Bối cảnh quốc tế và trong nước đang có nhiều thay đổi lớn, tác động mạnh mẽ tới giáo dục, đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi xanh và toàn cầu hóa đang làm thay đổi cơ cấu ngành nghề, yêu cầu về năng lực của lực lượng lao động, đồng thời thúc đẩy các mô hình giáo dục, phương thức đào tạo mới.
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế số, công nghiệp 4.0, với yêu cầu cao về nhân lực có kỹ năng số, tư duy sáng tạo và khả năng thích nghi. Cơ cấu kinh tế và lao động đang dịch chuyển, nhu cầu nhân lực trình độ trung cấp, cao đẳng trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao ngày càng lớn. Biến động thị trường lao động do dịch bệnh (như COVID-19) và các yếu tố chính trị đòi hỏi hệ thống giáo dục nghề nghiệp linh hoạt và thích ứng nhanh. Sự phát triển của công nghệ dẫn đến nhiều mô hình đào tạo mới với xu hướng đào tạo trực tuyến, kết hợp…ngày càng phổ biến. Nhiều kỹ năng nghề mới ra đời nhanh chóng, trong khi một số nghề truyền thống dần biến mất, tạo sức ép phải đổi mới chương trình và hình thức đào tạo.
Yêu cầu phát triển kinh tế với mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới đặt ra nhu cầu cấp bách về nâng cao năng suất lao động. Mặc dù đất nước đang trong giai đoạn "dân số vàng", với lực lượng lao động trẻ, dồi dào nhưng song song với đó là xu hướng già hóa dân số diễn ra nhanh. Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải linh hoạt, không chỉ đào tạo lực lượng mới mà còn đào tạo lại, đào tạo bồi dưỡng nâng cao kỹ năng cho người lao động trung niên - cao tuổi, đảm bảo thích ứng dài hạn với thị trường lao động. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải nhanh chóng đáp ứng nhu cầu nêu trên. Việc thống nhất một bộ quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, chủ trương xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tăng cường phân cấp, phân quyền trong toàn hệ thống chính trị cũng tiếp tục đặt ra các yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp.
Việc hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế. Cạnh tranh nhân lực khu vực ASEAN gia tăng sau khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hình thành, dẫn tới yêu cầu chuẩn hóa đào tạo nghề và công nhận bằng cấp nghề nghiệp.
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm tạo bước đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nghề nghiệp (GDNN), trọng tâm là hiện đại hoá, đa dạng hoá phương thức đào tạo. Phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống GDNN; đổi mới GDNN theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, hiện đại, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường lao động và tạo cơ hội học tập suốt đời, cụ thể:
Chỉ thị 21-CT/TW ngày 04/5/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu: phấn đấu đến năm 2030 thu hút 50 - 55% học sinh trung học vào hệ thống GDNN; đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho khoảng 50% lực lượng lao động…; đồng thời đặt ra nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm: rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về GDNN, bảo đảm gắn với thị trường lao động theo hướng mở, liên thông, hiện đại, hội nhập và thích ứng; ưu tiên quỹ đất sạch dành cho GDNN, khuyến khích phát triển cơ sở GDNN của tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài; đổi mới nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bảo đảm “học đi đôi với hành”; nâng cao hiệu quả liên kết, hợp tác về GDNN giữa nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp tham gia GDNN từ khâu tuyển sinh, đào tạo đến sử dụng, thành lập các cơ sở thực hành tại các cơ sở GDNN. Chuyển nhanh cơ chế cấp phát ngân sách sang đặt hàng, giao nhiệm vụ; đẩy mạnh xã hội hoá, hợp tác công - tư nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực cho phát triển GDNN, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực, địa bàn mà khu vực ngoài công lập có thể tham gia. Bảo đảm chính sách bình đẳng đối với các cơ sở GDNN công lập và ngoài công lập. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; cập nhật kịp thời các tiêu chuẩn, công nghệ mới trong GDNN…
Nghị quyết 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới tiếp tục đặt ra yêu cầu: Đổi mới GDNN theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, hiện đại, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường lao động và tạo cơ hội học tập suốt đời. Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại ngành nghề phù hợp cho lực lượng lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tăng cường định hướng nghề nghiệp cho thanh niên ngay từ bậc học phổ thông; đẩy mạnh phân luồng, tăng số học sinh sau trung học cơ sở, trung học phổ thông vào GDNN; thực hiện đào tạo nghề, dạy văn hoá, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học tại các cơ sở GDNN. Đẩy nhanh xã hội hoá GDNN; đa dạng hoá chủ thể tham gia đào tạo, quy định trách nhiệm và khuyến khích doanh nghiệp đào tạo nghề cho người lao động.
Kết luận 91-KL/TW đã xác định nhiệm vụ cần tập trung đầu tư hiện đại hoá giáo dục nghề nghiệp và nâng cao tiềm lực nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục, đào tạo. Tiếp tục phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, hội nhập, gắn với thị trường lao động, chú trọng cả số lượng, cơ cấu, chất lượng đào tạo, quan tâm công tác đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho người lao động để thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường và công nghệ sản xuất; tăng cường định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên ngay từ bậc học phổ thông; đẩy mạnh phân luồng, tăng số lượng học sinh sau trung học cơ sở, trung học phổ thông vào giáo dục nghề nghiệp; thực hiện đào tạo nghề, dạy văn hoá, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quan tâm đầu tư, phát triển một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, ngành, nghề đào tạo đạt trình độ tương đương với khu vực và thế giới.
Tập trung đầu tư chiều sâu, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực chất lượng cao đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập ở một số ngành, nghề, lĩnh vực mang tầm cỡ khu vực và quốc tế nhằm tạo đột phá, chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao gắn với nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuyển đổi số quốc gia và hội nhập quốc tế; chú trọng các ngành, lĩnh vực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nhất là các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ và các ngành mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, bán dẫn,...
