, khuyến khích doanh nghiệp, người dân tăng cường triển khai các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng (xăng dầu, điện...) nhằn góp phần tiết giảm chi phí giá thành sản phẩm, giảm chi phí xã hội, thúc đẩy bảo vệ môi trường.
Tham khảo:
1. Sách “Kinh tế - Tài chính Việt Nam 2024-2025: Đổi mới cho tăng trưởng cao trong kỷ nguyên mới”, Viện Chiến lược vầ chính sách kinh tế - tài chính.
2. Thủ tướng: Kiên định mục tiêu tăng trưởng cao nhưng bền vững, ổn định và phát triển
3. Có giải pháp kiểm soát lạm phát phù hợp mục tiêu tăng trưởng
https://tuoitrethudo.vn/co-giai-phap-kiem-soat-lam-phat-phu-hop-muc-tieu-tang-truong-271222.html&link=autochanger
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Hưởng bảo hiểm xã hội một lần?
Trả lời:
Căn cứ Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, các đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động nhưng có thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 15 năm mà không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội.
Trường hợp người lao động không hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì có thể lựa chọn hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
- Ra nước ngoài để định cư;
- Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS;
- Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực thi hành, sau 12 tháng không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội.
Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:
- Bằng 1,5 lần của mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với năm đóng trước năm 2014.
Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội có cả trước và sau năm 2014 mà thời gian đóng trước năm 2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi để tính mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần;
- Bằng 02 lần của mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với năm đóng từ năm 2014 trở đi;
- Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng nhưng không quá 02 lần của mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần của đối tượng được Nhà nước hỗ trợ thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 không bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, trừ trường hợp quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Thời điểm tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần là thời điểm ghi trong quyết định của cơ quan bảo hiểm xã hội.
Trường hợp người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 vừa đủ điều kiện hưởng lương hưu vừa đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì người lao động được lựa chọn hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện?
Trả lời:
Căn cứ Điều 104 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định như sau:
1. Mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính bằng bình quân các mức thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng.
2. Thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.
Câu hỏi: Hồ sơ đề nghị hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện gồm những gì?
Trả lời:
Căn cứ Điều 105 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Hồ sơ đề nghị hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm sổ bảo hiểm xã hội và văn bản đề nghị hưởng lương hưu.
Câu hỏi: Hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần gồm những gì?
Trả lời:
Căn cứ Điều 106 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Văn bản đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động.
Trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 102 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, ngoài hồ sơ trên thì có thêm bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ sau đây:
- Hộ chiếu do nước ngoài cấp;
- Thị thực của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp có xác nhận việc cho phép nhập cảnh để định cư ở nước ngoài;
- Thẻ thường trú dài hạn ở nước ngoài của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp;
- Giấy tờ hợp pháp khác thể hiện việc định cư ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
Trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 102 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, ngoài Sổ bảo hiểm xã hội; Văn bản đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động thì có thêm bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc bản chính hoặc bản sao giấy ra viện.
Trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 102 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, ngoài Sổ bảo hiểm xã hội; Văn bản đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động thì có thêm biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao giấy xác nhận mức độ khuyết tật đặc biệt nặng.
Câu hỏi: Giải quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần đối với người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 107 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
1. Trong thời hạn 20 ngày trước thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nộp hồ sơ quy định tại Điều 105 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
2. Người lao động khi đủ điều kiện và có yêu cầu hưởng bảo hiểm xã hội một lần nộp hồ sơ quy định tại Điều 106 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của tháng dừng đóng bảo hiểm xã hội hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động là căn cứ để xác định thời điểm đủ điều kiện giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với trường hợp người hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 102 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
3. Trong thời hạn 20 ngày, không bao gồm ngày nghỉ lễ, tết, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người đề nghị hưởng lương hưu hoặc trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu hỏi: Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thai sản được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 96 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thai sản gồm Bản sao giấy khai sinh hoặc trích lục khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con;
Trường hợp thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ hoặc con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh thì hồ sơ là một trong các giấy tờ sau đây:
- Bản chính hoặc bản sao bản tóm tắt hồ sơ bệnh án có thể hiện thông tin con chết;
- Bản chính hoặc bản sao giấy ra viện của lao động nữ sinh con có thể hiện thông tin con chết;
- Bản sao giấy báo tử của con;
- Văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp con chết trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Giải quyết hưởng trợ cấp thai sản?
Trả lời:
Căn cứ Điều 97 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, việc giải quyết hưởng trợ cấp thai sản được quy định như sau:
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại Điều 96 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu?
Trả lời:
Căn cứ Điều 98 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm trở lên.
Câu hỏi: Mức lương hưu hằng tháng được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 99 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức lương hưu hằng tháng được quy định như sau:
1. Với đối tượng đủ điều kiện quy định tại Điều 98 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được tính như sau:
a) Đối với lao động nữ bằng 45% mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 104 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%;
b) Đối với lao động nam bằng 45% mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 104 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tương ứng 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.
Trường hợp lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm, mức lương hưu hằng tháng bằng 40% mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 104 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 1%.
2. Việc điều chỉnh lương hưu được thực hiện theo quy định tại Điều 67 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
3. Việc tính mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu mà có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên nhưng có thời gian đóng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam dưới 15 năm thì mỗi năm đóng trong thời gian này được tính bằng 2,25% mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 104 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Câu hỏi: Mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 100 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được quy định:
1. Lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm, lao động nữ có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 30 năm thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
2. Mức hưởng trợ cấp một lần cho mỗi năm đóng cao hơn quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng 0,5 lần của mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 104 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho mỗi năm đóng cao hơn đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 98 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mà tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội thì mức trợ cấp bằng 02 lần của mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 104 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho mỗi năm đóng cao hơn số năm quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 kể từ sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật đến thời điểm nghỉ hưu.
Câu hỏi: Thời điểm hưởng lương hưu được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 101 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, thời điểm hưởng lương hưu được quy định như sau:
1. Thời điểm hưởng lương hưu đối với đối tượng quy định tại Điều 98 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được tính từ ngày đầu tiên của tháng liền kề sau tháng đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 98 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
2. Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau khi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày đầu tiên của tháng liền kề sau tháng dừng đóng và có yêu cầu hưởng lương hưu.
3. Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng một lần cho những năm còn thiếu theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 36 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày đầu tiên của tháng liền kề sau tháng đóng đủ số tiền cho những năm còn thiếu.
Câu hỏi: Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 103 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người lao động dừng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 98 hoặc chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 102 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hoặc chưa hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
Câu hỏi: Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ tử tuất được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 90 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, hồ sơ đề nghị hưởng chế độ tử tuất được quy định như sau:
1. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ tử tuất đối với thân nhân của người đang tham gia bảo hiểm xã hội hoặc đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm:
- Sổ bảo hiểm xã hội;
- Bản sao giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử hoặc bản sao giấy báo tử hoặc bản sao quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết;
- Tờ khai của thân nhân;
- Bản chính hoặc bản sao biên bản điều tra tai nạn lao động đối với trường hợp chết do tai nạn lao động; bản sao bệnh án điều trị bệnh nghề nghiệp đối với trường hợp chết do bệnh nghề nghiệp;
- Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao giấy xác nhận mức độ khuyết tật đặc biệt nặng có thể hiện kết luận của Hội đồng giám định y khoa ghi rõ tỷ lệ phần trăm suy giảm khả năng lao động đối với thân nhân bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
2. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ tử tuất đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu hoặc đang tạm dừng hưởng lương hưu hoặc trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc bao gồm:
- Bản sao giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử hoặc bản sao giấy báo tử hoặc bản sao quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết;
- Tờ khai của thân nhân;
- Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao giấy xác nhận mức độ khuyết tật đặc biệt nặng có thể hiện kết luận của Hội đồng giám định y khoa ghi rõ tỷ lệ phần trăm suy giảm khả năng lao động đối với thân nhân bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
3. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp mai táng đối với trường hợp chỉ hưởng trợ cấp mai táng bao gồm:
- Sổ bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp người đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng;
- Bản sao giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử hoặc bản sao giấy báo tử hoặc bản sao quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết;
- Tờ khai của tổ chức, cá nhân lo mai táng.
4. Việc giải quyết hưởng chế độ tử tuất đối với người nước ngoài do Chính phủ quy định.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm so với thời hạn quy định?
