Theo dõi và đánh giá giáo dục (M&E) hiện vẫn là một lĩnh vực vô cùng mới mẻ tại Việt Nam. Sau một quá trình nghiên cứu lý luận và thực tế thực hiện M&E giáo dục trên thế giới, tác giả đã rút ra một số bài học và đề xuất chính sách đối với công cụ này ở Việt Nam như sau[1]
1.Cam kết mạnh mẽ ở cấp độ quốc gia
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để có hệ thống M&E giáo dục bền vững. Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải tự mình xây dựng, thực hiện hệ thống M&E giáo dục. Các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ có thể hỗ trợ nâng cao năng lực, nhưng bản thân quốc gia được hỗ trợ phải sử dụng để xây dựng hệ thống M&E của mình. Kinh nghiệm các nước như Brazil, Chile, Mexico, Argentina cho thấy, M&E được sử dụng để hình thành, thực hiện và đánh giá chính sách ở tất cả các cấp độ chính quyền, ở tất cả các cấp giáo dục từ mẫu giáo đến đại học[2].
Sự cam kết cao độ đối với M&E giáo dục trước hết thể hiện qua việc dành một nguồn lực con người, tài chính xứng đáng cho hoạt động này. Trong đó, cần có dòng ngân sách cụ thể để thiết lập, vận hành M&E giáo dục, với chi phí cho cả cơ sở hạ tầng và con người. Nỗ lực ủng hộ cho việc này trước hết cần xuất phát từ những cấp cao của Nhà nước, các nghị sỹ Quốc hội, các Bộ. Cần đưa ra các biện pháp khuyến khích về thu nhập, sử dụng con người, cơ hội thăng tiến để thu hút người giỏi làm việc trong các đơn vị phụ trách M&E giáo dục.
Sự cam kết đối với M&E thể hiện qua việc phân tích, sử dụng thông tin từ M&E được thực hiện gắn với nơi mà nó được thu thập, ví dụ nếu thông tin ở cấp huyện thì cấp huyện nên phải được tham gia phân tích, sử dụng. Chẳng hạn, ở một số nước như India, Sri – Lanka, Kenya, Tanzania, Jordan, Việt Nam có hệ thống thu thập thông tin M&E trong giáo dục ở cấp tỉnh, thậm chí cấp huyện, nhưng thông tin thu thập được lại được gửi lên cơ quan trung ương, không được sử dụng nhiều để theo dõi, đánh giá hoặc lên kế hoạch ở cấp tỉnh, huyện[3]. Do các cấp gần với thông tin thu thập ít được tham gia vào việc phân tích, sử dụng, sự cam kết của chính quyền đối với M&E sẽ giảm ý nghĩa.
Chính sách và thực hiện M&E cần tính đến đặc điểm của mỗi quốc gia, ví dụ sự khác biệt trong cơ cấu tổ chức của hệ thống các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về giáo dục. Chẳng hạn, ở một số nước như Ấn Độ, Sri Lanka, Kenya, Nepal, Tanzania, các cấp học do các bộ khác nhau phụ trách[4]. Điều này dẫn đến sự phân tách trong dữ liệu về giáo dục, gây khó khăn cho việc theo dõi, đánh giá giáo dục. Trong khi đó, ở một số nước khác, những vấn đề mới nổi lên cũng ảnh hưởng đến các nội dung giáo dục, có nghĩa là ảnh hưởng đến M&E trong giáo dục, ví dụ gây dựng hòa bình, hòa giải dân tộc, di cư, giảm nghèo v.v…
2. Phối hợp trong M&E giáo dục
Cần chú ý phối hợp một cách có hệ thống trong M&E giáo dục. Quá trình giáo dục trong trường học của một cá nhân từ mẫu giáo đến đại học kéo dài khoảng 15 năm. Vì vậy, việc theo dõi quá trình giáo dục một cá nhân với mong muốn đạt được mục tiêu đề ra ở cuối quá trình đó là thách thức đối với bất kỳ chính phủ nước nào. Thông tin toàn diện, có hệ thống, đáng tin cậy có thể giúp chính phủ vượt qua thách thức này. Tuy nhiên, hầu hết các hệ thống M&E ở các nước hiện nay còn phân tách với nhau, thiếu sự phối hợp chặt chẽ với nhau theo chiều ngang giữa các bộ, ngành và theo chiều dọc giữa các cấp chính quyền, các cấp ngành dọc của Bộ giáo dục[5]. Như ở Malaysia, 38 đơn vị của Bộ Giáo dục thu thập, phân tích dữ liệu, thông tin về giáo dục thuộc phạm vi mình phụ trách từ cấp liên bang, các tiểu bang, xuống tận cấp chính quyền cơ sở. Mặt khác, ngày càng nhiều nước nhận thấy cần thiết lập sự phối hợp trong M&E giáo dục theo chiều ngang và chiều dọc như đã đề cập ở trên. Trong đó, cần một cơ chế chia sẻ các dữ liệu, các nguồn thông tin liên quan đến M&E giáo dục một cách nhanh chóng, thuận tiện, hiệu quả.
3. M&E và việc xây dựng chính sách
Cần sử dụng thông tin của M&E giáo dục trong quá trình xây dựng, ban hành chính sách về giáo dục. Như đã đề cập, M&E giáo dục có thể được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau, từ việc đánh giá cá nhân học sinh, một nhà trường, một chương trình, một địa phương, một quốc gia, giữa các quốc gia với nhau. Nhưng dù ở cấp độ nào, có thể và cần thiết phải sử dụng thông tin thu nhận được từ M&E vào việc xây dựng, ban hành chính sách về giáo dục. Tốt hơn hết, cần coi M&E giáo dục như một phần hữu cơ trong cả quá trình xây dựng, ban hành chính sách, hoặc ít ra trong một công đoạn của quá trình đó. M&E giáo dục nên là một hệ thống bền vững, vận hành thường xuyên mà không phụ thuộc vào sự thay đổi trong chính phủ, hay ý chí của người đứng đầu ngành giáo dục.
Thông tin từ M&E giáo dục có thể hỗ trợ đánh giá chính sách theo các tiêu chí như tính toàn diện, tính công bằng, tính hiệu quả, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình; chính sách nào phù hợp, “sống” được, chính sách nào không có tác dụng, hay thậm chí gây tác hại cho nền giáo dục. Muốn như vậy, như đã đề cập ở các phần trước, M&E giáo dục không chỉ cung cấp thông tin về đầu vào, về hoạt động đã được tiến hành, mà quan trọng hơn, cần có thông tin về đầu ra, và đặc biệt là về tác động của đầu vào.
4. Khung chính sách, pháp luật về M&E
Các quốc gia cần xây dựng một khung chính sách, pháp luật đầy đủ về M&E giáo dục. Nếu đã có sẵn khung chính sách, pháp luật, cũng cần phải xem xét, rà soát để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Điều này cần phải được ủng hộ từ cấp cao của Nhà nước. M&E giáo dục cần được thể hiện thành những nguyên tắc lớn có tính định hướng trong chính sách lớn về giáo dục, đồng thời phải được chuyển thành những quy phạm pháp luật rõ ràng, rành mạch trong luật, các văn bản dưới luật. Những văn bản đó quy định nội dung của M&E; vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể liên quan, nhất là Bộ giáo dục; cơ chế phối hợp trong M&E giáo dục; việc sử dụng thông tin từ M&E giáo dục trong ban hành chính sách; công khai, minh bạch kết quả của M &E v.v…
[1] Xem cụ thể hơn trong: UNESCO Education Sector, Designing effective monitoring and evaluation of education systems for 2030: A global synthesiss of policies and practices (working draft), 2016.
[2] UNESCO Education Sector, Designing effective monitoring and evaluation of education systems for 2030: A global synthesiss of policies and practices (working draft), 2016.
[3]UNESCO et al. 2015, Comparative Review of Policies and Practices on M&E of Education Systems - Regional reports - Asia Pacific, Latin America (working drafts).
[4] UNESCO Education Sector, Designing effective monitoring and evaluation of education systems for 2030: A global synthesiss of policies and practices (working draft), 2016.
[5] UNESCO Education Sector, Designing effective monitoring and evaluation of education systems for 2030: A global synthesiss of policies and practices (working draft), 2016.
Sau thế chiến thứ hai, kinh tế Nhật Bản sụt giảm mạnh, lạm phát tăng cao. Mặc dù việc cung cấp tiền tệ tăng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát ở Nhật Bản sau chiến tranh, nhưng việc giảm mạnh sản xuất sau chiến tranh cũng là nguyên nhân làm tăng giá. Do ngoại thương hoàn toàn chịu sự kiểm soát của Bộ tư lệnh tối cao các cường quốc đồng minh (SCAP), nên việc nhập khẩu hàng hoá, đặc biệt là nguyên liệu như dầu lửa và than, luôn được duy trì ở mức tối thiểu. Do vậy, sản xuất công nghiệp đã dần dần giảm xuống mức thấp nhất do cạn kiệt nguồn dự trữ các nguyên liệu cơ bản. Tỷ lệ nhập khẩu thấp hơn 1/4 mức trung bình trong những trước thế chiến 2.