Bên cạnh những chủ trương, định hướng cụ thể về phát triển GDNN, thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành bốn Nghị quyết quan trọng, được xác định là Bộ tứ trụ cột đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Điều này đòi hỏi tất cả các lĩnh vực, trong đó có GDĐT mà cụ thể là GDNN cần cải cách toàn diện, sâu sắc và đồng bộ. Cụ thể:
- Để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, GDNN cần thực hiện những thay đổi toàn diện và sâu rộng: đổi mới chương trình đào tạo theo hướng số hóa và thực tiễn; phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao; đầu tư hạ tầng và công nghệ; trao quyền tự chủ cho các cơ sở GDNN trong việc xây dựng chương trình đào tạo, tuyển sinh, hợp tác quốc tế, nhằm tăng tính linh hoạt và sáng tạo…
- Nghị quyết 59-NQ/TW đề ra định hướng về khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường theo hướng tận dụng hội nhập để nâng cao trình độ quốc gia, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này đã đặt ra những cơ hội: cho phép và khuyến khích các cơ sở GDNN hợp tác với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài trong việc xây dựng chương trình đào tạo, trao đổi giảng viên và học viên; có cơ chế công nhận lẫn nhau về văn bằng, chứng chỉ giữa Việt Nam và các quốc gia khác, đặc biệt là trong khu vực ASEAN, để tạo điều kiện cho người học và người lao động Việt Nam tham gia thị trường lao động quốc tế. Bên cạnh đó, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến việc thành lập và tổ chức thực hiện các chương trình liên kết với nước ngoài.
- Để thực hiện yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp trong lĩnh vực GDNN (chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo) tại Nghị quyết số 66-NQ/TW, Luật GDNN cần sửa đổi theo hướng Luật đóng vai trò là khung pháp lý, tạo động lực thúc đẩy phát triển, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, thay vì chỉ tập trung vào quản lý hành chính. Cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền tối đa gắn với trách nhiệm tự chủ giải trình của cơ sở GDNN; cắt giảm tối đa các điều kiện đầu tư kinh doanh và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong Luật.
- Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho kinh tế tư nhân tại Nghị quyết số 68-NQ/TW yêu cầu GDNN cần thực hiện những thay đổi toàn diện nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của khu vực kinh tế tư nhân đang phát triển mạnh mẽ: Tăng cường hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp; thu hút sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo, đánh giá, công nhận tốt nghiệp; có các các chính sách thu hút hiệu quả sự tham gia của doanh nghiệp vào GDNN; tăng cường hợp tác quốc tế và đầu tư trong GDNN.
Nhằm thể chế hóa những chủ trương mới của Đảng về giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn thi hành Luật GDNN, tạo sự thống nhất, đồng bộ với Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đáp ứng những yêu cầu mới trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi thì việc xây dựng Luật GDNN (sửa đổi) là rất cần thiết.
Tham khảo:
Báo cáo số 1095/ BC-BGDĐT ngày 31/7/2025 về Tổng kết việc thi hành pháp luật về giáo dục nghề nghiệp
AI đang trở thành một phần không thể tách rời trong học tập, vui chơi và đời sống tinh thần của trẻ em, mang lại lợi ích lớn về cá nhân hóa giáo dục, mở rộng tiếp cận tri thức và hỗ trợ giáo viên, phụ huynh. Tuy nhiên, việc sử dụng AI sớm và rộng rãi cũng đặt ra những rủi ro nghiêm trọng: Suy giảm tư duy độc lập, gia tăng gian lận, lệ thuộc cảm xúc vào "bạn đồng hành" AI, và các nguy cơ đối với sức khỏe tâm thần. Vấn đề trọng tâm không phải là có dùng AI hay không, mà là cách quản lý, định hướng và đặt giới hạn để AI hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ em, thay vì làm thay đổi tiêu cực cách các em học, nghĩ và hình thành quan hệ xã hội.
Tại một số trường học ở Mỹ, giáo viên đã bất ngờ khi phát hiện học sinh lợi dụng Khan Academy - nền tảng học tập trực tuyến phổ biến - để gian lận trong các bài tập toán. Thay vì tự giải, các em nhận được sự "trợ giúp" từ một nhân vật bí ấn. Sau quá trình tìm hiểu, người ta xác định "thủ phạm" chính là Pytago - nhà toán học Hy Lạp cổ đại - được tái hiện dưới dạng mô phỏng AI. Khan Academy cho phép học sinh trò chuyện với những trí tuệ nối tiếng trong lịch sử, và các em nhanh chóng nhận ra rằng chỉ cần đưa ra vài gợi ý, "Pytago kỹ thuật số" sẽ sẵn sàng làm hộ bài tập về nhà.
Theo khảo sát của Trung tâm dân chủ và công nghệ (CDT), một tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ, thanh thiếu niên nước này có xu hướng sử dụng AI ở nhà nhiều hơn cha mẹ và cũng có khả năng tiếp xúc với AI trong trường học cao hơn so với việc cha mẹ họ sử dụng AI tại nơi làm việc. Trong môi trường giáo dục, AI được kỳ vọng sẽ làm thay đổi cách trẻ em được giảng dạy, đánh giá và dẫn hình thành tư duy. Trong môi trường gia đình, AI đang ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong đời sống của trẻ: Từ cách các em vui chơi, được giám sát, cho đến việc chia sẻ cảm xúc và hình thành các mối quan hệ. Những mối quan hệ này không chỉ diễn ra giữa trẻ và các cá nhân khác, mà còn mở rộng sang các hệ thống công nghệ. Thế hệ lớn lên cùng AI đang có trong tay những cơ hội mà các thế hệ trước đây khó có thể tưởng tượng. Tuy nhiên, đi kèm với đó là những rủi ro mới, chưa từng có tiền lệ.
Trẻ em hiện nay đang ở tuyến đầu trong quá trình phổ biến AI, đồng thời cũng trở thành nhóm chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất. Trong lớp học sự thay đổi diễn ra rất nhanh. Cách đây 2 năm, tại Mỹ, số trường học cấm sử dụng AI vẫn nhiều hơn số trường cho phép. Nhưng đến nay, AI đã dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống học đường. Theo khảo sát của Tập đoàn RAND, một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ, khoảng 61% học sinh trung học và 69% giáo viên cho biết họ đang sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ trong học tập và giảng dạy.
Các bậc phụ huynh cũng đang bổ sung hình thức hỗ trợ này bằng cách cho con sử dụng gia sư AI tại nhà. Xu hướng này đặc biệt phổ biến tại Trung Quốc, nơi các kỳ thi có tính cạnh tranh rất cao đã biến hoạt động dạy kèm thành một ngành kinh doanh sinh lợi lớn. Việc Chính phủ Trung Quốc siết chặt hoạt động dạy thêm ngoài giờ học vào năm 2021, nhằm giảm áp lực cho các gia đình, đã vô tình tạo ra động lực mới cho các công ty phát triển thiết bị giáo dục ứng dụng AI. Trong khi gia sư truyền thống bị cấm giảng dạy chương trình chính khóa, kể cả dưới hình thức trực tuyến, thì gia sư AI lại không nằm trong diện hạn chế này.