Trả lời:
Căn cứ Điều 92 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, việc giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm so với thời hạn quy định được quy định như sau:
1. Trường hợp nộp hồ sơ quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 48, khoản 1 Điều 49, khoản 1 Điều 62, khoản 1 Điều 63, khoản 1 Điều 79, khoản 1 và khoản 2 Điều 91 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì phải giải trình bằng văn bản và gửi cho cơ quan bảo hiểm xã hội khi nộp hồ sơ.
2. Trường hợp nộp hồ sơ quá thời hạn quy định hoặc giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm so với thời hạn quy định, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thụ hưởng thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp do lỗi của người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Hình thức chi trả lương hưu và chế độ bảo hiểm xã hội?
Trả lời:
Căn cứ Điều 93 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, hình thức chi trả lương hưu và chế độ bảo hiểm xã hội gồm:
1. Thông qua tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
2. Trực tiếp từ cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền.
3. Thông qua người sử dụng lao động.
Câu hỏi: Đối tượng và điều kiện hưởng trợ cấp thai sản được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đối tượng và điều kiện hưởng trợ cấp thai sản được quy định như sau:
1. Đối tượng có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con được hưởng trợ cấp thai sản khi là lao động nữ sinh con và là lao động nam có vợ sinh con.
2. Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng trợ cấp thai sản.
3. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì chỉ cha hoặc mẹ được hưởng trợ cấp thai sản.
4. Trường hợp người quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 vừa có đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện và vừa có đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc thì chỉ được hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc.
5. Trường hợp mẹ đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, cha đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện thì mẹ được hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc và cha được hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện.
6. Trường hợp cha đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, mẹ đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện thì cha được hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc và mẹ được hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Câu hỏi: Mức trợ cấp thai sản được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 95 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức trợ cấp thai sản được quy định như sau:
- Mức trợ cấp thai sản là 2.000.000 đồng cho mỗi con được sinh ra và mỗi thai từ 22 tuần tuổi trở lên chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ.
Lao động nữ là người dân tộc thiểu số hoặc lao động nữ là người dân tộc Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo khi sinh con còn được hưởng chính sách hỗ trợ khác theo quy định của Chính phủ.
- Ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện mức trợ cấp nêu trên. Chính phủ quyết định điều chỉnh mức trợ cấp thai sản phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước từng thời kỳ.
Thị trường cổ phiêu Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng tăng trưởng trong năm 2025, với chỉ số VN-Index dao động từ 1.350 - 1.400 điểm, thậm chí có thể đạt 1.670 điểm trong kịch bản tích cực. Động lực chính đến từ nâng hạng thị trường, chính sách nới lòng tiền tệ, dòng vốn FDI phục hồi và đẩy mạnh đầu tư công. Định giá thị trường cổ phiếu Việt Nam vẫn ở mức hấp dẫn so với các thị trường mới nổi, với hệ số P/E dự phóng khoảng 12 lần, hỗ trợ bởi mức tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp 17%. Mặc dù có thể có biến động trong nửa đầu năm do tăng trưởng GDP chậm lại và VND suy yếu, thị trường được kỳ vọng phục hồi mạnh mẽ vào cuối năm, thu hút khoảng 1,6 tỷ USD từ các quỹ đầu tư thụ động khi nâng hạng thị trường diễn ra.
Để tiếp tục giữ vững đà tăng của thị trường cổ phiếu Việt Nam trong năm 2025, một số nội dung trọng tâm gồm: Tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật, tổ chức vận hành thị trường hoạt động ổn định, thông suốt, đảm bảo an ninh, an toàn; đẩy nhanh tiển độ triển khai hệ thống công nghệ thông tin mới cho thị trường giao dịch chứng khoán; sớm triển khai các dự án công nghệ thông tin khác nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, giám sát thị trường xây dựng các chỉ số mới, tạo điều kiện cho các quỹ đầu tư đầu tư vào chỉ số, nghiên cứu, phát triển các sản phẩm mới như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, trái phiếu cơ sở hạ tầng. Cụ thể:
[1] Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để nâng cao tính minh bạch và ổn định của thị trường: Việc triện khai đồng bộ các quy định mới theo Luật Chứng khoán sửa đổi trong Luật số 56/2024/QH15 cần được thực hiện với lộ trình rõ ràng, trong đó tập trung vào cải thiện cơ chế giám sát, nâng cao trách nhiệm công bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và đảm bảo tính nhất quán giữa các quy định pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và chứng khóan. Ngoài ra, việc nâng cấp hệ thống công bố thông tin bằng tiếng Anh theo lộ trình năm 2025 sẽ giúp nâng cao mức độ minh bạch, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài.
[2] Tăng cung hàng hóa chất lượng cho thị trường: Để tăng cường nguồn cung hàng hóa chất lượng cho thị trường, cần khuyến khích các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là DNNN thực hiện niêm yết cổ phiêu trên sàn chứng khoan thông qua quá trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia TTCK nhằm tăng cường vốn hóa thị trường và đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Ngoài ra, việc phát triển các sản phẩm chứng khóan mới như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, chứng chỉ quỹ ETF theo nhóm ngành và hợp đồng quyền chọn sẽ góp phần mở rộng quy mô thị trường, giúp thu hút dòng vốn dài hạn và đáp ứng nhu cầu của các nhóm nhà đầu tư khác nhau. Nghiên cứu, triển khai các sản phẩm phái sinh mới như hợp đồng tương lai chỉ số mới (VNX100), các hợp đông quyền chọn chỉ số chứng khóan. Đông thời, tăng nguồn cung chất lượng sản phẩm mới ra thị trường, tiến hành các giải pháp phù hợp để đưa lên sàn các doanh nghiệp lớn của Nhà nước thông qua thóai vốn, cổ phần hóa, cũng như các tập đoàn tư nhân lớn.
Nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, trái phiếu cơ sở hạ tầng. Tái cấu trúc nhà đầu tư thông qua việc phát triển các định chế quỹ, từng bước tăng quy mô, tiềm lực tài chính cho các công ty quản lý quỹ nhằm khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư tổ chức vào TTCK.
Đồng thời, nghiên cứu phát triển các mảng thị trường mới như thị trường giao dịch tín chí carbon, thị trường cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Ngoài ra, thúc đây việc IPO gắn với niêm yết để rút ngắn quy trình giúp các doanh nghiệp sau khi thực hiện chào bán lần đầu ra công chúng nhanh chóng hoàn tất thủ tục niêm yết trên các sở giao dịch chứng khóan, đảm bảo quyền lợi về giao dịch của nhà đầu tư cũng như giúp các doanh nghiệp có thể tham gia thị trường nhanh chóng nhất sau khi thực hiện chào bán lần đầu ra công chúng.
[3] Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường, đấy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vi phạm trên thị trường cổ phiếu, đặc biệt là các hành vi nghiêm trọng như giao dịch nội gián và thao túng giá thị trường, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật trên thị trường, hướng đến sự phát triển thị trường theo hướng minh bạch và bền vững. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về đầu tư minh bạch, tuân thủ pháp luật và phòng tránh các rủi ro, hiện tượng lừa đảo trên thị trường, khuyến khích các nhà đầu tư hướng đến đầu tư dài hạn, góp phần ổn định và phát triển thị trường bền vững.
[4] Tiếp tục tổ chức vận hành thị trường hoạt động ổn định, thông suốt, đảm bảo an ninh, an toàn; đẩy nhanh tiến độ triển khai hệ thống công nghệ thông tin mới cho thị trường giao dịch chứng khóan; sớm triển khai các dự án công nghệ thông tin khác nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, giám sát thị trường.
[5] Đẩy nhanh tiến độ triển khai hệ thống công nghệ thông tin mới cho TTCK là nhiệm vụ cấp bách. Hệ thông giao dịch KRX cần được vận hành sớm nhằm đảm bảo thông suốt, tránh tình trạng nghẽn lệnh và nâng cao hiệu quả xử lý giao dịch. Cùng với đó, cần triển khai các dự án công nghệ thông tin nhằm hiện đại hóa hoạt động giám sát thị trường, quản lý rủi ro hệ thống và hỗ trợ giao dịch điện tử an toàn. Việc áp dụng công nghệ blockchain trong quản lý chứng khoán và thanh toán bù trừ sẽ giúp nâng cao độ tin cậy, bảo mật và giảm thiểu rủi ro gian lận trên thị trường.