Trái với mức sản xuất thấp, nhu cầu danh nghĩa lại tăng do mở rộng việc cung cấp tiền tệ. Thứ nhất, ngay sau khi tranh kết thúc vào tháng 8 năm 1945, việc cung cấp tiền đã tăng nhanh do chính phủ cố gắng thanh toán những khoản có liên quan tới chiến tranh (trả tiền trọn gói thay lương hưu hàng tháng cho các binh sĩ và trả cho các khoản thu mua thời chiến) bằng giấy bạc do Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) phát hành. Tổng giấy bạc Ngân hàng Nhật Bản phát hành trong năm 1945 lên tới 37,7 tỷ yên, trong khi vào thời kỳ 1940 - 1944, lượng phát hành hàng năm chỉ có 2,8 tỷ yên. Thứ hai, Hệ thống ưu tiên sản xuất do Nội các ban hành vào tháng 12 năm 1946 đã bắt đầu được áp dụng rộng rãi từ giữa năm 1947. Do các khoản trợ giá cho người sản xuất và nhập khẩu và các khoản tín dụng được trợ cấp thông qua Ngân hàng tài chính tái thiết (RFB) là các khoản mục chính của hệ thống này nên từ năm 1947, BOJ ngày càng cần phải phát hành nhiều tiền hơn. Số đơn xin chính phủ trợ giúp tăng mạnh vào các năm 1947 và 1948 đã phản ánh thực tế là chính phủ bị thâm hụt ngân sách do phải chi cho những khoản trợ giúp này. Riêng năm 1947, BOJ đã mua tới 32,3 tỷ yên trái phiếu của RFB. Số lượng tiền do BOJ phát hành trong năm 1947 và 1948 là 125,7 và 136,1 tỷ yên, lớn gấp 4 lần số lượng phát hành trong năm 1945-19446.
Tại thời điểm này, tiền gửi đã bị đông kết tại các ngân hàng và đòn tiến công phủ đầu vào lạm phát nhờ sử dụng Hệ thống sản xuất ưu tiên và các biện pháp kiểm soát giá cả chỉ thực sự bắt đầu có hiệu lực từ giữa năm 1947. Tuy nhiên, cho đến tận giữa năm 1948, tỷ lệ lạm phát hàng tháng, được biểu thị bằng giá cả thị trường, vẫn chưa giảm xuống dưới 5% được. Việc phải cần tới 12 tháng để ổn định giá cả như vậy có vẻ là quá dài so với việc giảm phát xảy ra gần như ngay lập tức ở các nước được nêu ở phần mở đầu. Thứ hai, trong thời kỳ lạm phát cao và các biện pháp ổn định đang được thực hiện, cũng như sau khi đã đạt được ổn định, thì chỉ số sản xuất
Tóm lại, sau chiến tranh thế giới thứ hai mặc dù Nhật Bản cần nhiều thời gian hơn các nước khác để chống lại nạn lạm phát, nhưng quá trình này luôn đi kèm với tốc độ tăng trưởng sản xuất cao và tích cực.
Trước thực tế đó, Nhật Bản đã thực hiện một số chính sách nhằm tái thiết, phục hồi nền kinh tế nhằm từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và dần ổn định nền kinh tế.
Thứ nhất, Đông kết tiền gửi
Đây là biện pháp cấp thiết để đối phó với nạn lạm phát tăng cao do chính phủ bội chi nhằm trang trải các khoản chi liên quan tới chiến tranh. Do lượng tiền phát hành của BOJ tăng quá nhanh, nên tháng 2 năm 1946 chính phủ đã: buộc mọi người phải gửi tất cả số tiền vượt quá một mức nhất định và cấm rút tiền gửi trừ một lượng tối cần thiết cho nhu cầu sống và sản xuất. Các giấy bạc ngân hàng cũ đã bị vô giá trị và các giấy bạc ngân hàng mới sẽ được phát hành vào lúc rút tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, vì nền kinh tế đang dần phục hồi, nên việc hạn chế rút tiền gửi cũng được nới lỏng, và biện pháp này đã chính thức được huỷ bỏ vào tháng 7/1948. Tất cả các khoản tiền gửi, ngoại trừ những khoản lớn của tập thể cuối cùng được dùng để bồi thường thiệt hại do chiến tranh, đã được giải phóng.
Siêu lạm phát, tăng tới 40%/tháng đã giảm một nửa, như đã chỉ ra trong. Tuy nhiên cũng đúng là lượng tiền chưa thanh toán đã trở lại mức ban đầu của nó vào mùa hè năm đó và đã bắt đầu tăng trở lại.
Mặc dù nhà cửa ở các đô thị đã bị tàn phá nặng nề trong những đợt không kích, song hầu hết các phương tiện sản xuất vẫn còn nguyên vẹn. Tỷ lệ công suất sản xuất còn lại trong năm 1945 so với mức cao nhất đạt được trước năm 1944 là 78% trong ngành điện, 100,2% trong ngành thép, 89% trong ngành kim loại màu, 57,2% trong ngành chế tạo máy, 68,9% trong ngành hoá chất và 31,2% trong ngành dệt. Con số của ngành chế tạo máy thấp là do bị thiệt hại nặng trong những đợt không kích, còn con số của ngành dệt thấp là do việc chuyển bắt buộc máy móc thiết bị sang phục vụ cho các mục đích quân sự trong thời kỳ chiến tranh. Như vậy, việc giảm sản xuất sau chiến tranh chủ yếu là do thiếu nguyên, nhiên liệu. Lúc đầu các ngành chiến lược này là than và thép, sau đó thêm các ngành phân bón, điện và đường sắt. Một cơ chế tương tự như kế hoạch tái sản xuất theo học thuyết kinh tế Mác đã được sử dụng vào việc sản xuất than và thép. Chính phủ đối phó với thực trạng khó khăn trong sản xuất than và thép bằng cách phân phối lượng than có được nhờ tăng sản lượng than cho ngành thép để ngành này phát triển sản xuất. Số thép tăng thêm sẽ lại được ưu tiên phân phối cho ngành khai thác than. Ở phương diện này có ba biện pháp đã được áp dụng (1): Phân phối các mặt hàng chiến lược theo Luật điều chỉnh cung cầu nguyên liệu tạm thời) ban hành vào tháng 10 - 1946; (2) thành lập RFB vào tháng 1 - 1947 để tập trung vốn đầu tư cho các ngành được ưu tiên; (3) phân phối bắt buộc 50% các quỹ mới của các ngân hàng thương mại cho các ngành được ưu tiên dựa theo Sắc lệnh về các biện pháp tài chính khẩn cấp ban hành tháng 2 - 1946. Việc phân phối hàng hoá được thực hiện thông qua tám nhà phân phối trong nước và ba cơ quan ngoại thương của chính phủ được thành lập sau tháng 4/1947. Các mặt hàng được phân phối gồm các mặt hàng như nguyên liệu công nghiệp than, dầu thô, phân bón, thực phẩm, hàng dệt... RFB tích cực nhất vào các năm 1947 và 1948 và đã được giải thể vào tháng 3/1949 khi các chính sách ổn định chính thống của Joseph M. Dodge được áp dụng. Việc phân phối các khoản cho vay của ngân hàng thương mại đã giảm dần và được thực sự bãi bỏ vào tháng 8 năm 1949. Có thể lưu ý ở đây là chúng tôi không coi các khoản trợ cấp là một công cụ của PPS. Đây là một vấn đề lắt léo bởi vì than và thép đều là các mặt hàng được trợ giá chính (Bảng 3.5). Nhưng trong khi PPS nhằm tăng sản xuất các mặt hàng bị đình trệ thông qua việc tác động qua lại giữa đầu ra - đầu vào, thì các khoản trợ giá cho các nhà sản xuất lại nhằm giảm giá mua hàng hoá như là cách khôi phục sản xuất phù hợp với hệ thống giá cả tương đối hiện thực. Theo nghĩa này thì các khoản trợ giúp không liên quan trực tiếp tới việc mở rộng sản xuất, và do vậy, trong chương này, chúng tôi cho rằng các khoản trợ giá không phải là công cụ chính của PPS.
Hậu quả tức thời của PPS là lạm phát vẫn tiếp tục xảy ra. Tới 70% quỹ của RFB quyền được là thông qua các khoản tín dụng của B0J, các ngân hàng thương mại cũng dựa chủ yếu vào việc vay mượn từ BOJ và thâm hụt ngân sách nảy sinh do các khoản trợ giá càng khiến cho BOJ phải phát hành thêm giấy bạc mới. Bảng 3.6 và 3.7 là cơ sở giúp phân tích nhanh ảnh hưởng của PPS. Cột 4 ở Bảng 3.6 đưa ra những số liệu biểu thị thay đổi về tín dụng do Ngân hàng tài trợ tái thiết và các ngân hàng thương mại khác cấp từ tháng 9/1947 (tháng đầu tiên có đủ số liệu) đến tháng 3/1949 (khi RFB giải thể).