Tuy vậy, không phải ai cũng ủng hộ việc sử dụng các công cụ học tập ứng dụng AI, thường được gọi là edu-bot. Theo nghiên cứu của RAND, chỉ 22% hiệu trưởng các trường học ở Mỹ cho rằng AI gây hại cho kỹ năng tư duy phản biện của học sinh, trong khi tỷ lệ này ở phụ huynh lên tới 61%.
Đáng chú ý, 55% học sinh trung học cũng chia sẻ quan điểm tương tự. Một phần những lo ngại này có thể bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết và trải nghiệm thực tế. CDT nhận thấy những giáo viên lo ngại AI nhiều nhất thường là những người làm việc tại các trường ít sử dụng công nghệ này. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những em không hài lòng với AI lại là những em học tại các trường sử dụng AI nhiều nhất.
Cả học sinh và giáo viên đều cho biết họ nhận được rất ít hướng dẫn cụ thể về cách sử dụng AI một cách phù hợp. Các bậc phụ huynh cũng có quan điểm rất khác nhau về việc liệu AI có nên được phép hỗ trợ làm bài tập về nhà hay không. Một bộ phận nhỏ học sinh đã sử dụng AI theo cách không phù hợp. Victor Lee, giảng viên Đại học Stanford, cùng các cộng sự phát hiện rằng 15% học sinh trung học Mỹ thừa nhận đã dùng AI để hoàn thành toàn bộ bài tập trong năm nay, tăng so với mức 11% ghi nhận vào năm 2024;
Mối lo lớn hơn cả là nguy cơ trẻ em dần từ bỏ việc tự suy nghĩ. Tại Trung Quốc, một cuộc khảo sát trên toàn quốc cho thấy 21% học sinh tiểu học và trung học cho biết các em thà dựa vào AI hơn là tự tư duy độc lập. Các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã đo hoạt động não của học sinh khi viết bài luận, trong đó một nhóm được ChatGPT hỗ trợ và nhóm còn lại không sử dụng công cụ này. Kết quả cho thấy não của những học sinh sử dụng ChatGPT hoạt động ít hơn, đồng thời, các em cũng kém hơn trong việc ghi nhớ chính xác nội dung bài luận mà mình đã viết.
Kết thúc một ngày học không đồng nghĩa với việc trẻ em rời xa AI. Theo CDT, thanh thiếu niên Mỹ có xu hướng sử dụng công nghệ ở nhà nhiều hơn so với ở trường. Trong không gian gia đình, AI tiếp tục hiện diện trong đời sống hằng ngày, góp phần định hình một tuổi thơ ngày càng được cá nhân hóa và "thiết kế riêng" cho từng người dùng.
Trước những rủi ro ngày càng rõ ràng, các cơ quan quản lý đang chuẩn bị các biện pháp bảo vệ trẻ em. Một số thượng nghị sĩ Mỹ đang thúc đây dự luật cấm hoàn toàn việc sử dụng chatbot làm bạn đồng hành cho trẻ em. Trung Quốc gần đây cũng nhấn mạnh các rủi ro liên quan đến tình trạng nghiện và sự phụ thuộc vào các tương tác được nhân cách hóa. Song song với các động thái quản lý, các công ty công nghệ đang phát triển những sản phẩm riêng biệt dành cho trẻ em.
Tham khảo:
1. Những nguy cơ từ trí tuệ nhân tạo đối với trẻ em
https://daibieunhandan.vn/nhung-nguy-co-tu-tri-tue-nhan-tao-doi-voi-tre-em-10305597.html
2. Những nguy cơ từ trí tuệ nhân tạo đối với trẻ em
https://nhandan.vn/bao-ve-tre-em-truoc-mat-trai-cua-tri-tue-nhan-tao-post814818.html
3. Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam
Luật Phòng, chống ma tuý (PCMT) năm 2021 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 30/3/2021 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022). Quá trình triển khai thực hiện Luật PCMT năm 2021 đã đạt được nhiều kết quả tích cực trên các mặt, nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là trong công tác cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.Trong thời gian qua công tác tuyên truyền, phổ biến Luật PCMT và các văn bản hướng dẫn thi hành được các Bộ, ngành, chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể thực hiện thường xuyên, đồng bộ; lồng ghép nhiều dự án, chương trình phát triển kinh tế với phong trào giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa; có sự phối kết hợp giữa công tác phòng và chống, giữa lực lượng chính quy và vận động quần chúng nhân dân; đồng thời tăng cường vai trò của phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội…
Nội dung tuyên truyền phong phú, đa dạng; tập trung vào quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý; những điểm mới của Luật PCMT năm 2021; hậu quả, tác hại của ma túy; tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn của tội phạm ma túy và các loại ma túy mới xuất hiện trên thị trường bất hợp pháp; nâng cao nhận thức về trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội trong công tác PCMT…
Tích cực, chủ động triển khai nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công tác PCMT: Phát hành tài liệu, sách[1], tranh ảnh, tờ rơi, đĩa CD, mở các trang, chuyên mục trên sóng phát thanh2, Đài truyền hình3, báo in, báo điện tử, đến các phương thức tuyên truyền trực quan như mít tinh, cổ động, triển lãm, trưng bày pano, áp phích, tổ chức các cuộc nói chuyện, tọa đàm, tuyên truyền miệng; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật và kiến thức về phòng, chống ma túy4… Xây dựng và duy trì các mô hình: “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Tổ liên gia tự quản”, “Giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng”, “Phụ nữ không có chồng con mắc tệ nạn xã hội, nghiện ma túy”...
Triển khai nhiều dự án như “Giải quyết điểm, tụ điểm và chuyển hoá địa bàn trọng điểm phức tạp về ma tuý tại xã, phường, thị trấn”, “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng, chống tội phạm về ma túy vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”, “xã biên giới sạch về ma tuý” tại các địa bàn trọng điểm về ma tuý, địa bàn có nguy cơ trồng và tái trồng cây thuốc phiện, cây cần sa và các loại cây khác có chứa chất ma tuý.
Công tác tuyên truyền PCMT được tiến hành rộng rãi trong quần chúng nhân dân, từ công chức, viên chức, người lao động, công nhân, học sinh, sinh viên, đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa… được đẩy mạnh và thu được những kết quả tích cực5. Kịp thời nhân rộng những cách làm hay, mô hình hiệu quả trong công tác phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy, công tác quản lý người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương6.