[6] Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài. Để thúc đẩy sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, cần đẩy nhanh tiến độ nâng hạng TTCK từ cận biên lên mới nổi. Trong năm 2025, các cơ quan quản lý cần tiếp tục làm việc với các tổ chức xếp hạng quốc tế như MSCI, FTSE Russell để hoàn thiện các tiêu chí nâng hạng, đồng thời cải thiện cơ chế thanh toán, mở rộng hạn mức giao dịch và đơn giản hóa thủ tục mở tài khoản đối với nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng dịch vụ của các công ty chứng khóan, quỹ đầu tư nhằm thu hút dòng vốn dài hạn và khuyến khích sự tham gia của các quỹ đầu tư tổ chức, tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường.
[7] Việc nâng cao nhận thức và kỹ năng đầu tư của nhà đầu tư cá nhân cũng cần được chú trọng. Các cơ quan quản lý cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục tài chính nhằm giúp nhà đầu tư nâng cao hiểu biết về thị trường, hạn chế các hành vi đầu tư theo phong trào và tăng cường kỷ luật đầu tư dài hạn. Các tổ chức tài chính và công ty chứng khoán cũng cần cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp hơn, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định hợp lý trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động.
Tham khảo:
1. Sách “Kinh tế - Tài chính Việt Nam 2024-2025: Đổi mới cho tăng trưởng cao trong kỷ nguyên mới”, Viện Chiến lược vầ chính sách kinh tế - tài chính.
2. Đẩy mạnh các giải pháp nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam
https://baochinhphu.vn/day-manh-cac-giai-phap-nang-hang-thi-truong-chung-khoan-viet-nam-102250311111728841.htm#:~:text=D%E1%BB%B1%20ki%E1%BA%BFn%2C%20c%C6%A1%20ch%E1%BA%BF%20n%C3%A0y,%C4%91%E1%BB%93%20t%C3%A0i%20ch%C3%ADnh%20th%E1%BA%BF%20gi%E1%BB%9Bi.
Chiều ngày 12/9, tại Nhà Quốc hội, Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội tổ chức Phiên họp toàn thể lần thứ tư để triển khai thẩm tra và cho ý kiến góp ý vào các dự thảo Nghị quyết liên quan đến quy trình tổ chức Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải chủ trì Phiên họp.

Toàn cảnh Phiên họp
Phát biểu khai mạc Phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải đánh gia phiên họp lần này có ý nghĩa rất quan trọng. Công tác thẩm tra của Ủy ban Công tác đại biểu đối với các dự thảo nghị quyết lần này không chỉ có ý nghĩa cấp bách trước mắt, mà còn mang tính định hướng lâu dài, góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho bầu cử, bảo đảm để các Nghị quyết khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua có tính khả thi cao, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu tổ chức thành công cuộc bầu cử.

Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải chủ trì Phiên họp
Trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết hướng dẫn việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố; việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong bầu cử bổ sung, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Công Thủy nêu rõ, Dự thảo Nghị quyết gồm có 4 chương, 9 điều, quy định rõ thủ tục lấy ý kiến nơi công tác đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; thủ tục lấy ý kiến nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Công Thủy trình bày Tờ trình
Trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết liên tịch của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn quy trình hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Công Thủy cho biết, dự thảo Nghị quyết gồm có 06 chương và 29 điều. Dự thảo sửa đổi, bổ sung về thời gian thực hiện các lần hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; về các nội dung liên quan đến chính quyền địa phương hai cấp; về thành phần họp giới thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ứng cử đại biểu Quốc hội và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Trần Thị Nhị Hà trình bày Tờ trình
Trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết liên tịch số 72/2025/NQLT/UBTVQH15 -CРĐCTUBTWMTTQVN, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Trần Thị Nhị Hà cho biết, dự thảo Nghị quyết đã được tiếp thu và chỉnh sửa gồm 02 điều: điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết liên tịch số 72 quy định chi tiết việc tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, gồm 22 khoản sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số khoản, điều cụ thể của Nghị quyết liên tịch số 72; điều 2 về điều khoản thi hành.
Trình bày báo cáo thẩm tra 03 dự thảo Nghị quyết liên quan đến quy trình tổ chức Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội Đặng Ngọc Huy cho biết, Ủy ban Công tác đại biểu cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành các dự thảo Nghị quyết, những nội dung sửa đổi của các dự thảo Nghị quyết phù hợp với việc sửa đổi Hiến pháp, phù hợp với tổ chức của hệ thống chính quyền địa phương 02 cấp; các khung thời gian quy định trong các dự thảo Nghị quyết phù hợp với yêu cầu tổ chức bầu cử sớm, phù hợp với các mốc thời gian cuối cùng thực hiện đã quy định trong Luật Bầu cử.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội Đặng Ngọc Huy trình bày báo cáo thẩm tra
Tại Phiên họp, các đại biểu thảo luận, cho ý kiến về nhiều nội dung, trong đó thống nhất cần đảm bảo chất lượng cho các hội nghị tiếp xúc cử tri, tránh để xuất hiện tình trạng một số đối tượng lợi dụng tiếp xúc cử tri để khiếu nại, tố cáo. Các đại biểu cũng đồng tình với việc áp dụng công nghệ số vào hoạt động tuyên truyền về cuộc bầu cử, hội nghị cử tri nối các điểm cầu để các hoạt động dân cử đến gần hơn với cử tri.


Các thành viên Ủy ban thảo luận, góp ý tại phiên họp
Với 100% đại biểu tham gia tán thành, các đại biểu đã biểu quyết thông qua 03 dự thảo Nghị quyết liên quan đến quy trình tổ chức Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Ngày 26/9, tại Trụ sở các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban Công tác đại biểu tổ chức Hội nghị bồi dưỡng về ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Hội nghị có ý nghĩa quan trọng nhằm bồi dưỡng năng lực vận dụng công nghệ hiện đại cho cán bộ Ủy ban, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn trong bối cảnh công tác chuyển đổi số đang lan tỏa mạnh mẽ.
Tham gia Hội nghị có đồng chí Nguyễn Tuấn Anh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban, đồng chí Tạ Thị Yên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban, đồng chí Đặng Ngọc Huy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban, cùng các Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban, lãnh đạo, chuyên viên Vụ Công tác đại biểu.

Toàn cảnh Hội nghị
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ủy viên là Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu Bế Trung Anh nhấn mạnh ý nghĩa cấp thiết của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của Quốc hội nói chung, cũng như Ủy ban nói riêng.

Ủy viên là Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu Bế Trung Anh phát biểu khai mạc Hội nghị
Ông Bế Trung Anh nhấn mạnh, trong bối cảnh công nghệ số phát triển nhanh chóng như hiện nay, trí tuệ nhân tạo không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là yếu tố quyết định trong việc tối ưu hóa quy trình xử lý công việc, nâng cao tính chính xác và hiệu quả trong các nhiệm vụ của Quốc hội, trong đó có Ủy ban Công tác đại biểu; việc tổ chức Hội nghị bồi dưỡng lần này thể hiện cam kết mạnh mẽ của Ủy ban Công tác đại biểu trong việc đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng hiện đại, thông minh và minh bạch.
Ông Bế Trung Anh cũng chia sẻ thêm về định hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ủy ban Công tác đại biểu. Theo đó, trí tuệ nhân tạo sẽ được ứng dụng trong các công việc như: xử lý văn bản, dự báo xu hướng hoạt động, hỗ trợ điều phối và đưa ra các đề xuất có căn cứ khoa học, giúp Ủy ban xử lý các khối lượng công việc lớn một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn. Đồng thời, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng tham mưu, hỗ trợ Quốc hội trong các hoạt động giám sát, góp ý, theo dõi, đánh giá công tác đại biểu.
Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe các tham luận chuyên sâu về nhiều khía cạnh của trí tuệ nhân tạo. Các báo cáo tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng, phương pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào công tác quản lý, phối hợp, điều hành ở cơ quan nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực lập pháp và công tác đại biểu. Các báo cáo viên cũng nêu ra những minh chứng thực tiễn về việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý văn bản, tổng hợp số liệu, hỗ trợ ra quyết định, và dự đoán các xu hướng chính trị - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan Quốc hội nâng cao năng lực hoạt động.

Các đại biểu được nghe các tham luận chuyên sâu về nhiều khía cạnh của trí tuệ nhân tạo
Song song với phần lý thuyết, Hội nghị cũng chú trọng tổ chức thực hành ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Các thành viên Ủy ban được hướng dẫn trực tiếp sử dụng các phần mềm, nền tảng trí tuệ nhân tạo trong việc soạn thảo tài liệu, phân tích dữ liệu, tự động hóa các bước trong quy trình xử lý công việc. Hoạt động thực hành giúp các thành viên Ủy ban hiểu rõ hơn về tiện ích và những tiềm năng mà trí tuệ nhân tạo mang lại, từ đó có thể xây dựng cho mình những kỹ năng cơ bản để khai thác công nghệ này hiệu quả trong thực tế công việc.