Có thể thấy rằng tốc độ tăng tín dụng là lớn đối với các ngành than, thép, phân bón, điện và khí đốt, và giao thông vận tải. Điều này hình như phù hợp với những ưu tiên của PPS, đã đề cập ở trên. Số liệu của ngành chế biến thực phẩm khá lớn và có thể phản ánh thái độ theo đuổi lợi nhuận của các ngân hàng thương mại. Tốc độ tăng của bốn ngành sau rất cao: thép, kim loại màu, chế tạo máy và chế biến thực phẩm. Mức tăng sản xuất than là rất cao so với mức tăng sản xuất trong các ngành khác. Tuy vậy, vì than là một mặt hàng đình trệ nên ảnh hưởng của việc tăng sản xuất than do với các ngành khác có lẽ còn lớn hơn ảnh hưởng của các ngành này đối với ngành than. Mức tăng cao trong sản xuất máy móc và mức tăng thấp trong sản xuất hoá chất không tương xứng với những thay đổi trong việc cung cấp tín dụng. Tuy nhiên, mức độ mở rộng sản xuất không chỉ phụ thuộc vào nguồn tín dụng mà còn vào các yếu tố khác, ví dụ như việc có sẵn các nguyên liệu nhập khẩu và các điều kiện ban đầu. Mặc dù vẫn còn đôi chút nghi ngờ về tác động tích cực đến sản xuất của PPS, nhưng việc phân tích thoáng qua nhanh của chúng tôi sẽ không đưa ra được kết luận nào về việc này.
Cần phải chỉ ra rằng dù PPS có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất thì tác động của nó đến ổn định lạm phát cũng sẽ không lớn vì công cụ chủ yếu của nó - các khoản tín dụng của RFB lại phụ thuộc vào việc cung cấp tiền mới. Cũng như vậy, khuynh hướng chi tiêu cận biên nhờ thu nhập tăng là rất cao do thiếu hàng hoá nghiêm trọng.
Thứ hai, Kiểm soát và kìm giữ giá cả.
Việc phân phối hàng hoá và kiểm soát giá cả được đưa áp dụng lần đầu trong thời gian chiến tranh, nay lại được đưa ra dưới hình thức mới vào tháng 3- 1994 cùng với việc ban hành sắc lệnh kiểm soát giá và được sử dụng rộng rãi từ tháng 7-1947. Các mặt hàng công nghiệp cơ bản và thực phẩm được phân phối theo định lượng thông qua các tổng công ty công cộng và giá chính thức được ấn định. Giá mua hoặc giá tiêu dùng được đặt ở mức cố định cao gấp bội so với mức trước chiến tranh. Do việc tăng giá gấp bội đối với tất cả các mặt hàng cơ bản, nên điều đó có nghĩa là giá tương đối vẫn gắn liền với cơ cấu giá tương đối trước chiến tranh vào năm 1934- 1936
Giá bán hay giá sản xuất được ấn định sao cho ngang bằng với tổng chi phí trung bình ước tính của từng mặt hàng cơ bản. Chi phí sản xuất được tính ở mức sử dụng công suất hiện hành và gồm có (1) chi phí cố định (gồm chi phí lợi tức nhưng không thể khấu hao đối với công suất không được sử dụng) (2) các chi phí không cố định (gồm cả tiền lương trả cho lao động nhàn rỗi) và lợi nhuận bình thường (luôn dương đối với các công ty có hiệu suất cao hơn mức trung bình). Vì chi phí sản xuất phản ánh giá cả thị trường, nên chúng thường cao hơn giá mua (giá của người mua) và phần chênh lệch sẽ được bù bằng các khoản trợ cấp.
Thứ ba, Các biện pháp ổn định chính thống
Chính sách ổn định chính thống được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Joseph M. Dodge (cố vấn kinh tế đặc biệt do Tổng thống Truman cử đến). Sau tháng 4 năm 1949. Chính sách này gồm có ba trụ cột chính: (1) một ngân sách cực kỳ chặt chẽ cho các năm tài chính 1949 và 1950; (2) việc áp dụng một tỷ giá hối đoái duy nhất; và (3) đình chỉ hoạt động của RFB. Biện pháp đầu tiên có tác động ngay và mạnh tới nền kinh tế. Cùng với biện pháp (3), nó làm giảm nhanh chóng việc cung cấp tiền tệ (Bảng 3.2). Tuy nhiên, ảnh hưởng đối với tốc độ tăng tổng lượng tiền tệ (M2) còn nhỏ, vì các ngân hàng thương mại đang mở rộng việc cho vay, và do vậy, các khoản tiền gửi chủ yếu dưới sự hướng dẫn của BOJ để làm giảm bớt ảnh hưởng giảm phát đối với sản xuất. Mức tăng hàng năm của M2, là 75,2% và 85,4% trong các năm tài chính 1947 và 1948, đã giảm còn 35,6% và 37,55% trong những năm tài chính 1949 và 1950 (tính theo các số liệu trong Asakura và Nishiyama, 1979).
Việc thắt chặt ngân sách được thực hiện chủ yếu nhờ giảm các khoản trợ giá, trong nước cũng như ngoài nước. Việc giảm các khoản trợ giá trong nước đã khôi phục cơ cấu giá tương đối của nền kinh tế trở lại cơ cấu trong các thời kỳ “bình thường”, như sẽ chỉ ra dưới đây. Việc giảm các khoản trợ giá quốc tế, đặc biệt đối với hàng nhập khẩu, đã giúp kiềm chế các mức giá có thể trao đổi theo cơ cấu giá quốc tế. Do có việc hướng tới tỷ giá hối đoái duy nhất vào tháng 4 năm 1949 và việc tăng đáng kể của ngoại thương thuộc khu vực tư nhân sau tháng 7 năm 1948, nên ảnh hưởng của việc kìm giữ như vậy đối với lạm phát hẳn là rất lớn. Trên thực tế, ảnh hưởng đối với việc ổn định giá cả là phù hợp với những mong đợi được nêu ra trong bản Báo cáo của Phái bộ Young, là văn bản đầu tiên kiến nghị áp dụng một tỷ giá hối đoái cố định.
Trước khi ban hành chính sách Dodge, đã nổ ra một cuộc tranh luận giữa những người ủng hộ quan điểm ổn định ngay tức thì, chủ yếu là những nhà kinh tế học theo học thuyết Mác - xít, và những người ủng hộ quan điểm ổn định dần dần như Bộ tài chính, Ngân hàng Nhật Bản và SCAP, là những người nhấn mạnh phục hồi sản xuất là điều kiện tiên quyết cho ổn định. Mặc dù có nhầm lẫn trên một vài khía cạnh, chính sách Dodge khác với quan điểm đầu ở chỗ cho rằng không nhất thiết phải giảm nguồn cung cấp tiền tệ và việc kiềm chế giá quốc tế đóng một vai trò quan trọng. Như chúng tôi sẽ giải thích dưới đây, phương pháp được dùng để kiềm chế giá cả trong nước có quan hệ rất chặt chẽ với việc tăng sản xuất và do vậy có thể cho rằng quan điểm sau ở một mức độ nào đấy cũng hợp lý.
Một điểm thú vị nữa là việc Dodge phản đối việc mở rộng tín dụng của BOJ. Tuy nhiên, ở đây có sự bất đồng gay gắt giữa Dodge và SCAP vốn luôn ủng hộ quan điểm ổn định dần dần và có thể đoán được rằng SCAP ủng hộ chính sách của BOJ (Kosai, 1986).
Bản chất hướng về tăng trưởng của việc định giá và kìm giá là rõ ràng. Bằng cách giảm dần tỷ lệ trợ cấp bd/Ob, khi tỷ lệ sử dụng công suất tăng, nên chênh lệch giữa giá của người mua và giá của người sản xuất sẽ thu hẹp lại và cuối cùng khoản trợ cấp này sẽ chấm dứt (mặc dù tỷ lệ trợ cấp giảm, nhưng việc giảm trong tổng trợ cấp không nhất thiết phải đều đều như đã được biểu lộ bằng các số liệu thực tế. Mức đặt ra, hoặc việc kìm giữ, là thực tế vì hai nguyên nhân. Thứ nhất, vì các yếu tố cố định cũng như những kỹ năng đặc thù cho công ty được giữ lại, nên sản xuất có thể trở lại mức 1. Thứ hai, vì tất cả các mặt hàng cơ bản đều có cùng một cấp số nhân, nên cơ cấu giá tương đối sẽ hướng đến việc đạt được mức sản xuất chuẩn và có hiệu quả.