Thời gian qua, công tác ban hành văn bản hướng dẫn thi hành cũng được chú trọng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH ngày 03/12/2022 quy định trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân (trong đó có biện pháp đưa đi cai nghiện ma tuý bắt buộc).
Chính phủ ban hành các Nghị định: Nghị số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật PCMT; Nghị định số 109/2021/NĐ-CP ngày 08/12/2021 về Quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma tuý và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma tuý; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 về Quy định chi tiết một số điều của Luật PCMT, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo.
Mới đây nhất, căn cứ theo Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Công an các đơn vị, địa phương đã khẩn trương triển khai thực hiện các quy định của Thông tư liên tịch để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao, các bộ đã ban hành các văn bản thực hiện Luật và chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể như: Bộ Y tế ban hành Thông tư số 18/2021/TT-BYT ngày 16/11/2021 về quy định tiêu chuẩn chẩn đoán và quy trình chuyên môn để xác định tình trạng nghiện ma tuý; Bộ Công an ban hành Thông tư số 13/2022/TT-BCA ngày 05/4/2022 quy định biểu mẫu và chế độ báo cáo thống kê về phòng, chống ma túy.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống ma tuý vừa là yêu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, vừa là nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đã và đang đặt ra trong công tác bảo đảm an ninh trật tự.
Tham khảo:
Báo cáo số 1751/BC-BCA-C04 ngày 04/7/2025 về Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phòng, chống ma tuý năm 2021.
[1] Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã chủ trì, phối hợp với Vụ Giáo dục chính trị và Công tác học sinh, sinh viên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) xây dựng cuốn tài liệu tuyên truyền “Phòng, chống ma túy trong các cơ sở giáo dục, trường học” trong đó các nội dung về pháp luật phòng, chống ma túy trở thành một môn học ngoại khóa trong các cơ sở giáo dục, trường học trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố.
2 Bộ Dân tộc và Tôn giáo phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và các quy định của pháp luật có liên quan trên sóng VOV1.
3 Bộ Công an phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam tổ chức cuộc thi “Trường học không ma túy” dành cho đối tượng học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, được ghi hình, phát sóng và đăng tải trên các nền tảng số của Đài truyền hình Việt Nam.
4 Bộ Công an tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu Luật Phòng, chống ma túy” trên phạm vi toàn quốc nhằm tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức xã hội trong việc thực hiện pháp luật về PCMT. Kết quả sau 03 tháng triển khai tổ chức cuộc thi, có 3.226.354 lượt thí sinh tham gia trực tuyến, tiếp cận 7% dân số ở độ tuổi 15-45 tuổi; có 4.765 bài thi hình thức tự luận.
5 Cơ quan Công tác dân tộc và tôn giáo các tỉnh, thành phố phối hợp với sở, ngành có liên quan tổ chức 16.626 cuộc tuyên truyền với 822.994 lượt người tham dự. Thực hiện 02 mô hình thí điểm: “Phòng, chống tệ nạn xã hội” ở tỉnh Bạc Liêu và “Khu dân cư phòng, chống tội phạm ma túy” tại tỉnh Đắk Lắk. Lồng ghép với Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN đã tổ chức 105 hội nghị tuyên truyền với 9.488 đại biểu là người có uy tín tham dự.
6 Điển hình như tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên (mô hình trồng cây Lê, cây Ngô sinh khối, chăn nuôi bò cái sinh sản, mô hình trồng Trám đen ghép, cây thảo quả, cây sa nhân, cây giổi, cây chè ….).
Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2013, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 34/2018/QH14 ngày 19/11/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (Luật số 34), có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019.
Luật số 34 được ban hành với 8 điểm mới cơ bản, như: xác định rõ hệ thống cơ sở giáo dục đại học, tiệm cận với xu hướng quốc tế, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam; tạo ra sự bình đẳng giữa cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục, thúc đẩy sự phát triển của giáo dục đại học tư thục; tạo cơ sở pháp lý rõ ràng về quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học; mở rộng phạm vi, nâng cao hiệu quả tự chủ đại học, gắn với trách nhiệm giải trình; đổi mới quản trị đại học, đảm bảo thực quyền của hội đồng trường với vai trò là cơ quan quản trị hiệu quả phù hợp với thông lệ quốc tế; đổi mới cơ chế quản lý tài chính, tài sản, các cơ sở giáo dục đại học tự chủ xây dựng và quyết định mức học phí đảm bảo tương xứng với chất lượng đào tạo và công bố công khai; đổi mới quản lý đào tạo; đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện tự chủ đại học...
Qua thực tiễn 12 năm thi hành Luật Giáo dục đại học năm 2012 và gần 6 năm triển khai thi hành Luật Giáo dục đại học năm 2018, có thể khẳng định Luật Giáo dục đại học đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động Giáo dục đại học, nâng cao trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. Trong đó, công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và công tác xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đã đạt được một số kết quả cơ bản.
Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật
Công tác tuyên truyền và phổ biến Luật giáo dục đại học cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã được triển khai đồng bộ và nghiêm túc tại từ các cơ quan trung ương đến địa phương và các cơ sở giáo dục đại học. Bộ GDĐT ban hành và tổ chức triển khai Kế hoạch số 115/KH-BGDĐT ngày 12/2/2019 để thống nhất tuyên truyền, soạn thảo tài liệu hướng dẫn, tổ chức phổ biến nội dung luật trên các phương tiện truyền thông, hội nghị, tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên của các cơ sở giáo dục đại học. Các bộ, ngành, địa phương và cơ sở giáo dục đại học cũng phối hợp triển khai thông qua công văn, hội nghị, và các kênh thông tin khác, đảm bảo nội dung của Luật được truyền tải rộng rãi, kịp thời tới tất cả đối tượng áp dụng và các bên liên quan.
Ngoài việc lồng ghép trong các hoạt động thường niên như tuần sinh hoạt công dân, các cơ sở giáo dục đại học còn tổ chức hội nghị tập huấn, cuộc thi tìm hiểu pháp luật, và cung cấp tài liệu trên các nền tảng trực tuyến. Những nỗ lực này giúp cá nhân và tổ chức hiểu rõ quyền tự chủ, thực hiện đúng các quy định pháp luật, đồng thời giảm thiểu vi phạm. Tuy nhiên, do một số yếu tố khách quan và chủ quan, chất lượng công tác quán triệt, tuyên truyền và tập huấn còn chưa đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ sở giáo dục đại học.