Triển khai kế hoạch công tác năm 2025, ngày 16-17/9/2025 tại tỉnh Lâm Đồng, Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng phối hợp tổ chức Hội nghị bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hoạt động cho đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường năm 2025.

Toàn cảnh buổi tập huấn
Hội nghị được triển khai theo hình thức trực tiếp và trực tuyến, kết nối từ Hội trường Tỉnh ủy đến 120 điểm cầu cơ sở, với sự tham gia của hơn 1.720 đại biểu trong toàn tỉnh. Đây là hoạt động quan trọng được triển khai sau khi tỉnh Lâm Đồng chính thức thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Tham dự Hội nghị, về phía Ủy ban Công tác đại biểu có đồng chí Nguyễn Tuấn Anh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội; lãnh đạo Vụ Công tác đại biểu. Về phía Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng có các đồng chí: K’ Mak, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; Y Quang B'Krông, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; cùng các đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, các ban Hội đồng nhân dân và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội.
Tham dự Hội nghị còn có các chuyên gia, giảng viên: Tiến sĩ Nguyễn Văn Pha, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội; Tiến sĩ Vũ Văn Họa, nguyên Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước; PGS.TS Vũ Sỹ Cường, Giảng viên cao cấp Học viện Tài chính.

Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng K’Mák phát biểu khai mạc.
Phát biểu khai mạc, Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng K’Mák nhấn mạnh, việc tổ chức hội nghị tập huấn, với những nội dung quan trọng và cấp bách là hết sức cần thiết, nhằm trang bị cho đội ngũ đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã những kiến thức và công cụ thực tiễn, góp phần bảo đảm hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn phát triển mới đạt hiệu quả cao nhất. Từ thực tiễn triển khai mô hình chính quyền hai cấp tại Lâm Đồng, khối lượng công việc của Hội đồng nhân dân cấp xã tăng lên đáng kể. Do đó, Hội nghị lần này được xem là hoạt động kịp thời, giúp các đại biểu củng cố kiến thức, kỹ năng, đáp ứng yêu cầu giám sát và quyết định hiệu quả trong giai đoạn chuyển đổi.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh phát biểu tại Hội nghị.
Phát biểu ý kiến tại Hội nghị, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh cho rằng, việc nâng cao kỹ năng hoạt động của đại biểu dân cử trong giai đoạn hiện nay rất quan trọng. Các chuyên đề tại tập huấn đều rất cần thiết, đồng chí mong muốn các chuyên gia thường xuyên trao đổi với các đại biểu Hội đồng nhân dân để hỗ trợ kịp thời trong quá trình hoạt động.

Trong chương trình tập huấn, các đại biểu được nghiên cứu, trao đổi và cập nhật kiến thức với các chuyên đề trọng tâm:
(1) Khái quát vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
(2) Hội đồng nhân dân cấp xã trong quyết định, giám sát các dự án phát triển kinh tế – xã hội, trọng tâm là các dự án đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công – tư (PPP) và công tác đấu thầu.
(3) Hội đồng nhân dân cấp xã trong quyết định dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương.

Chuyên gia, báo cáo viên trình bày các chuyên đề tại Hội nghị.
Các chuyên đề cốt lõi này sẽ làm rõ vai trò, chức năng của hội đồng nhân dân cấp xã trong mô hình mới; trang bị kỹ năng quản lý, giám sát ngân sách minh bạch, hiệu quả khi phân bổ trực tiếp từ tỉnh và cung cấp công cụ giám sát dự án kinh tế-xã hội, từ đầu tư công đến hợp tác công-tư, nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống nhân dân.

Cán bộ, công chức tham gia hội nghị tập huấn tại điểm cầu phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng
Thông qua hội nghị, các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được trang bị thêm những kiến thức pháp lý mới, kỹ năng giám sát và quyết nghị, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Hoạt động này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều hành của chính quyền địa phương, mà còn khẳng định vai trò, uy tín của đội ngũ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, hiệu lực, gần dân và vì dân.
Mặc dù thừa nhận vẫn còn nhiều rủi ro, song các nhà phân tích tin tưởng rằng triển vọng toàn cầu vào năm tới vẫn khá khả quan do những yếu tố tích cực như sự bất ổn do vấn đề thuế quan đã giảm bớt, chính sách tài chính và tiền tệ được nới lỏng trên toàn cầu, cũng như giá dầu giảm.
Theo bài phân tích trên trang theedgemalaysia.com, vẫn chưa rõ những yếu tố rủi ro như xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại, sự thay đổi công nghệ nhanh chóng và sự biến động của thị trường tài chính sẽ xảy ra sớm hay muộn, hoặc có tác động lớn như thế nào? Do đó, những yếu tố tích cực hiện nay có thể tạo ra những thay đổi mang tính đột phát.
Một số yếu tố ảnh hưởng lớn đến toàn cầu trong năm 2025
Trước hết, toàn cầu phải đối mặt với hai cú sốc thương mại lớn là cuộc chiến thương mại của Tổng thống Mỹ Donald Trump với hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, cũng như sự bùng nổ trong lĩnh vực xuất khâu của Trung Quốc. Cả hai vấn đề này đều gây ra nhiều xáo trộn đối với nền kinh tế toàn cầu. Cuộc chiến thương mại làm tăng chi phí, buộc các doanh nghiệp phải thay đổi địa điểm sản xuất và khuyến khích các quốc gia đa dạng hóa thương mại và tăng cường khả năng tự cung tự cấp, ngay cả khi giá cả cao hơn nhập khẩu. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu mạnh mẽ của Trung Quốc giúp người tiêu dùng trên toàn thế giới có thể sử dụng hàng hóa chất lượng cao, với giá cả phải chăng, nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến các nhà sản xuất địa phương, tăng tỷ lệ mất việc làm và khiến các quốc gia phải chịu thâm hụt thương mại lớn hơn.
Thứ hai, thế giới đang hỗn loạn. Mỹ cũng đã rút khỏi sự hợp tác toàn cầu trong các lĩnh vực như biến đổi khí hậu và y tế, khiến việc giải quyết các cuộc khủng hoảng tiêm tàng mang tính sống còn trong những năm tới trở nên khó khăn hơn.
Thứ ba, thị trường tài chính trở nên sôi động. Định giá thị trường chứng khoán đã tăng vọt, đặc biệt là ở Mỹ, song có một số dấu hiệu cho thấy những mánh khóe tài chính đang báo trước một cú sốc tài chính lớn. Một số nhà phân tích chỉ ra các giao dịch gần đây giữa các công ty công nghệ, trong đó một công ty đầu tư vào một công ty khác, sau đó công ty này sử dụng số tiền đó để đặt mua một lượng lớn hàng hóa từ công ty đầu tư. Kiểu giao dịch vòng tròn này từng được thấy trước đây và có thế gây ra tình trạng vỡ bong bóng. Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS), vốn có thành tích tốt trong việc đánh giá các rủi ro như vậy, đã cảnh báo về những gì đang diễn ra trên thị trường tín dụng tư nhân và tiền điện tử, đồng thời đặc biệt lưu ý rằng các cơ chế tài chính tương đối mới này đã đạt đến quy mô có thể gây rủi ro cho sự ốn định tài chính nói chung.
Thứ tư, sự thay đối công nghệ đã diễn ra với tốc độ chóng mặt. Cụ thể, trí tuệ nhân tạo (AI) đã tạo ra một làn sóng đầu tư mạnh mẽ chưa từng có và tạo ra nhũng bước đột phá ở các lĩnh vực khác như điện toán lượng tử, thu giữ và lưu trữ carbon, khoa học y sinh, vật liệu mới và các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng hạt nhân. Ngoài ra, Trung Quốc đang nối lên như một siêu cường công nghệ có thể vượt trội Mỹ trong một số lĩnh vực, gây ra nguy cơ lớn đối với tình hình địa chính trị và hoạt động xuất khẩu toàn cầu.