Như vậy, cần thiết phải giảm chi phí được báo hiệu bằng việc cắt giảm khoản trợ cấp trong tương lại cấp bách đến nỗi các công ty đã tăng sản xuất ngay cả phải tăng tồn kho. Ngẫu nhiên mà mức lương lại không bị chính phủ Nhật Bản kiểm soát do các cuộc đấu tranh thường xuyên của giới lao động. Tuy nhiên, chính phủ vẫn cố gắng tác động đến mức lương bằng cách quy định mức lương tiêu chuẩn cho từng ngành, ước tính sao cho phù hợp với các chi phí sản xuất khác. Điều này, cùng với tỷ giá hối đoái cố định áp dụng vào tháng 4 năm 1949, có thể được xem xét để tạo thành một hệ thống kìm giữ danh nghĩa nhiều bậc.
Thực tế đã cho thấy, kinh nghiệm ổn định lạm phát cùng với tăng trưởng của Nhật Bản là kết quả của chính sách ổn định hướng về tăng trưởng có chủ tâm. Vì hệ thống kiểm soát và kìm giữ giá cả dựa trên các khoản trợ cấp do các khoản tín dụng của BOJ tài trợ nên chính chính sách này đã có tính lạm phát. Tuy nhiên, việc kìm giữ một cách đúng đắn cả giá cả danh nghĩa lẫn tương đối, cùng với một chính sách cổ vũ các công ty duy trì một công suất sản xuất phù hợp với cơ cấu giá cả đặt ra, đã tạo ra khả năng giảm được tỷ lệ trợ cấp. Cuối cùng, các khoản trợ cấp không còn nữa và nguồn cung cấp tiền mặt đã ổn định.
Rất khó tìm được một hệ thống kinh tế đem lại lợi ích mà không hề phải trả giá. Ở đây cần phải nhấn mạnh là việc kiểm soát và kìm giữ giá cả cũng có những hạn chế lớn. Bởi vì hệ thống này chủ yếu dựa vào các khoản trợ cấp, nên rất có khả năng xảy ra tham nhũng và suy giảm đạo đức. Ví dụ, rõ ràng là các khoản trợ cấp đã khuyến khích các công ty khai thác than cố tình khai thác các mỏ xấu còn để các mỏ có hiệu quả hơn khai thác sau. Việc đánh giá chi phí để tính mức trợ cấp thích hợp cũng bị chỉ trích. Trong đợt sửa đổi giá cả vào tháng 6 năm 1948 mức sử dụng vốn bị đánh giá ở mức cực kỳ thấp còn chi phí lại được đánh giá ở mức quá cao. Điều này đã đem lại siêu lợi nhuận cho người sản xuất.
Trên thực tế, chính sách của Nhật Bản trong thời kỳ này trước hết nhằm duy trì hiệu quả tổ chức của các đơn vị kinh tế vi mô. Người ta tin rằng có thể phục hồi được các đơn vị này nếu họ được phép theo đuổi thái độ tối đa hoá hợp lý. Cùng với việc đình chỉ bồi thường chiến tranh, mỗi công ty quy mô vừa và lớn, và do đó cả tổ chức tài chính, đều bị thua lỗ nặng nề. Để giải quyết vấn đề này, bản cân đối của từng công ty đều được nhanh chóng tách thành hai phần - những tài khoản cũ bao gồm những khoản thua lỗ và những tài khoản mới lại cho thấy các tài sản và nợ tối thiểu cần thiết cho hoạt động hàng ngày. Các công ty và các tổ chức tài chính được khuyến khích bắt đầu lại trên cơ sở những tài khoản mới (vài năm sau, những thua lỗ trong thời chiến đã được bù lại, chủ yếu nhờ giảm vốn cổ phần và sử dụng các khoản tiền gửi bị đông kết, và các tài khoản cũ đã được sáp nhập với các tài khoản mới.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình ghi chép, lưu giữ và cung cấp thông tin về sự tiến bộ của người học trong suốt quá trình dạy học. Việc đánh giá cần đảm bảo nguyên tắc chính xác, khách quan và phân hóa, thường xuyên liên tục và định kỳ.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh liên quan đến quá trình dạy của giáo viên và quá trình học tập của học sinh, chính vì vậy, việc kiểm tra đánh giá cần phải được cân nhắc tính toán và tích hợp bằng nhiều hình thức khác nhau như một thành tố quan trọng trong suốt quá trình dạy học của giáo viên thông qua các nhiệm vụ, tiêu chí cụ thể của việc đánh giá theo tiến trình. Sự tiến bộ của học sinh được đánh giá theo tiến trình nên cần được đánh tính toán và thiết kế ngay từ giai đoạn lập kế hoạch dạy học. Trong bối cảnh thực tiễn về chất lượng đào tạo giáo dục ở Việt Nam hiện nay cần đặt ra mục tiêu quan trọng làm thế nào để cải tiến các phương pháp dạy học và giúp người học thấy được các sản phẩm trung gian, sản phẩm cuối cùng cần có của quá trình dạy học.
Để thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết 29/NQ-TW, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI xác định đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục là 1 trong 9 nhiệm vụ giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần làm rõ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kĩ năng, kỉ xão, thái độ của HS so với yêu cầu của chương trình; phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học tập của mình. Bên cạnh đó, cần công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của mỗi em học sinh và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kĩ năng tự đánh giá, giúp các em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên và thúc đẩy việc học tập ngày một tốt hơn. Từ đó, giúp giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Để xây dựng các yêu cầu liên quan đến đánh giá kết quả học tập, thi cử cần nghiên cứu đến những vấn đề như xu hướng tổ chức kiểm tra, đánh giá; phương thức tổ chức thi tốt nghiệp và bằng cấp chứng nhận, phương thức xét tuyển đại học. Dưới đây là những tổng hợp thông tin về những vấn đề nêu trên giúp các đại biểu có thêm thông tin về đánh giá kết quả học tập thi cử của một số nước có nền giáo dục phát triển.
Thứ nhất, về xu hướng tổ chức kiểm tra, đánh giá của các nước có nền giáo dục phát triển luôn hướng tới đánh giá năng lực người học, giúp người học tiến bộ chứ không chỉ tập trung vào đánh giá để xếp hạng, phân loại học sinh và chú trọng đánh giá quá trình, giúp học sinh biết tự đánh giá.
Thứ hai, về phương thức thi tốt nghiệp và cấp chứng nhận tốt nghiệp của các nước có nên giáo dục phát triển luôn được phân phân định mức độ đánh giá theo từng cấp học.
Đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở, thì có 16 nước/21 nước thực hiện thi cấp chứng chỉ ở cuối cấp trung học cơ sở, duy chỉ có Singapore tổ chức thi ở Tiểu học và trung học cơ sở.[1]
Đối với cấp Trung học phổ thông thì hầu hết các quốc gia được tổng quan đều tổ chức kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia[2]. Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông ở Singapore dựa trên cơ sở thi lấy chứng chỉ GCEA (General Certificate of Examination, Advance Level), đề thi được điều chỉnh từ đề thi của đại học Cambridge, do trường này chấm; điểm kiểm tra năng lực SAT1; bằng tú tài quốc tế IB (International Baccalaureate).
Bằng tốt nghiệp GCSE ở Anh được tổ chức cấp quốc gia. Bên cạnh đó, học sinh cũng có thể thi lấy bằng nghề Vocational GCSEs ở 8 lĩnh vực: hội hoạ ứng dụng, kinh doanh, cơ khí, y tế, chăm sóc xã hội, công nghệ thông tin ứng dụng, du lịch và giải trí, khoa học ứng dụng, sản xuất. Bằng Vocational GCSEs tương đương với bằng GCSE. Học sinh có thể thi lại để lấy bằng này nếu các kì thi trước đó không đạt yêu cầu và được thi nhiều lần. Sau khi có bàng GCSE hoặc Vocational GCSEs học sinh có thể theo học hệ chuẩn bị đại học (6th form school/college) trong hai năm để lấy chứng chỉ “A levels” hoặc ”AS levels”.
Australia tổ chức kì thi tốt nghiệp cấp tiểu bang HSC (Hight School Certificate, tuỳ theo từng tiểu bang). Theo chuẩn HSC, học sinh phải thi đủ 12 unit (tín chỉ) theo sự lựa chọn của cá nhân ở lớp 11 và 12. Điểm HSC được tính toán trên cơ sở 3 loại: Điểm thi HSC; điểm trung bình cấp trung học phổ thông; điểm trong kì thi thử HSC (trial examination) theo đề thi của trường. Ba loại điểm thi có trọng số khác nhau và được phân tích xử lí theo mô hình tuyến tính liên quan đến thành tích nhà trường nơi thí sinh học. Chẳng hạn, một thí sinh có điểm trung bình trung học phổ thông cao nhưng điểm trung bình của trường em học thấp thì hệ số dành cho loại điểm này sẽ thấp hơn so với thí sinh khác có điểm trung bình trung học phổ thông cao như vậy nhưng lại học ở trường giỏi hơn.