Công tác xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật
Thực hiện Quyết định số 1726/QĐ-TTg ngày 11/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phân công soạn thảo văn bản hướng dẫn thi hành các luật, Bộ GDĐT đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung Luật GDĐH; Bộ Tài chính đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập. Bộ GDĐT cũng đã tổ chức soạn thảo và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 quy định về hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học với nhiều điểm mới về chính sách; Nghị định số 103/2022/NĐ-CP quy định về trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có nội dung quy định về hoạt động giáo dục đại học của các cơ sở giáo dục này.
Bộ trưởng Bộ GDĐT đã ban hành Quyết định số 5660/QĐ-BGDĐT ngày 28/12/2018 phân công các đơn vị soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, ban hành và trình cơ quan có thẩm quyền thông qua 40 văn bản, bao gồm 06 nghị định, 06 quyết định của Thủ tướng, và 32 thông tư. Tính trong giai đoạn từ khi Luật sửa đổi, bổ sung của Luật giáo dục đại học được ban hành cho tới ngày 30/11/2024, Bộ GDĐT đã trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền 84 văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới lĩnh vực giáo dục đại học, bao gồm 17 nghị định, 01 quyết định của Thủ tướng và 66 thông tư. Bên cạnh đó, các bộ, ngành khác cũng đã trình ban hành, ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có đối tượng tác động liên quan tới các cơ sở GDĐH với vai trò là đơn vị sự nghiệp công lập (đối với cơ sở giáo dục đại học công lập) hoặc doanh nghiệp (đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục).
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật này đã hoàn thiện cơ bản, góp phần khắc phục hạn chế của Luật giáo dục đại học năm 2012, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Các văn bản này đã thể chế hóa chủ trương đổi mới giáo dục toàn diện, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học, cải cách quản trị và tài chính, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế, và tạo môi trường minh bạch, công khai. Tuy nhiên, một số văn bản vẫn chậm tiến độ do nội dung phức tạp, yêu cầu khảo sát, đánh giá và lấy ý kiến từ nhiều đối tượng liên quan. Hạn chế về kinh phí soạn thảo và sự phối hợp chưa hiệu quả giữa các cơ quan cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện. Những vấn đề này cần được khắc phục để đảm bảo tính kịp thời và hiệu quả trong ban hành văn bản pháp luật.
Tham khảo:
1. Báo cáo số 619/BC-BGDĐT ngày 22/5/2025 về tổng kết việc thi hành Luật Giáo dục đại học
2. Bộ GDĐT đánh giá sơ kết thực hiện Luật Giáo dục đại học giai đoạn 2019-2023
https://giaoduc.net.vn/bo-gddt-danh-gia-so-ket-thuc-hien-luat-giao-duc-dai-hoc-giai-doan-2019-2023-post248111.gd
3. Hoàn thiện dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi)
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/hoan-thien-du-thao-luat-giao-duc-dai-hoc-sua-doi-119250717165129988.htm
Câu hỏi: Mức trợ cấp tuất hằng tháng được quy định như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời:
Căn cứ Điều 87 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
- Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức tham chiếu; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức tham chiếu.
- Trường hợp một người chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 86 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng tối đa 04 người; trường hợp có từ 02 người chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở lên thì thân nhân được hưởng 02 lần mức trợ cấp quy định tại khoản 1 Điều 87 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
- Thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng được tính kể từ ngày đầu tiên của tháng liền kề sau tháng mà đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 86 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Trường hợp con được sinh sau thời điểm người cha, người cha là chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ hoặc người mẹ nhờ mang thai hộ chết thì thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng của con tính từ tháng con được sinh.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất một lần?
Trả lời:
Căn cứ Điều 88 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, các đối tượng sau đây chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được xét hưởng trợ cấp tuất một lần:
- Người đang tham gia bảo hiểm xã hội hoặc đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội;
- Người đang hưởng hoặc đang tạm dừng hưởng lương hưu; người đang hưởng hoặc đang tạm dừng hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc.
Các đối tượng trên khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất một lần trong các trường hợp sau đây:
- Không đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 86 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
- Thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 86 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nhưng không có thân nhân hưởng tiền tuất hằng tháng quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
- Thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nhưng có nguyện vọng hưởng trợ cấp tuất một lần;
- Trường hợp không có thân nhân quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì trợ cấp tuất một lần được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Câu hỏi: Mức trợ cấp tuất một lần được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng mức trợ cấp tuất cho mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội nhân với số năm đóng bảo hiểm xã hội nhưng không thấp hơn 03 tháng mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để tính trợ cấp tuất một lần thực hiện theo quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tính đến thời điểm dừng đóng. Mức trợ cấp tuất cho mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
- Bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng bảo hiểm xã hội trước năm 2014.
Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội có cả trước và sau năm 2014 mà thời gian đóng trước năm 2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi;
- Bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho các năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi.
2. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu hoặc đang tạm dừng hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu và được quy định như sau:
- Trường hợp chết trong 02 tháng đầu thì mức trợ cấp tuất một lần bằng 48 tháng lương hưu của tháng đang hưởng;
- Trường hợp chết từ tháng thứ ba trở đi thì cứ mỗi tháng mức trợ cấp tuất một lần giảm 0,5 tháng lương hưu so với mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nhưng không thấp hơn 03 tháng lương hưu của tháng đang hưởng.
3. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội một lần trước khi chết bằng 03 tháng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng của tháng đang hưởng.
4. Mức tham chiếu dùng để tính trợ cấp tuất một lần là mức tham chiếu tại tháng mà đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 chết.
5. Chính phủ quy định việc giải quyết chế độ tử tuất đối với trường hợp người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng chưa nghỉ việc hoặc còn bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đồng thời là người đang hưởng lương hưu.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Giải quyết hưởng chế độ tử tuất?