Một kỷ nguyên của sự biến động đang đến gần
Nhiều điểm nóng trên thế giới chưa được giải quyết. Triều Tiên đang trải qua thời điểm tốt nhất trong nhiều thập kỷ và cảm thấy tự tin hơn khi thúc đây chương trình nghị sự. Ukraine đang ở trong tình thế nguy hiểm, nhưng Nga cũng đang gặp khó khăn và có thể sẽ có sự thay đổi lớn trong cán cân giữa hai nước. Ngoài ra, sự cân bằng ở khu vực Trung Đông đã bị phá vỡ và tiềm ấn nhiều nguy cơ gây bất ổn hơn nữa.
Ngoài ra, có thể xảy ra một số biến động trên thị trường tài chính. Sự sụt giảm mạnh giá trị của các tài sản tiền điện tử trong những ngày gần đây và những khoản lỗ lớn mà nó gây ra là một lời cảnh báo về những biến động tiếp theo.
Khả năng phục hồi đáng ngạc nhiên của nền kinh tế Mỹ và toàn cầu khó có thể kéo dài. Một phần khả năng phục hồi này là do mức chi tiêu vốn quá cao cho cơ sở hạ tầng liên quan đến AI. Do đó, chỉ một sự điều chỉnh tài chính cũng có thể làm chậm lại mức chi tiêu này, đồng thời làm suy yếu niềm tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp, cũng như có khả năng gãy ra những tổn thất lớn.
Một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phục hồi toàn cầu là thiệt hại từ cuộc chiến thương mại. Đến năm 2026, việc tăng chi phí liên quan đến thuế quan sẽ trở nên rõ ràng hơn, gây hậu quả cho người tiêu dùng và biên độ lợi nhuận của các công ty. Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) và các ngân hàng trung ương khác có thể sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ nhiều hơn so với dự kiến.
Tiến bộ công nghệ được kỳ vọng sẽ mang lại những kết quả vượt ngoài mong đợi. Trong bối cảnh ngày càng nhiều công ty tìm ra cách sử dụng AI một cách hiệu quả, đã xuất hiện nhiều thay đổi trong các mô hình kinh doanh, giúp năng suất tăng cao và tạo ra các loại sản phẩm, dịch vụ mới. Bên cạnh đó, tình trạng mất việc làm sẽ tăng lên khi các công ty sử dụng AI để thực hiện nhiều loại công việc hơn. Một sự thay đổi nữa là khi tiến bộ công nghệ ngày càng rõ rệt, sự chú ý có thể sẽ chuyển từ AI sang các công nghệ khác như năng lượng tái tạo, thu giữ và lưu trữ carbon, hệ thống lưu trữ năng lượng pin, năng lượng hạt nhân, khoa học vật liệu, dược phẩm sinh học.
Việc phân bổ vốn và chi tiêu của các công ty và chính phủ sẽ thay đối, dẫn đến sự thay đối trong mô hình dòng chảy thương mại. Trung Quốc đang nỗ lực đa dạng hóa đối tác để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và giảm sự phụ thuộc vào Mỹ xuống mức thấp nhất trong một thập kỷ. Ngoài ra, nhiều quốc gia đang xem các liên minh thương mại mới như một phản ứng phòng thủ chống lại chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ. Năm 2025, nhiều cuộc đàm phán đã diễn ra giữa các khối thương mại lớn như EU, các hiệp định đa phương như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) nhằm ngăn chặn chủ nghĩa bảo hộ. Ở một khía cạnh khác, khi mức thuế quan đối với mỗi quốc gia đã rõ ràng hơn và việc xác định rõ căng thăng Mỹ-Trung Quốc sẽ không biến mất, việc tái cấu trúc toàn cầu sẽ tăng tốc. Trong khi Mỹ và châu Âu cắt giảm viện trợ nước ngoài, Trung Quốc lại đang đẩy mạnh triển khai BRI. Các quốc gia ASEAN đang ở vị thế tốt để tận dụng xu hướng này. Dữ liệu trong nửa đầu năm cho thấy mặc dù sự không chắc chắn có thể đã làm chậm các quyết định của doanh nghiệp về việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng, nhưng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào một số quốc gia trong ASEAN vẫn tiếp tục gia tăng.
Cuối cùng, mặc dù toàn cầu có một số yếu tố tích cực, nhưng vẫn tiềm ần nhiều rủi ro và ASEAN cần phải nâng cao cảnh giác. Mặc dù tình hình có thể tương đối ổn định vào đầu năm 2026, song có thể xảy ra nhiều biến động hơn trong cả năm. Trong bối cảnh này, yếu tố quan trọng quyết định bên thắng và bên thua sẽ là sự hiệu quả trong hoạch định chính sách. Trước hết, chính sách tài khóa và tiền tệ phải được thực hiện một cách nghiêm túc và truyền đạt rõ ràng đến thị trường tài chính, nơi có khả năng bị chi phối bởi các nhà đầu tư dễ bị tổn thương và ngại rủi ro. Bằng cách đó, chính sách tiền tệ sẽ duy trì sự ổn định và tạo ra dòng vốn hỗ trợ nền kinh tế. Bên cạnh đó, chính phủ các nước cần có chiến lược khả thi để ứng phó với nhiều thách thức như điều kiện thương mại quốc tế khó khăn hơn và tác động của Al. Cho đến nay, Việt Nam, Malaysia và Singapore đã chứng minh rắng các quốc gia có đủ khả năng để ứng phó với những thách thức này.
Tham khảo:
Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam
Bối cảnh quốc tế và trong nước đang có nhiều thay đổi lớn, tác động mạnh mẽ tới giáo dục, đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi xanh và toàn cầu hóa đang làm thay đổi cơ cấu ngành nghề, yêu cầu về năng lực của lực lượng lao động, đồng thời thúc đẩy các mô hình giáo dục, phương thức đào tạo mới.
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế số, công nghiệp 4.0, với yêu cầu cao về nhân lực có kỹ năng số, tư duy sáng tạo và khả năng thích nghi. Cơ cấu kinh tế và lao động đang dịch chuyển, nhu cầu nhân lực trình độ trung cấp, cao đẳng trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao ngày càng lớn. Biến động thị trường lao động do dịch bệnh (như COVID-19) và các yếu tố chính trị đòi hỏi hệ thống giáo dục nghề nghiệp linh hoạt và thích ứng nhanh. Sự phát triển của công nghệ dẫn đến nhiều mô hình đào tạo mới với xu hướng đào tạo trực tuyến, kết hợp…ngày càng phổ biến. Nhiều kỹ năng nghề mới ra đời nhanh chóng, trong khi một số nghề truyền thống dần biến mất, tạo sức ép phải đổi mới chương trình và hình thức đào tạo.
Yêu cầu phát triển kinh tế với mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới đặt ra nhu cầu cấp bách về nâng cao năng suất lao động. Mặc dù đất nước đang trong giai đoạn "dân số vàng", với lực lượng lao động trẻ, dồi dào nhưng song song với đó là xu hướng già hóa dân số diễn ra nhanh. Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải linh hoạt, không chỉ đào tạo lực lượng mới mà còn đào tạo lại, đào tạo bồi dưỡng nâng cao kỹ năng cho người lao động trung niên - cao tuổi, đảm bảo thích ứng dài hạn với thị trường lao động. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải nhanh chóng đáp ứng nhu cầu nêu trên. Việc thống nhất một bộ quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, chủ trương xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tăng cường phân cấp, phân quyền trong toàn hệ thống chính trị cũng tiếp tục đặt ra các yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp.
Việc hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế. Cạnh tranh nhân lực khu vực ASEAN gia tăng sau khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hình thành, dẫn tới yêu cầu chuẩn hóa đào tạo nghề và công nhận bằng cấp nghề nghiệp.