Về phương thức tuyển sinh đại học ở hầu hết các hệ thống tuyển sinh đại học của các quốc gia đều sử dụng một số tiêu chí tuyển sinh như: điểm của một hoặc một vài kì thi quan trọng như thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thi tuyển đầu vào, và thi chuẩn hoá năng lực; kết quả học tập ở trường trung học phổ thông; hồ sơ dự tuyển bao gồm một bài tự luận theo chủ đề do nhà trường đưa ra, thư giới thiệu... và các yếu tố nhân thân như nữ, dân tộc thiểu số, vùng khó khăn....
Có thể phân chia hệ thống tuyển sinh của các quốc gia thành ba nhóm chính:
- Nhóm 1: Dựa hoàn toàn vào kết quả các kì thi do quốc gia hoặc tổ chức bên ngoài tổ chức để tuyển vào đại học. Ở nhóm này lại có các cách thức khác nhau: Chủ yếu dựa vào kết quả tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia, có kết hợp đánh giá quá trình và thi đầu vào như ở Pháp; Chỉ dựa vào kết quả thi tuyển sinh đại học quốc gia như ở Trung Quốc; Thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia và kết quả kiểm tra năng lực chuẩn hoá như ở Singapore và Hàn Quốc.
Riêng Liên bang Nga lại có một chính sách riêng là công bố tổ chức kì thi quốc gia sau Trung học phổ thông với 2 mục đích: đánh giá trình độ trung học phổ thông và đánh giá khả năng để học đại học. Đề thi đại hịc thường có 2 phần, phần để đánh giá trình độ học lực trung học phổ thông và phần giúp các trường đại học căn cứ vào đó để sơ bộ xét tuyển. Kì thi quốc gia thống nhất (viết tắt EGE) - là hình thức cơ bản đánh giá học sinh tốt nghiệp lớp 11 đã tốt nghiệp trung học phổ thông dành cho các trường trên lãnh thổ Liên bang Nga (từ năm 2009). Kết quả của EGE được dùng để xét tuyển vào học tại các trường đại học và cao đẳng hay trung học chuyên nghiệp. EGE được tiến hành ở tất cả các lãnh thổ thuộc Liên bang Nga, cũng như ở các quốc gia nước ngoài dành cho HS tốt nghiệp các cơ sở giáo dục thuộc Đại sứ quán hoặc bộ phận quân đội Nga ở nước ngoài. Để thi phải đồng thời phân loại được “3 trình độ" đáp ứng các nguyện vọng của thí sinh và yêu cầu để tuyển sinh của các loại trường. Mức thấp chỉ kiểm tra kiến thức theo yêu cầu cơ bản trong chương trình khung chuẩn giáo dục phổ thông, nhằm đánh giá thí sinh chỉ muốn hay chỉ đạt mức tốt nghiệp phổ thông; loại câu khó hơn để phân loại, tuyển được vào các trường đại học diện rộng; loại khó nhất nhằm chọn được HS có năng lực chuyên sâu tuyển cho các trường đại học top đầu hoặc các chuyên khoa đặc biệt.
- Nhóm 2: Không chỉ sử dụng kết quả kì thi mà còn thêm vào những tiêu chí khác trong xét tuyển như: Dựa vào kết quả tốt nghiệp trung học phổ thông và xét hồ sơ xin học như ở Anh, xét kết quả học tập cấp trung học phổ thông như ở Australia; Dựa vào kết quả thi tuyển sinh đại học quốc gia và xét học bạ trung học phổ thông; dựa vào kết quả thi tuyển sinh đại học theo trường và xét học bạ trung học phổ thông; Xét kết quả kiểm tra năng lực chuẩn hoá và hồ sơ xin học như ở Mỹ và Hàn Quốc; Dựa vào kết quả thi tuyển sinh quốc gia và thi tuyển sinh theo trường như ở Pháp và hệ thống Grande Ecoles; Thi tuyển sinh quốc gia, thi tuyển sinh theo trường và xét học bạ trung học phổ thông; Thi tốt nghiệp phổ thông và thi tuyển sinh theo trường như ở Phần Lan;
- Nhóm 3: Không tổ chức thi mà chỉ xét học bạ trung học phổ thông như ở Na Uy, Canada và một số trường ở Hàn Quốc, hay xét hồ sơ xin học như ở một số trường ở Mỹ.
Đánh giá quốc gia và quốc tế:
Để đảm bảo chất lượng giáo dục, các quốc gia đều tăng cường đánh giá quốc gia ở giáo dục bắt buộc như SAT1 ở Singapore; SAT ở Anh; SAT và CSAT ở Hàn Quốc; SAT, AIMS và Stanford 10 ở Mỹ... nhằm đánh giá năng lực của học sinh, chủ yếu tập trung vào năng lực đọc, viết và làm toán.
Ở một số nước, đánh giá quốc gia một lĩnh vực chương trình được thực hiện hằng năm như Anh, Uganda…, còn những nước khác lại thực hiện định kì. Các đánh giá này có thể thực hiện trên tất cả học sinh như Australia, Anh..., cũng có thể thực hiện trên mẫu như Hàn Quốc và đều dùng đề kiểm tra viết được chuẩn hoá để đánh giá các năng lực.
Anh thực hiện đánh giá quốc gia ở lớp 2, lớp 6 và lớp 8, với ba môn Toán, Tiếng Anh và Khoa học, trên tất cả học sinh.
Canada thực hiện đánh giá quốc gia SAIP từ năm 1993, trên mẫu ngẫu nhiên HS lứa tuổi 13 đến 16, với các môn Toán, Đọc, Viết, và Khoa học. Từ năm 2007 thực hiện thêm chương trình đánh giá năng lực mới là PCAP.
Ở Hàn Quốc, SAT được sử dụng hai năm/lần đối với các môn Ngôn ngữ, Toán, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, hai năm/lần đối với hai môn Tiếng Anh và Kĩ năng ICT và với khoảng 1% mẫu. CSAT bao gồm các môn học/lĩnh vực Tiếng Hàn Quốc, Toán, Tiếng Anh, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Các bài thi chủ yếu đánh giá khả năng tư duy bậc cao, khả năng phân tích và hiểu biết rộng trên nhiều lĩnh vực.
Bên cạnh đánh giá quốc gia, nhiều quốc gia tham gia vào các kì đánh giá quốc tế (PISA, TIMS, PIRLS...) và xem xét các kết quả để điều chỉnh chương trình, chính sách giáo dục của mình. Nhờ đó, một số nước đã nâng cao chất lượng giáo dục quốc gia.
Chẳng hạn, ở Cộng hoà Liên bang Đức: Kết quả kì khảo sát trình độ học sinh quốc tế PISA 2000 là một cú sốc cho nước Đức khi học sinh Đức chỉ xếp loại trung bình và dưới trung bình. Nước Đức tiến hành một cuộc cải cách giáo dục thực sự. Từ sau năm 2000, Đức là một trong số ít các nước trên thế giới có thành tích PISA liên tục được cải thiện vị trí xếp hạng từ các năm 2003, 2006, 2009 và 2012 trong tất cả các lĩnh vực Toán, khoa học tự nhiên và đọc hiểu.
Qua việc tổng quan xu thế quốc tế về phát triển Chương trình giáo dục phổ thông, có thể thấy các quốc gia trên thế giới đã có bước phát triển mới về giáo dục phổ thông, đã xích lại gần nhau và có nhiều điểm chung về cách thức phát triển chương trình. Từ những vấn đề quan trọng mang tính xu thế trong phát triển Chương trình giáo dục phổ thông đã trình bày ở trên, có thể hình dung được những bài học, những định hướng mà Việt Nam cần hướng tới trong quá trình đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, xét về mặt hệ thống, khó có thể áp dụng tất cả những ưu điểm và những xu thế nêu trên trong việc phát triển chương trình của mỗi nước do điều kiện kinh tế xã hội rất khác nhau vào Việt Nam, sẽ có thể tạo ra một kiểu nhà trường mới chỉ trên lí thuyết và mang tính không tưởng, không thể bắt rễ vững chắc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội và các điều kiện thực tiễn khác ở nước ta. Do vậy, khi tiến hành xây dựng chương trình tổng thể và chương trình môn học của Việt Nam, cần tiếp tục phân tích từng vấn đề để thấy những nội dung nào có thể vận dụng được và vận dụng như thế nào để chúng ta có một chương trình vừa tiếp cận với xu thế hiện đại, vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước.
Khi học tập kinh nghiệm của các nước, vấn đề quan trọng là cần phải nhìn nhận tới cách tiến hành đổi mới giáo dục của từng nước, và một trong những điểm Việt Nam cần tìm hiểu là kinh nghiệm của những nước đã thành công trong quá trình phát triển Chương trình giáo dục phổ thông cũng như các quốc gia đã từng có giai đoạn phải học tập các nước khác và đã từng thành công trong phát triển giáo dục.
Các quốc gia được lựa chọn giới thiệu trong các chương dưới đều là những minh chứng tiêu biểu cho xu thế phát triển Chương trình giáo dục phổ thông, nhưng ở từng nước, do đặc điểm cụ thể của mình, có những kinh nghiệm nổi bật trên một số phương diện và sẽ được phân tích kĩ hơn.