Trả lời:
Căn cứ Điều 91 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
1. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người đang hưởng hoặc đang tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng chết thì thân nhân hoặc tổ chức, cá nhân lo mai táng nộp hồ sơ quy định tại Điều 90 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
2. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chết thì thân nhân hoặc tổ chức, cá nhân lo mai táng nộp hồ sơ quy định tại Điều 90 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho người sử dụng lao động.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ thân nhân của người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
3. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu hỏi: Đối tượng hưởng chế độ tử tuất được quy định như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời:
Căn cứ Điều 84 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đối tượng hưởng chế độ tử tuất của người tham gia bảo hiểm xã hội khi chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết là thân nhân gồm: (1) các con (bao gồm cả con khi người mẹ đang mang thai mà người cha chết, con khi lao động nữ mang thai hộ đang mang thai mà người cha hoặc người mẹ nhờ mang thai hộ chết thì được hưởng đến khi đủ 18 tuổi; con bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên); (2) Vợ, chồng đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động. Vợ, chồng chưa đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; (3) Cha đẻ, mẹ đẻ; cha đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc của chồng; (4) thành viên khác của gia đình đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động mà người đã chết đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; (5) thành viên khác của gia đình chưa đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; (6) người thừa kế quy định tại điểm d khoản 2 Điều 88 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024; (7) tổ chức, cá nhân lo mai táng quy định khoản 1 Điều 85 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Trợ cấp mai táng?
Trả lời:
Căn cứ Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trợ cấp mai táng được quy định như sau:
1. Người sau đây khi chết thì tổ chức, cá nhân lo mai táng được nhận một lần trợ cấp mai táng:
- Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên;
- Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
- Người đang hưởng hoặc đang tạm dừng hưởng lương hưu; người đang hưởng hoặc đang tạm dừng hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc.
2. Mức trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức tham chiếu tại tháng mà người thuộc đối tượng trên chết.
3. Trường hợp các đối tượng trên bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức tham chiếu tại tháng mà người thuộc đối tượng trên chết.
Câu hỏi: Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 86 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 khi chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thân nhân được hưởng tiền tuất hằng tháng:
- Có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên;
- Đang hưởng lương hưu hoặc đang tạm dừng hưởng lương hưu;
- Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
- Đang hưởng hoặc đang tạm dừng hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
2. Thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng bao gồm:
- Các con bao gồm cả con khi người mẹ đang mang thai mà người cha chết, con khi lao động nữ mang thai hộ đang mang thai mà người cha hoặc người mẹ nhờ mang thai hộ chết thì được hưởng đến khi đủ 18 tuổi;
- Con bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
- Vợ, chồng đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động. Vợ, chồng chưa đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
- Cha đẻ, mẹ đẻ; cha đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc của chồng; thành viên khác của gia đình đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động mà người quy định tại khoản 1 Điều 86 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình;
- Cha đẻ, mẹ đẻ; cha đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc của chồng; thành viên khác của gia đình chưa đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
3. Không áp dụng trợ cấp tuất hằng tháng đối với thân nhân là người đang hưởng tiền lương và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, trợ cấp hằng tháng mà mức hưởng bằng hoặc cao hơn mức tham chiếu, không bao gồm khoản trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.
4. Kết quả khám giám định mức suy giảm khả năng lao động để hưởng trợ cấp tuất hằng tháng phải được xác định chậm nhất 06 tháng kể từ ngày người tham gia bảo hiểm xã hội chết hoặc kể từ ngày thân nhân hết thời hạn hưởng trợ cấp theo quy định.
5. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về việc tính, việc xác định điều kiện đối với từng trường hợp để giải quyết chế độ tử tuất.
Câu hỏi: Hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần gồm những gì theo quy định của pháp luật?
Trả lời:
Căn cứ Điều 78 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; và Văn bản đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động.
Trường hợp ra nước ngoài để định cư, ngoài sổ bảo hiểm xã hội và văn bản đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động thì có thêm bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ sau:
- Hộ chiếu do nước ngoài cấp;
- Thị thực của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp có xác nhận việc cho phép nhập cảnh để định cư ở nước ngoài;
- Thẻ thường trú dài hạn ở nước ngoài của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp;
- Giấy tờ hợp pháp khác thể hiện việc định cư ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
Trường hợp là người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS, ngoài sổ bảo hiểm xã hội và văn bản đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động thì có thêm bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc bản chính hoặc bản sao giấy ra viện.
4. Trường hợp là người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng, ngoài sổ bảo hiểm xã hội và văn bản đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động thì có thêm biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao giấy xác nhận mức độ khuyết tật đặc biệt nặng.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Giải quyết hưởng lương hưu, hưởng bảo hiểm xã hội một lần?
Trả lời:
Căn cứ Điều 79 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, việc giải quyết hưởng lương hưu, hưởng bảo hiểm xã hội một lần được quy định như sau:
- Trong thời hạn 20 ngày trước thời điểm người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu, người sử dụng lao động nộp hồ sơ quy định tại Điều 77 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Trong thời hạn 20 ngày trước thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nộp hồ sơ quy định tại Điều 77 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
- Người lao động khi đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần nộp hồ sơ quy định tại Điều 78 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
- Trong thời hạn 20 ngày, không bao gồm ngày nghỉ lễ, tết, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người đề nghị hưởng lương hưu hoặc trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu hỏi: Hồ sơ đề nghị tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng trong trường hợp đã bị tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng gồm những gì?
Trả lời:
Căn cứ Điều 75 và Điều 80 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
- Đối với trường hợp là người từ chối hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bằng văn bản, hồ sơ đề nghị tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bao gồm Văn bản đề nghị tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng ;
- Đối với trường hợp là người xuất cảnh trái phép trở về, hồ sơ đề nghị tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bao gồm Văn bản đề nghị tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng và Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trở về nước.
- Đối với trường hợp là người có quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc quyết định tuyên bố là đã chết, hồ sơ đề nghị tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bao gồm Văn bản đề nghị tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng và Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố là đã chết.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Giải quyết tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng trong trường hợp đã bị tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng?
Trả lời:
Căn cứ Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trường hợp đã bị tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, khi muốn tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng thì người đề nghị nộp hồ sơ theo quy định tại Điều 80 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Thay đổi hình thức nhận, nơi nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng?
Trả lời:
Căn cứ Điều 82 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có nguyện vọng thay đổi hình thức nhận hoặc thay đổi nơi nhận do chuyển nơi cư trú trong nước thì có văn bản gửi cơ quan bảo hiểm xã hội nơi đang chi trả.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thay đổi hình thức nhận hoặc thay đổi nơi nhận do chuyển nơi cư trú trong nước, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Hồ sơ, trình tự khám giám định mức suy giảm khả năng lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội?
Trả lời:
Căn cứ Điều 83 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, hồ sơ, trình tự khám giám định mức suy giảm khả năng lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.
Việc khám giám định mức suy giảm khả năng lao động phải bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch. Hội đồng giám định y khoa chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả giám định.