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm tạo bước đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nghề nghiệp (GDNN), trọng tâm là hiện đại hoá, đa dạng hoá phương thức đào tạo. Phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống GDNN; đổi mới GDNN theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, hiện đại, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường lao động và tạo cơ hội học tập suốt đời, cụ thể:
Chỉ thị 21-CT/TW ngày 04/5/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu: phấn đấu đến năm 2030 thu hút 50 - 55% học sinh trung học vào hệ thống GDNN; đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho khoảng 50% lực lượng lao động…; đồng thời đặt ra nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm: rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về GDNN, bảo đảm gắn với thị trường lao động theo hướng mở, liên thông, hiện đại, hội nhập và thích ứng; ưu tiên quỹ đất sạch dành cho GDNN, khuyến khích phát triển cơ sở GDNN của tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài; đổi mới nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bảo đảm “học đi đôi với hành”; nâng cao hiệu quả liên kết, hợp tác về GDNN giữa nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp tham gia GDNN từ khâu tuyển sinh, đào tạo đến sử dụng, thành lập các cơ sở thực hành tại các cơ sở GDNN. Chuyển nhanh cơ chế cấp phát ngân sách sang đặt hàng, giao nhiệm vụ; đẩy mạnh xã hội hoá, hợp tác công - tư nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực cho phát triển GDNN, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực, địa bàn mà khu vực ngoài công lập có thể tham gia. Bảo đảm chính sách bình đẳng đối với các cơ sở GDNN công lập và ngoài công lập. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; cập nhật kịp thời các tiêu chuẩn, công nghệ mới trong GDNN…
Nghị quyết 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới tiếp tục đặt ra yêu cầu: Đổi mới GDNN theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, hiện đại, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường lao động và tạo cơ hội học tập suốt đời. Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại ngành nghề phù hợp cho lực lượng lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tăng cường định hướng nghề nghiệp cho thanh niên ngay từ bậc học phổ thông; đẩy mạnh phân luồng, tăng số học sinh sau trung học cơ sở, trung học phổ thông vào GDNN; thực hiện đào tạo nghề, dạy văn hoá, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học tại các cơ sở GDNN. Đẩy nhanh xã hội hoá GDNN; đa dạng hoá chủ thể tham gia đào tạo, quy định trách nhiệm và khuyến khích doanh nghiệp đào tạo nghề cho người lao động.
Kết luận 91-KL/TW đã xác định nhiệm vụ cần tập trung đầu tư hiện đại hoá giáo dục nghề nghiệp và nâng cao tiềm lực nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục, đào tạo. Tiếp tục phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, hội nhập, gắn với thị trường lao động, chú trọng cả số lượng, cơ cấu, chất lượng đào tạo, quan tâm công tác đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho người lao động để thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường và công nghệ sản xuất; tăng cường định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên ngay từ bậc học phổ thông; đẩy mạnh phân luồng, tăng số lượng học sinh sau trung học cơ sở, trung học phổ thông vào giáo dục nghề nghiệp; thực hiện đào tạo nghề, dạy văn hoá, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quan tâm đầu tư, phát triển một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, ngành, nghề đào tạo đạt trình độ tương đương với khu vực và thế giới.
Tập trung đầu tư chiều sâu, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực chất lượng cao đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập ở một số ngành, nghề, lĩnh vực mang tầm cỡ khu vực và quốc tế nhằm tạo đột phá, chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao gắn với nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuyển đổi số quốc gia và hội nhập quốc tế; chú trọng các ngành, lĩnh vực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nhất là các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ và các ngành mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, bán dẫn,...
Bên cạnh những chủ trương, định hướng cụ thể về phát triển GDNN, thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành bốn Nghị quyết quan trọng, được xác định là Bộ tứ trụ cột đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Điều này đòi hỏi tất cả các lĩnh vực, trong đó có GDĐT mà cụ thể là GDNN cần cải cách toàn diện, sâu sắc và đồng bộ. Cụ thể:
- Để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, GDNN cần thực hiện những thay đổi toàn diện và sâu rộng: đổi mới chương trình đào tạo theo hướng số hóa và thực tiễn; phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao; đầu tư hạ tầng và công nghệ; trao quyền tự chủ cho các cơ sở GDNN trong việc xây dựng chương trình đào tạo, tuyển sinh, hợp tác quốc tế, nhằm tăng tính linh hoạt và sáng tạo…
- Nghị quyết 59-NQ/TW đề ra định hướng về khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường theo hướng tận dụng hội nhập để nâng cao trình độ quốc gia, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này đã đặt ra những cơ hội: cho phép và khuyến khích các cơ sở GDNN hợp tác với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài trong việc xây dựng chương trình đào tạo, trao đổi giảng viên và học viên; có cơ chế công nhận lẫn nhau về văn bằng, chứng chỉ giữa Việt Nam và các quốc gia khác, đặc biệt là trong khu vực ASEAN, để tạo điều kiện cho người học và người lao động Việt Nam tham gia thị trường lao động quốc tế. Bên cạnh đó, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến việc thành lập và tổ chức thực hiện các chương trình liên kết với nước ngoài.
- Để thực hiện yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp trong lĩnh vực GDNN (chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo) tại Nghị quyết số 66-NQ/TW, Luật GDNN cần sửa đổi theo hướng Luật đóng vai trò là khung pháp lý, tạo động lực thúc đẩy phát triển, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, thay vì chỉ tập trung vào quản lý hành chính. Cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền tối đa gắn với trách nhiệm tự chủ giải trình của cơ sở GDNN; cắt giảm tối đa các điều kiện đầu tư kinh doanh và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong Luật.
- Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho kinh tế tư nhân tại Nghị quyết số 68-NQ/TW yêu cầu GDNN cần thực hiện những thay đổi toàn diện nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của khu vực kinh tế tư nhân đang phát triển mạnh mẽ: Tăng cường hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp; thu hút sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo, đánh giá, công nhận tốt nghiệp; có các các chính sách thu hút hiệu quả sự tham gia của doanh nghiệp vào GDNN; tăng cường hợp tác quốc tế và đầu tư trong GDNN.
Nhằm thể chế hóa những chủ trương mới của Đảng về giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn thi hành Luật GDNN, tạo sự thống nhất, đồng bộ với Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đáp ứng những yêu cầu mới trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi thì việc xây dựng Luật GDNN (sửa đổi) là rất cần thiết.
Tham khảo:
Báo cáo số 1095/ BC-BGDĐT ngày 31/7/2025 về Tổng kết việc thi hành pháp luật về giáo dục nghề nghiệp
AI đang trở thành một phần không thể tách rời trong học tập, vui chơi và đời sống tinh thần của trẻ em, mang lại lợi ích lớn về cá nhân hóa giáo dục, mở rộng tiếp cận tri thức và hỗ trợ giáo viên, phụ huynh. Tuy nhiên, việc sử dụng AI sớm và rộng rãi cũng đặt ra những rủi ro nghiêm trọng: Suy giảm tư duy độc lập, gia tăng gian lận, lệ thuộc cảm xúc vào "bạn đồng hành" AI, và các nguy cơ đối với sức khỏe tâm thần. Vấn đề trọng tâm không phải là có dùng AI hay không, mà là cách quản lý, định hướng và đặt giới hạn để AI hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ em, thay vì làm thay đổi tiêu cực cách các em học, nghĩ và hình thành quan hệ xã hội.
Tại một số trường học ở Mỹ, giáo viên đã bất ngờ khi phát hiện học sinh lợi dụng Khan Academy - nền tảng học tập trực tuyến phổ biến - để gian lận trong các bài tập toán. Thay vì tự giải, các em nhận được sự "trợ giúp" từ một nhân vật bí ấn. Sau quá trình tìm hiểu, người ta xác định "thủ phạm" chính là Pytago - nhà toán học Hy Lạp cổ đại - được tái hiện dưới dạng mô phỏng AI. Khan Academy cho phép học sinh trò chuyện với những trí tuệ nối tiếng trong lịch sử, và các em nhanh chóng nhận ra rằng chỉ cần đưa ra vài gợi ý, "Pytago kỹ thuật số" sẽ sẵn sàng làm hộ bài tập về nhà.
Theo khảo sát của Trung tâm dân chủ và công nghệ (CDT), một tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ, thanh thiếu niên nước này có xu hướng sử dụng AI ở nhà nhiều hơn cha mẹ và cũng có khả năng tiếp xúc với AI trong trường học cao hơn so với việc cha mẹ họ sử dụng AI tại nơi làm việc. Trong môi trường giáo dục, AI được kỳ vọng sẽ làm thay đổi cách trẻ em được giảng dạy, đánh giá và dẫn hình thành tư duy. Trong môi trường gia đình, AI đang ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong đời sống của trẻ: Từ cách các em vui chơi, được giám sát, cho đến việc chia sẻ cảm xúc và hình thành các mối quan hệ. Những mối quan hệ này không chỉ diễn ra giữa trẻ và các cá nhân khác, mà còn mở rộng sang các hệ thống công nghệ. Thế hệ lớn lên cùng AI đang có trong tay những cơ hội mà các thế hệ trước đây khó có thể tưởng tượng. Tuy nhiên, đi kèm với đó là những rủi ro mới, chưa từng có tiền lệ.