[1] Theo thống kê của INCA.
[2] Thống kê của INCA cho thấy, cả 21 nước được xem xét đều có cấp bằng tốt nghiệp THPT.
Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông chuẩn quốc gia là yêu cầu rất quan trọng trong phát triển chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam hiện nay. Việc tìm hiểu các thông tin về chương trình giáo dục phổ thông của các nước có nền giáo dục phát triển cao, các nước có nền văn hóa, xã hội tương đồng như Việt Nam là rất cần thiết và cần được thực hiện trong suốt quá trình xây dựng và phát triển chương trình, trong đó phải kể đến tầm quan trọng của việc biên soạn sách giáo khoa.
Dưới đây xin giới thiệu tới các nhà quản lý, hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu bài phân tích tổng hợp những kinh nghiệm về việc biên soạn sách giao khoa của một số nước.
Sách giáo khoa trên thế giới hiện nay được tổ chức biên soạn theo các phương thức rất phong phú và đa dạng. Theo thống kê của INCA (2013) ở các nước như Anh; Ailen, Bắc Ailen, Scotland, Xứ Wales, Pháp, Đức, Hungary, Italy, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Australia, Canada, Nhật, Hàn Quốc, New Zealand, Singapore, Nam Phi, Nga, Hoa Kì việc tổ chức biên soạn và cung cấp, lựa chọn sách giáo khoa do các nhà xuất bản tự tổ chức viết trên cơ sở chương trình do nhà nước ban hành. Tuy nhiên, ở một vài quốc gia, nhà nước sẽ tổ chức biên soạn một số cuốn sách chẳng hạn Hàn Quốc, Singapore. Đối với các nước như Italy, Hungary, Cộng hoà Liên bang Đức, Pháp, Hàn Quốc, Thụy Sĩ, Canada, New Zealand, một số bang của Hoa Kì, Nga thì Nhà nước đưa ra quy định về nội dung và chuẩn chất lượng sách giáo khoa, cung cấp danh sách các sách giáo khoa được sử dụng. Việc chọn sách giáo khoa để dạy do giáo viên và nhà trường quyết định.
Hàn Quốc có nhiều bộ sách giáo khoa, nhất là sách của các môn như Toán, Tiếng Hàn, Tiếng Anh... liên quan đến kì thi quốc gia như thi vào đại học - cao đẳng do các công ty tư nhân tổ chức biên soạn và in ấn, phát hành sách giáo khoa. Các nhà xuất bản tự tổ chức và gửi lên trên để được xem xét, đánh giá và cấp phép (Textbook certification).
Trung Quốc thực hiện phương châm "Nhất cương đa bản", thống nhất theo một chương trình của cả nước, sách giáo khoa được đa dạng hoá ở các cấp độ khác nhau, thích ứng với các học chế và điều kiện vùng miền khác nhau. Nhà nước khuyến khích và ủng hộ các đơn vị, đoàn thể, cá nhân có đủ các điều kiện do Thông tư quy định biên soạn sách giáo khoa có chất lượng cao, có bản sắc riêng, phù hợp với yêu cầu cải cách dạy học. Việc biên soạn và thẩm định giáo khoa do cơ quan hành chính giáo dục của Quốc vụ Viện và cơ quan hành chính giáo dục của tỉnh quản lí.
Ở Malaysia, sau khi có chương trình, Bộ Giáo dục sẽ chỉ định các nhà xuất bản làm sách giáo khoa và các tài liệu kèm theo như hướng dẫn dạy học, bộ CD cho học sinh, bộ CD cho giáo viên và các tài liệu tham khảo khác. Nhà xuất bản sẽ lựa chọn tác giả và tổ chức biên soạn sách giáo khoa theo yêu cầu đặt ra từ chương trình các môn học. Mỗi chương trình môn học sẽ có 3 bộ sách giáo khoa cho 3 vùng miền khác nhau. Với các đối tượng học sinh đặc biệt sẽ có những điều chỉnh từ Chương trình quốc gia và có sách giáo khoa viết riêng theo Chương trình quốc gia đã được điều chỉnh. Thời gian viết SGK là 1 năm trong đó thời gian dành cho chuẩn bị bản thảo là 6 - 8 tháng, thời gian để in ấn sách là 1 tháng, thời gian còn lại là để phân phối sách cho các vùng (1 tháng cho 2 vùng lớn và ½ tháng cho vùng còn lại). Thành phần tác giả sách giáo khoa: chuyên gia môn học và các giáo viên phổ thông, giáo viên đại học có kinh nghiệm. Mỗi bản thảo sách giáo khoa sẽ được thẩm định qua 3 lần bởi Trung tâm đánh giá và chất lượng của nhà xuất bản. Do kế hoạch thời gian làm sách là 8 tháng, nên việc thử nghiệm chương trình và sách giáo khoa mới được tiến hành trong quá trình sản xuất sách và chỉ thử một vài nội dung mới (hoặc nội dung có điều chỉnh) theo kế hoạch chung khi làm chương trình, khi sách giáo khoa đã và xuất bản đại trà là không có thử nghiệm nữa.
Như vậy, về cơ bản, việc biên soạn và sử dụng theo hướng Nhà nước xây dựng và ban hành chương trình, các nhà xuất bản tự biên soạn sách giáo khoa là chủ yếu, sách giáo khoa muốn được sử dụng phải qua sự thẩm định và cho phép của Nhà nước. Nhà nước có thể chủ động tổ chức biên soạn một số sách giáo khoa cho một vài cấp học, môn học hay vùng miền. Việc lựa chọn và sử dụng sách giáo khoa thuộc quyền của các trường và giáo viên.
Phần này trình bày về xu thế thực hiện quy trình xây dựng chương ở các nước và có trình bày riêng về việc tổ chức thực nghiệm chương trình.
Về quy trình xây dựng chương trình nhìn chung, quá trình phát triển Chương trình GDPT của các nước được thực hiện theo quy trình gồm các bước như sau:
- Đánh giá chương trình cũ (Chương hiện hành và các chương trình trước đó).
- Định hình chương trình mới trong đó nêu rõ đề xuất tư tưởng, cách tiếp cận, các định hướng chỉ đạo chung.
- Viết chương trình bao gồm cả chương trình khung và chương trình môn học, thẩm định, xin ý kiến từ nhiều kênh khác nhau.
- Chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện chương trình: bồi dưỡng giáo viên, chuẩn bị cơ sở vật chất, sách giáo khoa và các tài liệu hướng dẫn.
- Triển khai đại trà.
- Giám sát, đánh giá và cập nhật, điều chỉnh, tiếp tục phát triển chương trình.
Trong số các quốc gia được tìm hiểu, có thể lấy quy trình của Australia được triển khai theo các giai đoạn hết sức bài bản, cụ thể có 4 giai đoạn cơ bản:
Giai đoạn thứ nhất nhằm định hướng chung về tư tưởng, mục đích, cấu trúc và tổ chức các lĩnh vực học tập. Giai đoạn này nhằm đưa ra hướng dẫn cho người viết chương trình, đồng thời cung cấp tiêu chí để đánh giá chất lượng chương trình. Các bên liên quan tham gia vào giai đoạn này gồm: giáo viên và nhà trường, chính quyền giáo dục bang và vùng lãnh thổ, phụ huynh và học sinh, tổ chức chuyên môn, liên đoàn giáo viên, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng.
Giai đoạn hai là viết chương trình: Chương trình Australia được viết theo lĩnh vực cụ thể, nội dung và chuẩn thành tích được các nhà quản lí giáo dục, nhà trường và giáo viên áp dụng ở tất cả các bang và vùng lãnh thổ. Giai đoạn này có sự tham gia của các nhóm tác giả, dưới sự hỗ trợ của nhóm chuyên gia tư vấn, với các bên liên quan chủ chốt gồm: giáo viên và nhà trường thông qua các hoạt động tham gia tăng cường vào thực nghiệm chương trình, chính quyền giáo dục bang và vùng lãnh thổ, phụ huynh và học sinh, nghiệp đoàn, liên đoàn giáo viên, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng. Giai đoạn này sẽ công bố Chương trình quốc gia về lĩnh vực/môn học.
Giai đoạn thứ ba là chuẩn bị thực hiện liên quan tới việc triển khai chương trình ở cấp trường và các nhà quản lí, theo hình thức trực tuyến đối với cấp trường, giáo viên, các nhà quản lí nhà trường để chuẩn bị thực hiện. Việc thực hiện và hỗ trợ thực hiện là trách nhiệm của các nhà chức trách cấp bang, trường học địa phương và chương trình. Cơ quan phụ trách về phát triển chương trình và đánh giá của Australia (ACARA) làm việc với các nhà chức trách này nhằm hỗ trợ kế hoạch thực hiện sắp tới thông qua việc cung cấp tài liệu hướng dẫn, thông tin giới thiệu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạch địch trên toàn quốc.