Từ ngày 28/8 đến ngày 30/8, Đoàn công tác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải làm Trưởng đoàn, đã thăm và làm việc tại Nhật Bản.
Theo đó, ngày 28/8/2025, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Hải đã làm việc với Chủ tịch Hội đồng tỉnh Saitama Shirato Yukihito, một số thành viên Hội đồng tỉnh và đại diện Hội người Việt tại địa phương, với sự tham dự của Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu.

Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải làm việc với Chủ tịch Hội đồng tỉnh Saitama Shirato Yukihito
Hai bên khẳng định hợp tác cấp địa phương là kênh quan trọng, góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, lao động và giao lưu nhân dân giữa Việt Nam và Nhật Bản. Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải ghi nhận và đánh giá cao gần 100 doanh nghiệp Saitama đang đầu tư tại Việt Nam, trong đó có nhiều doanh nghiệp tập trung tại Khu Công nghiệp Nhơn Trạch (Đồng Nai); nhấn mạnh, Saitama là địa phương giàu tiềm năng hợp tác, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo và công nghệ cao. Hiện có khoảng 47.000 người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Saitama, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế – xã hội cũng như làm phong phú đời sống văn hóa địa phương.

Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải trao biểu trưng Nhà Quốc hội tặng Chủ tịch Hội đồng tỉnh Saitama Shirato Yukihito
Cùng ngày, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải và Đoàn công tác đã đến thăm, làm việc với Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, nghe báo cáo về tình hình hợp tác song phương, đời sống cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản và định hướng thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong thời gian tới.

Cũng trong khuôn khổ chuyến công tác tại Nhật Bản, trong các ngày 29–30/8, đồng chí Nguyễn Thanh Hải đã có các cuộc làm việc với Chủ tịch Ủy ban Điều hành của Hạ viện Hamada Yasukazu, Chủ tịch Ủy ban Đặc biệt về cải cách chính trị của Thượng viện Furukawa Motohisa và đại diện Cơ quan bầu cử thuộc Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản.
Tại các cuộc gặp, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải bày tỏ vui mừng được dẫn đầu đoàn công tác thăm và làm việc tại Nhật Bản; trân trọng cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình của lãnh đạo Thượng viện, Hạ viện, Bộ Nội vụ Truyền thông Nhật Bản cùng các nghị sĩ; đồng thời đánh giá cao sự quan tâm, ủng hộ của phía Nhật Bản đối với việc thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian qua.

Đoàn công tác Ủy ban Công tác đại biểu làm việc với Chủ tịch Ủy ban Điều hành của Hạ viện Hamada Yasukazu
Hai bên nhất trí cho rằng hợp tác nghị viện là một kênh quan trọng trong tổng thể quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nhật Bản, góp phần củng cố tin cậy chính trị, thúc đẩy giao lưu nhân dân và mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh Thỏa thuận hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Thượng viện Nhật Bản, được ký kết tháng 12/2024, là nền tảng quan trọng để tăng cường hiệu quả hợp tác nghị viện song phương và đa phương.

Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải tại buổi làm việc với Chủ tịch Ủy ban Điều hành của Hạ viện Hamada Yasukaz
Đề nghị hai bên đẩy mạnh trao đổi đoàn, giao lưu nghị sĩ, nhất là nghị sĩ trẻ, nữ nghị sĩ; phát huy vai trò cầu nối của nghị sĩ hai nước trong việc thúc đẩy hợp tác địa phương, doanh nghiệp; mở rộng hợp tác giữa các ủy ban chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực chuyên môn của Uỷ ban Công tác đại biểu như công tác bầu cử, công tác tổ chức và công tác cán bộ trong khối đại biểu dân cử…
Trong trao đổi với đại diện Cơ quan bầu cử Nhật Bản, Đoàn Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chia sẻ kinh nghiệm trong công tác bầu cử, nhất là khi Việt Nam đang chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Cho biết Việt Nam đang triển khai nhiều đổi mới, trong đó có sắp xếp, cải cách đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đặt ra yêu cầu cao đối với công tác bầu cử, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải bày tỏ mong muốn tiếp tục nhận được sự trao đổi quý báu từ phía Nhật Bản trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ phục vụ công tác bầu cử, ứng dụng chuyển đổi số trong công tác bầu cử…

Chủ nhiệm Uỷ ban Công tác Đại biểu Nguyễn Thanh Hải làm việc với đại diện Cơ quan bầu cử thuộc Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản
Tại các cuộc làm việc, Chủ tịch Ủy ban Điều hành của Hạ viện, Chủ tịch Ủy ban Đặc biệt về cải cách chính trị của Thượng viện và đại diện Cơ quan bầu cử thuộc Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản đều bày tỏ ấn tượng trước tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam thời gian qua; khẳng định sẽ tiếp tục thúc đẩy triển khai hiệu quả kết quả của chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru, với nhiều nội dung hợp tác mới trong các lĩnh vực như: quốc phòng-an ninh, kinh tế, nông nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực, lao động, địa phương...

Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải tại buổi làm việc với Chủ tịch Uỷ ban Đặc biệt về cải cách chính trị Thượng viện Nhật Bản
Chủ tịch Ủy ban Cải cách Chính trị Thượng viện Furukawa Motohisa, Chủ tịch Ủy ban Điều hành Hạ viện Hamada Yasukazu và đại diện các cơ quan của Nhật Bản chúc Việt Nam tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI, đưa đất nước tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Nhân dịp này, đồng chí Nguyễn Thanh Hải đã trân trọng mời Chủ tịch Ủy ban Đặc biệt về cải cách chính trị của Thượng viện Nhật Bản Furukawa Motohisa sang thăm Việt Nam vào thời gian phù hợp.
Các cuộc làm việc diễn ra trong bầu không khí hữu nghị, tin cậy và xây dựng, góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nhật Bản vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở châu Á và trên thế giới.
Triển khai kế hoạch công tác năm 2025, ngày 1/8/2025 tại tỉnh Sơn La, Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La phối hợp tổ chức Hội nghị bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hoạt động cho đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường năm 2025.
Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trung tâm hành chính tỉnh Sơn La và trực tuyến đến điểm cầu các xã, phường của tỉnh.

Toàn cảnh Hội nghị bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hoạt động cho đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường.
Dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Thái Hưng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La; đồng chí Đặng Ngọc Huy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội; lãnh đạo các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh; đại biểu Hội đồng nhân dân các xã, phường.