Trẻ em hiện nay đang ở tuyến đầu trong quá trình phổ biến AI, đồng thời cũng trở thành nhóm chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất. Trong lớp học sự thay đổi diễn ra rất nhanh. Cách đây 2 năm, tại Mỹ, số trường học cấm sử dụng AI vẫn nhiều hơn số trường cho phép. Nhưng đến nay, AI đã dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống học đường. Theo khảo sát của Tập đoàn RAND, một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ, khoảng 61% học sinh trung học và 69% giáo viên cho biết họ đang sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ trong học tập và giảng dạy.
Các bậc phụ huynh cũng đang bổ sung hình thức hỗ trợ này bằng cách cho con sử dụng gia sư AI tại nhà. Xu hướng này đặc biệt phổ biến tại Trung Quốc, nơi các kỳ thi có tính cạnh tranh rất cao đã biến hoạt động dạy kèm thành một ngành kinh doanh sinh lợi lớn. Việc Chính phủ Trung Quốc siết chặt hoạt động dạy thêm ngoài giờ học vào năm 2021, nhằm giảm áp lực cho các gia đình, đã vô tình tạo ra động lực mới cho các công ty phát triển thiết bị giáo dục ứng dụng AI. Trong khi gia sư truyền thống bị cấm giảng dạy chương trình chính khóa, kể cả dưới hình thức trực tuyến, thì gia sư AI lại không nằm trong diện hạn chế này.
Tuy vậy, không phải ai cũng ủng hộ việc sử dụng các công cụ học tập ứng dụng AI, thường được gọi là edu-bot. Theo nghiên cứu của RAND, chỉ 22% hiệu trưởng các trường học ở Mỹ cho rằng AI gây hại cho kỹ năng tư duy phản biện của học sinh, trong khi tỷ lệ này ở phụ huynh lên tới 61%.
Đáng chú ý, 55% học sinh trung học cũng chia sẻ quan điểm tương tự. Một phần những lo ngại này có thể bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết và trải nghiệm thực tế. CDT nhận thấy những giáo viên lo ngại AI nhiều nhất thường là những người làm việc tại các trường ít sử dụng công nghệ này. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những em không hài lòng với AI lại là những em học tại các trường sử dụng AI nhiều nhất.
Cả học sinh và giáo viên đều cho biết họ nhận được rất ít hướng dẫn cụ thể về cách sử dụng AI một cách phù hợp. Các bậc phụ huynh cũng có quan điểm rất khác nhau về việc liệu AI có nên được phép hỗ trợ làm bài tập về nhà hay không. Một bộ phận nhỏ học sinh đã sử dụng AI theo cách không phù hợp. Victor Lee, giảng viên Đại học Stanford, cùng các cộng sự phát hiện rằng 15% học sinh trung học Mỹ thừa nhận đã dùng AI để hoàn thành toàn bộ bài tập trong năm nay, tăng so với mức 11% ghi nhận vào năm 2024;
Mối lo lớn hơn cả là nguy cơ trẻ em dần từ bỏ việc tự suy nghĩ. Tại Trung Quốc, một cuộc khảo sát trên toàn quốc cho thấy 21% học sinh tiểu học và trung học cho biết các em thà dựa vào AI hơn là tự tư duy độc lập. Các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã đo hoạt động não của học sinh khi viết bài luận, trong đó một nhóm được ChatGPT hỗ trợ và nhóm còn lại không sử dụng công cụ này. Kết quả cho thấy não của những học sinh sử dụng ChatGPT hoạt động ít hơn, đồng thời, các em cũng kém hơn trong việc ghi nhớ chính xác nội dung bài luận mà mình đã viết.
Kết thúc một ngày học không đồng nghĩa với việc trẻ em rời xa AI. Theo CDT, thanh thiếu niên Mỹ có xu hướng sử dụng công nghệ ở nhà nhiều hơn so với ở trường. Trong không gian gia đình, AI tiếp tục hiện diện trong đời sống hằng ngày, góp phần định hình một tuổi thơ ngày càng được cá nhân hóa và "thiết kế riêng" cho từng người dùng.
Trước những rủi ro ngày càng rõ ràng, các cơ quan quản lý đang chuẩn bị các biện pháp bảo vệ trẻ em. Một số thượng nghị sĩ Mỹ đang thúc đây dự luật cấm hoàn toàn việc sử dụng chatbot làm bạn đồng hành cho trẻ em. Trung Quốc gần đây cũng nhấn mạnh các rủi ro liên quan đến tình trạng nghiện và sự phụ thuộc vào các tương tác được nhân cách hóa. Song song với các động thái quản lý, các công ty công nghệ đang phát triển những sản phẩm riêng biệt dành cho trẻ em.
Tham khảo:
1. Những nguy cơ từ trí tuệ nhân tạo đối với trẻ em
https://daibieunhandan.vn/nhung-nguy-co-tu-tri-tue-nhan-tao-doi-voi-tre-em-10305597.html
2. Những nguy cơ từ trí tuệ nhân tạo đối với trẻ em
https://nhandan.vn/bao-ve-tre-em-truoc-mat-trai-cua-tri-tue-nhan-tao-post814818.html
3. Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam
Luật Phòng, chống ma tuý (PCMT) năm 2021 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 30/3/2021 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022). Quá trình triển khai thực hiện Luật PCMT năm 2021 đã đạt được nhiều kết quả tích cực trên các mặt, nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là trong công tác cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.Trong thời gian qua công tác tuyên truyền, phổ biến Luật PCMT và các văn bản hướng dẫn thi hành được các Bộ, ngành, chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể thực hiện thường xuyên, đồng bộ; lồng ghép nhiều dự án, chương trình phát triển kinh tế với phong trào giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa; có sự phối kết hợp giữa công tác phòng và chống, giữa lực lượng chính quy và vận động quần chúng nhân dân; đồng thời tăng cường vai trò của phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội…
Nội dung tuyên truyền phong phú, đa dạng; tập trung vào quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý; những điểm mới của Luật PCMT năm 2021; hậu quả, tác hại của ma túy; tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn của tội phạm ma túy và các loại ma túy mới xuất hiện trên thị trường bất hợp pháp; nâng cao nhận thức về trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội trong công tác PCMT…
Tích cực, chủ động triển khai nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công tác PCMT: Phát hành tài liệu, sách[1], tranh ảnh, tờ rơi, đĩa CD, mở các trang, chuyên mục trên sóng phát thanh2, Đài truyền hình3, báo in, báo điện tử, đến các phương thức tuyên truyền trực quan như mít tinh, cổ động, triển lãm, trưng bày pano, áp phích, tổ chức các cuộc nói chuyện, tọa đàm, tuyên truyền miệng; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật và kiến thức về phòng, chống ma túy4… Xây dựng và duy trì các mô hình: “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Tổ liên gia tự quản”, “Giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng”, “Phụ nữ không có chồng con mắc tệ nạn xã hội, nghiện ma túy”...
Triển khai nhiều dự án như “Giải quyết điểm, tụ điểm và chuyển hoá địa bàn trọng điểm phức tạp về ma tuý tại xã, phường, thị trấn”, “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng, chống tội phạm về ma túy vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”, “xã biên giới sạch về ma tuý” tại các địa bàn trọng điểm về ma tuý, địa bàn có nguy cơ trồng và tái trồng cây thuốc phiện, cây cần sa và các loại cây khác có chứa chất ma tuý.
Công tác tuyên truyền PCMT được tiến hành rộng rãi trong quần chúng nhân dân, từ công chức, viên chức, người lao động, công nhân, học sinh, sinh viên, đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa… được đẩy mạnh và thu được những kết quả tích cực5. Kịp thời nhân rộng những cách làm hay, mô hình hiệu quả trong công tác phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy, công tác quản lý người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương6.
Thời gian qua, công tác ban hành văn bản hướng dẫn thi hành cũng được chú trọng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH ngày 03/12/2022 quy định trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân (trong đó có biện pháp đưa đi cai nghiện ma tuý bắt buộc).
Chính phủ ban hành các Nghị định: Nghị số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật PCMT; Nghị định số 109/2021/NĐ-CP ngày 08/12/2021 về Quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma tuý và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma tuý; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 về Quy định chi tiết một số điều của Luật PCMT, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo.