Giai đoạn thứ tư là giám sát, đánh giá chương trình trong Chương trình giáo dục phổ thông Australia được thực hiện với các báo cáo thường niên lên ACARA và chi tiết hoá theo các vấn đề đã được xác định. ACARA xây dựng khung giám sát, gồm cả câu hỏi nghiên cứu và thu thập dữ liệu liên quan, các nhà chức trách giáo dục cấp bang và vùng lãnh thổ có thể sử dụng tài liệu này như một phần trong chiến lược giám sát riêng của cá nhân, nhằm hỗ trợ quá trình thu thập và cung cấp dữ liệu Chương trình cấp bang/vùng lãnh thổ để báo cáo lên ACARA. Quy trình đánh giá có thể dẫn tới một số thay đổi nhỏ, hoặc chỉnh sửa chương trình.
Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc và một số nước phát triển, đội ngũ xây dựng chương trình bao gồm: Chuyên gia xây dựng chương trình (Học viện, Viện Khoa học), các Giáo sư dạy đại học, cán bộ chỉ đạo dạy học các cấp, các GV giỏi của các bậc học. Số lượng chuyên gia xây dựng chương trình khung quốc gia và chương trình môn học không cần nhiều nhưng cần có kinh nghiệm dạy học, có trình độ chuyên môn giỏi.... Bên cạnh đó cần có ban tư vấn chương trình bao gồm các chuyên gia môn học từ các trường đại học, các khu công nghiệp - kĩ nghệ, tác giả chương trình, các hội nghề nghiệp và các giáo viên phổ thông được lựa chọn dựa trên cơ sở giỏi chuyên môn. Cần thành lập nhóm góp ý đa dạng và có trình độ ngay từ đầu khi khởi thảo chương trình khung và chương trình môn học. Cần có thời gian ít nhất 18 tháng để xây dựng và góp ý Chương trình giáo dục quốc gia (khung) và khung chương trình chuẩn môn học cấp quốc gia. Cần 6 tháng đề triển khai chương trình địa phương trên nền tảng Chương trình quốc gia. Sau khi có chương trình môn học cần tiến hành bồi dưỡng giáo viên đề họ nắm được tư tưởng đổi mới, định hướng xây dựng chương trình và định hướng nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá… không cần chờ đến khi có sách giáo khoa.
Ở rất nhiều nước, việc chịu trách nhiệm phát triển chương trình được giao cho một cơ quan/tổ chức chuyên trách, chẳng hạn, ở Australia có Trung tâm phát triển chương trình và đánh giá (ACARA), Hàn Quốc có Viện Chương trình và đánh giá (KICE), ở Cộng hoà Liên bang Đức có Viện Chương trình ở từng bang, ở Nga có Viện Hàn lâm sư phạm Nga...
Đối với vấn đề tổ chức thực nghiệm chương trình sách giáo khoa cũng được các nước chú trọng, bởi thực nghiệm chương trình là một công việc quan trọng khi xây dựng chương trình, nó mang lại những lợi ích đáng kể ở nhiều cấp độ. Thực nghiệm thường được coi là một phần của đánh giá chương trình, mặc dù nó được thực hiện ở giai đoạn đầu tiên của quá trình đổi mới chương trình.
Thực nghiệm chương trình là một phần của chiến lược đổi mới vì:
(1) Ảnh hưởng đến quá trình đổi mới chính sách giáo dục;
(2) Xem xét sự phù hợp của chương trình mới trong các điều kiện thực tế khác nhau;
(3) Cung cấp những bằng chứng khoa học để khẳng định tính khả thi của chương trình;
(4) Khuyến khích tính sáng tạo và xác định những trở ngại của quá trình đổi mới chương trình;
(5) Đạt đến sự thống nhất về đổi mới chính sách, xây dựng mô hình và năng lực thực hiện chương trình. Thực nghiệm chương trình cũng có thể được hiểu là một bộ phận của quá trình thiết kế chương trình.
Về hình thức thực nghiệm, trên thế giới có các mức độ sau:
(1) Thực nghiệm toàn bộ chương trình tổng thể và chương trình các môn học nhằm xác định tính khả thi và tác động của chương trình mới một cách hệ thống. Song, yêu cầu nội dung thực nghiệm phải toàn diện, mất nhiều thời gian và tốn kém tài chính (không có nhiều nước làm theo cách này).
(2) Thực nghiệm chương trình một số môn học có những đổi mới căn bản nhằm xác định tính khả thi và kết quả đạt mục tiêu của chương trình những môn học này, tập trung thực nghiệm một số nội dung đổi mới của một số môn học, mô hình giáo dục mới (các nước như Malaysia, Thái Lan, Australia... làm theo cách này). Thái Lan tuyên bố sẽ thực nghiệm chương trình mới ở 3.000 trường vào năm 2014. Ở Hàn Quốc, với việc thực hiện chủ trương đưa SGK điện tử vào nhà trường, đã tổ chức thực nghiệm trong năm 2012 ở 42 trường, năm 2013 thí điểm mở rộng ở 160 trường; Hàn Quốc không thí điểm tất cả mọi cấp, mọi lớp hoặc toàn bộ chương trình một lớp mà chỉ thí điểm những vấn đề mới và khó; thí điểm ở những vùng/địa phương có khó khăn, thời gian không quá dài, chỉ cần 1 năm và làm ở cả 3 cấp học. Ở Trung Quốc, việc tổ chức thí điểm chương trình mới tập trung vào các vấn đề/nội dung mới hoàn toàn của chương trình và thực hiện ở những địa phương có thể sẽ gặp khó khăn khi thực hiện chương trình mới, phương thức thực nghiệm là khuyến khích các cơ sở tự nguyện tham gia, đồng thời chia thành các giai đoạn và xác định phạm vi thực nghiệm phù hợp.
Với sự thay đổi mang tính điều chỉnh chương trình, khi thấy rằng sự đổi mới không làm xáo trộn các phương thức giáo dục, không tạo sự lúng túng lớn cho các trường và không dẫn tới các phản ứng tiêu cực của toàn xã hội thì không cần tổ chức thực nghiệm (nhiều nước chỉ công bố chương trình được điều chỉnh và triển khai đại trà luôn).
(3) Một số cách làm khác:
Nhà nước công bố chương trình ban đầu, các trường thực hiện theo chương trình này và có phản hồi đánh giá, đề xuất điều chỉnh (như vậy, giai đoạn này cũng có thể coi là giai đoạn thực nghiệm chương trình). Căn cứ vào kết quả triển khai chương trình trong thực tiễn, thu thập các ý kiến phản hồi, Nhà nước tổ chức hoàn thiện chương trình và công bố chương trình đã được hoàn thiện. Trong quá trình triển khai chương trình, có thể luôn cập nhật những điểm mới (gọi là phát triển chương trình).
Ở Pháp, theo các văn bản về quy trình biên soạn chương trình thì không có bước thí điểm chương trình mới. Thay vào đó là tham vấn, lấy ý kiến, điều tra giáo viên và các đối tác (các công đoàn giáo viên, phụ huynh học sinh,..) trong quá trình biên soạn, với một số tiêu chí chính là: tính khả thi, sự thích hợp với điều kiện triển khai thực tế, với trình độ giáo viên và học sinh. Nhiều ý tưởng của chương trình đã được thí điểm trước khi xây dựng chương trình thực nghiệm nghiên cứu, ở địa phương, các trường, các nhóm giáo viên.
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, việc thí điểm chuẩn chương trình thực hiện rất công phu, theo 2 vòng, vòng 1 thí điểm trên mẫu ngẫu nhiên 5.000 học sinh, sau đó xử lí kết quả để điều chỉnh, hoàn thiện chuẩn để thí điểm vòng 2 với mẫu ngẫu nhiên là 10.000 học sinh.
Quy trình phát triển Chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều nước, mà Australia là điển hình rất chặt chẽ; thận trọng với hệ thống tổ chức nhiều cấp có cơ chế hoạt động độc lập, không chồng chéo, đảm bảo tính khách quan, huy động được nhiều chuyên gia giỏi tham gia. Phát triển chương trình theo từng bước thận trọng, không làm ồ ạt, đồng loạt. Trong quá trình phát triển chương trình luôn được rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh, bổ sung thông qua việc xin ý kiến của các nhà khoa học, giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh và nhân dân. Việc thử nghiệm cũng tập trung vào thử nghiệm chương trình theo các hình thức: tổ chức hội thảo cấp quốc gia, thử nghiệm những nội dung mới tại các cơ sở giáo dục.
Công chúng báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thông tin báo chí. Thái độ và cách thức ứng xử với công chúng báo chí thể hiện tính chuyên nghiệp và đạo đức của giới báo chí nói chung và mỗi nhà báo nói riêng.Khả năng nắm bắt và hiểu biết đặc điểm, tâm tư nguyện vọng, mong đợi của công chúng thể hiện năng lực nghề nghiệp cơ bản và quan trọng hàng đầu của nhà báo. Nhà báo viết, nói cho công chúng của mình.Nhà báo giao tiếp với công chúng chủ yếu bằng sự kiện và vấn đề thông qua bài viết báo chí (tác phẩm báo chí). Do đó, thực tiễn đã hình thành mối quan hệ nhà báo - tác phẩm - công chúng.