Đồng chí Nguyễn Thái Hưng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu tại Hội nghị
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Thái Hưng, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La khẳng định, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của người dân; quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội - bảo đảm quốc phòng an ninh của địa phương. Khối lượng và áp lực công việc của Hội đồng nhân dân đối với các vị đại biểu Hội đồng nhân dân ngày càng lớn hơn, trọng trách nặng nề hơn. Vì vậy, việc cung cấp thông tin, kiến thức mới, trang bị kỹ năng, nghiệp vụ cho các vị Đại biểu Hội đồng nhân dân là hết sức quan trọng, cần thiết.
Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị các đại biểu tập trung theo dõi, tiếp thu, tích cực trao đổi, thảo luận với tinh thần cầu thị, nắm bắt các vấn đề thật chắc, thật kỹ để áp dụng những kiến thức, những hiểu biết đã được trao đổi, học hỏi tại hội nghị này vào thực tiễn hoạt động của mình góp phần từng bước nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp.
Trong 2 ngày diễn ra, các đại biểu sẽ được các báo cáo viên truyền đạt 6 chuyên đề, gồm:
(1) Công tác xây dựng và ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường do ông Nguyễn Văn Pha, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trình bày;
(2) Công tác chuẩn bị và tổ chức hoạt động giám sát, khảo sát và chất vấn của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường do ông Bùi Đức Thụ, Nguyên Phó Trưởng Ban Công tác đại biểu, nguyên Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách, tài chính - tiền tệ Quốc gia trình bày;
(3) Kỹ năng và kinh nghiệm thẩm tra các nội dung trình kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã, phường do ông Ông Ngô Tự Nam, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội trình bày;
(4) Khái quát vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 do ông Đặng Ngọc Huy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội trình bày;
(5) Quán triệt một số nội dung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 83/2025/QH15; Một số điểm mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 do ông Thào A Só, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Uỷ viên Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Trưởng Ban Pháp chế của Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La trình bày;
(6) Công tác chuẩn bị và tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân, kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã, phường do Ông Chá A Của, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La, Đại biểu Quốc hội khoá XV trình bày.

Các đại biểu tham dự hội nghị.
Hội nghị cung cấp những kiến thức cơ bản theo lĩnh vực thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, phường và trang bị những kỹ năng hoạt động cần thiết cho đại biểu Hội đồng nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử ở địa phương.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Thực hiện bảo hiểm xã hội khi áp dụng chế độ tiền lương theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế cho hệ thống bảng lương hiện hành?
Trả lời:
Căn cứ Điều 74 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, thực hiện bảo hiểm xã hội khi áp dụng chế độ tiền lương theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế cho hệ thống bảng lương hiện hành được quy định như sau:
Trường hợp Nhà nước áp dụng chế độ tiền lương theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế cho hệ thống bảng lương hiện hành thì Chính phủ báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định việc điều chỉnh căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ tính lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và những nội dung cần thiết khác.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về tạm dừng, chấm dứt, tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng?
Trả lời:
Căn cứ Điều 75 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, tạm dừng, chấm dứt, tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng được quy định như sau:
1. Tạm dừng việc hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng đối với người đang hưởng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Xuất cảnh trái phép;
- Bị Tòa án tuyên bố mất tích;
-Khi không xác minh được thông tin người thụ hưởng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 11 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
2. Chấm dứt việc hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng đối với người đang hưởng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết;
- Từ chối hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bằng văn bản;
- Kết luận của cơ quan có thẩm quyền về hưởng bảo hiểm xã hội không đúng quy định của pháp luật.
3. Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng của đối tượng quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 75 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được tiếp tục chi trả bao gồm cả tiền lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng của thời gian chưa nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người xuất cảnh trái phép trở về;
- Có quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc quyết định tuyên bố là đã chết;
- Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này đã xác minh được thông tin theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 11 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
4. Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 75 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được tiếp tục chi trả kể từ thời điểm cơ quan bảo hiểm xã hội nhận văn bản đề nghị được hưởng lại lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng và không bao gồm tiền lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng của thời gian chưa nhận do từ chối nhận.
5. Người hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thời gian chưa nhận lương hưu, trợ cấp trước khi chết thì thân nhân của người đó được nhận lương hưu, trợ cấp của những tháng chưa nhận.
6. Người bị tạm dừng hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích, sau đó có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân của người đó không được nhận lương hưu, trợ cấp trong thời gian tạm dừng hưởng.
7. Các trường hợp tạm dừng, chấm dứt, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khác theo quy định của Chính phủ.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng ra nước ngoài để định cư?
Trả lời:
Căn cứ Điều 76 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng ra nước ngoài để định cư được quy định như sau:
1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng ra nước ngoài để định cư nếu có nguyện vọng thì được giải quyết hưởng trợ cấp một lần.
2. Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu được tính theo thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội trong đó mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội trước năm 2014 được tính bằng 1,5 tháng lương hưu đang hưởng, mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi được tính bằng 02 tháng lương hưu đang hưởng; sau đó mỗi tháng đã hưởng lương hưu thì mức trợ cấp một lần trừ 0,5 tháng lương hưu. Mức thấp nhất bằng 03 tháng lương hưu đang hưởng.
3. Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bằng 03 tháng trợ cấp đang hưởng.
4. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp một lần bao gồm văn bản đề nghị hưởng trợ cấp một lần kèm theo bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 78 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
5. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Hồ sơ đề nghị hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc?
Trả lời:
Căn cứ Điều 77 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, hồ sơ đề nghị hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
1. Hồ sơ đề nghị hưởng lương hưu đối với người đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
-Sổ bảo hiểm xã hội;
- Bản chính hoặc bản sao văn bản xác định việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc văn bản chấm dứt làm việc hoặc văn bản đề nghị của đối tượng quy định tại các điểm g, h, m và n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
2. Hồ sơ đề nghị hưởng lương hưu đối với người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
-Sổ bảo hiểm xã hội;
- Văn bản đề nghị của người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
3. Trường hợp quy định tại Điều 65 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, ngoài hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì có thêm biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao giấy xác nhận mức độ khuyết tật nặng, đặc biệt nặng có thể hiện kết luận của Hội đồng giám định y khoa ghi rõ tỷ lệ phần trăm suy giảm khả năng lao động.
4. Trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 64 của Luật này, ngoài hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì có thêm bản sao giấy chứng nhận bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.