Mới đây nhất, căn cứ theo Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Công an các đơn vị, địa phương đã khẩn trương triển khai thực hiện các quy định của Thông tư liên tịch để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao, các bộ đã ban hành các văn bản thực hiện Luật và chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể như: Bộ Y tế ban hành Thông tư số 18/2021/TT-BYT ngày 16/11/2021 về quy định tiêu chuẩn chẩn đoán và quy trình chuyên môn để xác định tình trạng nghiện ma tuý; Bộ Công an ban hành Thông tư số 13/2022/TT-BCA ngày 05/4/2022 quy định biểu mẫu và chế độ báo cáo thống kê về phòng, chống ma túy.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống ma tuý vừa là yêu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, vừa là nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đã và đang đặt ra trong công tác bảo đảm an ninh trật tự.
Tham khảo:
Báo cáo số 1751/BC-BCA-C04 ngày 04/7/2025 về Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phòng, chống ma tuý năm 2021.
[1] Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã chủ trì, phối hợp với Vụ Giáo dục chính trị và Công tác học sinh, sinh viên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) xây dựng cuốn tài liệu tuyên truyền “Phòng, chống ma túy trong các cơ sở giáo dục, trường học” trong đó các nội dung về pháp luật phòng, chống ma túy trở thành một môn học ngoại khóa trong các cơ sở giáo dục, trường học trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố.
2 Bộ Dân tộc và Tôn giáo phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và các quy định của pháp luật có liên quan trên sóng VOV1.
3 Bộ Công an phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam tổ chức cuộc thi “Trường học không ma túy” dành cho đối tượng học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, được ghi hình, phát sóng và đăng tải trên các nền tảng số của Đài truyền hình Việt Nam.
4 Bộ Công an tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu Luật Phòng, chống ma túy” trên phạm vi toàn quốc nhằm tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức xã hội trong việc thực hiện pháp luật về PCMT. Kết quả sau 03 tháng triển khai tổ chức cuộc thi, có 3.226.354 lượt thí sinh tham gia trực tuyến, tiếp cận 7% dân số ở độ tuổi 15-45 tuổi; có 4.765 bài thi hình thức tự luận.
5 Cơ quan Công tác dân tộc và tôn giáo các tỉnh, thành phố phối hợp với sở, ngành có liên quan tổ chức 16.626 cuộc tuyên truyền với 822.994 lượt người tham dự. Thực hiện 02 mô hình thí điểm: “Phòng, chống tệ nạn xã hội” ở tỉnh Bạc Liêu và “Khu dân cư phòng, chống tội phạm ma túy” tại tỉnh Đắk Lắk. Lồng ghép với Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN đã tổ chức 105 hội nghị tuyên truyền với 9.488 đại biểu là người có uy tín tham dự.
6 Điển hình như tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên (mô hình trồng cây Lê, cây Ngô sinh khối, chăn nuôi bò cái sinh sản, mô hình trồng Trám đen ghép, cây thảo quả, cây sa nhân, cây giổi, cây chè ….).
Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2013, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 34/2018/QH14 ngày 19/11/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (Luật số 34), có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019.
Luật số 34 được ban hành với 8 điểm mới cơ bản, như: xác định rõ hệ thống cơ sở giáo dục đại học, tiệm cận với xu hướng quốc tế, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam; tạo ra sự bình đẳng giữa cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục, thúc đẩy sự phát triển của giáo dục đại học tư thục; tạo cơ sở pháp lý rõ ràng về quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học; mở rộng phạm vi, nâng cao hiệu quả tự chủ đại học, gắn với trách nhiệm giải trình; đổi mới quản trị đại học, đảm bảo thực quyền của hội đồng trường với vai trò là cơ quan quản trị hiệu quả phù hợp với thông lệ quốc tế; đổi mới cơ chế quản lý tài chính, tài sản, các cơ sở giáo dục đại học tự chủ xây dựng và quyết định mức học phí đảm bảo tương xứng với chất lượng đào tạo và công bố công khai; đổi mới quản lý đào tạo; đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện tự chủ đại học...
Qua thực tiễn 12 năm thi hành Luật Giáo dục đại học năm 2012 và gần 6 năm triển khai thi hành Luật Giáo dục đại học năm 2018, có thể khẳng định Luật Giáo dục đại học đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động Giáo dục đại học, nâng cao trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. Trong đó, công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và công tác xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đã đạt được một số kết quả cơ bản.
Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật
Công tác tuyên truyền và phổ biến Luật giáo dục đại học cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã được triển khai đồng bộ và nghiêm túc tại từ các cơ quan trung ương đến địa phương và các cơ sở giáo dục đại học. Bộ GDĐT ban hành và tổ chức triển khai Kế hoạch số 115/KH-BGDĐT ngày 12/2/2019 để thống nhất tuyên truyền, soạn thảo tài liệu hướng dẫn, tổ chức phổ biến nội dung luật trên các phương tiện truyền thông, hội nghị, tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên của các cơ sở giáo dục đại học. Các bộ, ngành, địa phương và cơ sở giáo dục đại học cũng phối hợp triển khai thông qua công văn, hội nghị, và các kênh thông tin khác, đảm bảo nội dung của Luật được truyền tải rộng rãi, kịp thời tới tất cả đối tượng áp dụng và các bên liên quan.
Ngoài việc lồng ghép trong các hoạt động thường niên như tuần sinh hoạt công dân, các cơ sở giáo dục đại học còn tổ chức hội nghị tập huấn, cuộc thi tìm hiểu pháp luật, và cung cấp tài liệu trên các nền tảng trực tuyến. Những nỗ lực này giúp cá nhân và tổ chức hiểu rõ quyền tự chủ, thực hiện đúng các quy định pháp luật, đồng thời giảm thiểu vi phạm. Tuy nhiên, do một số yếu tố khách quan và chủ quan, chất lượng công tác quán triệt, tuyên truyền và tập huấn còn chưa đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ sở giáo dục đại học.
Công tác xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật
Thực hiện Quyết định số 1726/QĐ-TTg ngày 11/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phân công soạn thảo văn bản hướng dẫn thi hành các luật, Bộ GDĐT đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung Luật GDĐH; Bộ Tài chính đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập. Bộ GDĐT cũng đã tổ chức soạn thảo và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 quy định về hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học với nhiều điểm mới về chính sách; Nghị định số 103/2022/NĐ-CP quy định về trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có nội dung quy định về hoạt động giáo dục đại học của các cơ sở giáo dục này.
Bộ trưởng Bộ GDĐT đã ban hành Quyết định số 5660/QĐ-BGDĐT ngày 28/12/2018 phân công các đơn vị soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, ban hành và trình cơ quan có thẩm quyền thông qua 40 văn bản, bao gồm 06 nghị định, 06 quyết định của Thủ tướng, và 32 thông tư. Tính trong giai đoạn từ khi Luật sửa đổi, bổ sung của Luật giáo dục đại học được ban hành cho tới ngày 30/11/2024, Bộ GDĐT đã trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền 84 văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới lĩnh vực giáo dục đại học, bao gồm 17 nghị định, 01 quyết định của Thủ tướng và 66 thông tư. Bên cạnh đó, các bộ, ngành khác cũng đã trình ban hành, ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có đối tượng tác động liên quan tới các cơ sở GDĐH với vai trò là đơn vị sự nghiệp công lập (đối với cơ sở giáo dục đại học công lập) hoặc doanh nghiệp (đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục).
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật này đã hoàn thiện cơ bản, góp phần khắc phục hạn chế của Luật giáo dục đại học năm 2012, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Các văn bản này đã thể chế hóa chủ trương đổi mới giáo dục toàn diện, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học, cải cách quản trị và tài chính, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế, và tạo môi trường minh bạch, công khai. Tuy nhiên, một số văn bản vẫn chậm tiến độ do nội dung phức tạp, yêu cầu khảo sát, đánh giá và lấy ý kiến từ nhiều đối tượng liên quan. Hạn chế về kinh phí soạn thảo và sự phối hợp chưa hiệu quả giữa các cơ quan cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện. Những vấn đề này cần được khắc phục để đảm bảo tính kịp thời và hiệu quả trong ban hành văn bản pháp luật.
Tham khảo:
1. Báo cáo số 619/BC-BGDĐT ngày 22/5/2025 về tổng kết việc thi hành Luật Giáo dục đại học
2. Bộ GDĐT đánh giá sơ kết thực hiện Luật Giáo dục đại học giai đoạn 2019-2023
https://giaoduc.net.vn/bo-gddt-danh-gia-so-ket-thuc-hien-luat-giao-duc-dai-hoc-giai-doan-2019-2023-post248111.gd
3. Hoàn thiện dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi)
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/hoan-thien-du-thao-luat-giao-duc-dai-hoc-sua-doi-119250717165129988.htm