Công chúng báo chí có thể được hiểu là một tập hợp (quần thể) dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí gây ảnh hưởng hoặc hướng vào để gây ảnh hưởng. Như vậy, công chúng báo chí được xem xét trong mối quan hệ với sản phẩm báo chí, với cơ quan báo chí và với nhà báo. Do vậy, công chúng có thể được nhìn nhận từ các phương diện khác nhau:
Thứ nhất, là quần thể cư dân, không phân biệt giai cấp, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp...;
Thứ hai, là nhóm đối tượng chuyên biệt, theo những tiêu chí nhất định như tiêu chí về nhân khẩu học - xã hội, như tuổi, giới tính, nghề nghiệp; hoặc theo nhu cầu và mong đợi khác nhau...;
Thứ ba, đối tượng tác động, gây ảnh hưởng, công chúng và khách hàng - thị trường của báo chí; là nguồn tin và nuôi dưỡng sức sống của báo chí. Công chúng - khách trường, thị trường... là người sẵn sàng chi tiền mua sản phẩm báo chí. Công chúng trực tiếp là người bỏ tiền ra mua báo, mua chương phát thanh, truyền hình..., tạo nguồn thu và thị trường, cáo cho báo chí, nhờ đó, thu hút được khách hàng và thị trường quảng cáo. Không có loại công chúng này thì báo chí khó có điều kiện phát triển bền vững.
Thứ tư, là nguồn tin và sức mạnh xã hội của báo chí, nguồn sáng tạo của báo chí. Công chúng xã hội là lực lượng quan trọng (thậm chí chủ yếu) quyết định vai trò, vị thế, uy tín và sức mạnh xã hội của báo chí và uy tín nhà báo. Không ai có thể phong tặng danh hiệu với đầy đủ sức mạnh và uy tín bền vững lâu dài cho báo chí và nhà báo bằng công chúng và dư luận xã hội.
Thứ năm, là nhóm đối tượng tiếp nhận sản phẩm đầu ra của báo chí, là khách hàng - thị trường của báo chí, hình thành khái niệm công chúng báo chí - khách hàng - thị trường.
Nói cách khác, công chúng là tập hợp đối tượng trực tiếp hay gián tiếp tiếp nhận thông tin hoặc ảnh hưởng từ tác động của thông tin báo chí.Như vậy, đối với báo chí có công chúng trực tiếp, công chúng gián tiếp, công chúng đích và công chúng liên quan... cùng kiến tạo thành khái niệm báo chí. Giữa các nhóm công chúng này có cơ chế lây lan truyền dẫn, phản ứng dây chuyền theo những quy luật tâm lý xã hội nhất định, như tâm lý đám đông... Trong lý luận và thực tiễn báo chí hiện đại, công chúng có vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng lực và hiệu quả tác động cũng như khách hàng - thị trường của mỗi cơ quan hay sản phẩm báo chí - truyền thông.
Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, sẽ có thể có cách phân chia thành các nhóm công chúng khác nhau. Nếu căn cứ vào độ tuổi, sẽ có nhóm công chúng trẻ em, công chúng thanh niên; công chúng người cao tuổi, công chúng trung niên.. căn cứ vào giới tính, sẽ có công chúng nam giới, nữ giới; căn cứ vào địa bàn sinh sống, sẽ có công chúng đô thị, công chúng nông thôn, miền núi... công chúng theo nghề nghiệp, theo địa bàn sống, mức sống....
Trong công chúng truyền thông, cần đề cập tới công chúng đích và công chúng liên quan, công chúng tiềm năng và công chúng thực tế, công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp...
Công chúng đích là nhóm công chúng mà báo chí truyền thông hướng tới để gây ảnh hưởng theo những mục đích đã định, không chỉ trước mắt, mà cả trong kế hoạch cũng như chiến lược truyền thông dài hạn. Công chúng liên quan là nhóm công chúng liên quan đến nhóm công chúng đích mà nếu báo chí quyền thông gây được ảnh hưởng với nhóm công chúng này sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả ảnh hưởng đối với công chúng đích. Ví dụ, trong chiến dịch truyền thông về giáo dục, cụ thể là về chống gian lận, tiêu cực trong thi cử, nhóm công chúng đích mà báo chí như tới là sinh viên. Nhưng ngoài nhóm công chúng đích này, còn có nhóm công chúng liên quan mà nếu báo chí không gây độc ảnh hưởng, hiệu quả tác động thì nhóm công chúng đích - nhóm sinh viên sẽ bị hạn chế. Đó là nhóm công chúng - đối tượng là cho mẹ sinh viên, những người làm giáo dục, như cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy và cả các tổ chức xã hội khác...
Công chúng mà báo chí đã và đang tác động gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp gọi là công chúng thực tế. Công chúng thực tế là công chúng đã và đang chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp hay gián tiếp của thông tin báo chí. Ví dụ, báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh với lượng phát hành hơn 400 ngàn bản.Về lý thuyết, ít nhất có thể có hơn 4 triệu số người được tiếp nhận sản phẩm và chịu ảnh hưởng từ tờ báo này. Nhưng trong thực số ấy có thể nhân lên nhiều lần, tùy thuộc vào cơ chế tác động lây lan trong quá trình tiếp nhận sản phẩm trong gia đình, bạn bè, môi trường làm việc... Vấn đề này phụ thuộc vào mức độ và tính chất quá trình đô thị hóa vô giao tiếp của cộng đồng. Do đó, còn có công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp theo những cấp độ khác nhau.
Có thể nói, công chúng trực tiếp là những người chịu tác động trực tiếp từ sản phẩm báo chí; công chúng gián tiếp là những người chịu ảnh hưởng gián tiếp sản phẩm báo chí thông qua nhóm công chúng trực tiếp nhờ ảnh hưởng lây lan. Đó là quá trình chịu sự tác động, ảnh hưởng của cơ chế lây lan trong tâm lý đám đông và dư luận xã hội. Sức tác động lây lan này mạnh hay yếu, rộng hay hẹp tùy thuộc vào đặc điểm nhóm công chúng, đối tượng, vào tính chất và quy mô của sự kiện và vấn đề thông tin, vào môi trường xã hội và điều kiện sinh hoạt của công chúng.
Mặt khác, công chúng là nguồn cảm hứng sáng tạo và là nguồn lực sáng tạo của báo chí. Đó là nguồn đề tài, nguồn cảm hứng, động viên khích lệ nhà báo.Công chúng báo chí còn là khách hàng.Mỗi khi sản phẩm báo chí là hàng hóa, thì món hàng hóa ấy được mua và tiêu dùng bởi công chúng. Do đó, cần tìm hiểu các khái niệm công chúng - khách hàng - thị trường báo chí. Trên thực tế, những nỗ lực nắm bắt, thâm nhập công chúng xã hội chủ yếu phụ thuộc vào các nhà báo với tư cách là cá nhân, Với tư cách là các phóng viên. Do đó, số lượng phát hành của các báo phụ thuộc vào các cây bút có tên tuổi được công chúng biết đến và hâm mộ. Vấn đề đặt ra là cần dựa trên cơ sở nghiên cứu Công chúng đích và yêu cầu tiếp cận thị trường của cơ quan báo chí để có thể hoạch định chiến lược phát triển của sản phẩm báo chí, phát triển thị trường, làm cơ sở xây dựng, tập hợp và đào tạo đội ngũ phóng viên, biên tập viên cũng như xây dựng phong cách tòa soạn cơ quan báo chí phù hợp với công chúng. đối tượng của mình.
Ở những nước có nền báo chí phát triển, nhiều cơ quan báo chí đã có bộ phận nghiên cứu công chúng và dư luận xã hội hoạt động chuyên nghiệp như trung tâm hoặc viện nghiên cứu công chúng và dư luận xã hội.
Nằm ở bờ đông của sông Hoàng Phố, Thượng Hải, Phố Đông là một vùng đất rộng bao gồm nhiều nhà lụp xụp, các công xưởng nhếch nhác và ruộng đồng bỏ hoang hàng thế kỷ, đến khi Chính phủ Trung Quốc tuyên bố khởi công xây dựng và mở cửa ra thế giới bên ngoài ngày 18/4/1990 (Kim, 2006). Mục tiêu của chiến lược này là chấn hưng Thượng Hải thành một trung tâm thương mại và tài chính quốc tế, và biến thành phố này thành một đầu tàu phát triển của thung lũng sông Dương Tử. Kể từ đó, vùng diện tích 522 km này đã thay đổi ngoài sức tưởng tượng. Hàng tỷ USD được rót vào xây dựng cơ sở hạ tầng, biến khu này thành khu ra tay của các công ty đa quốc gia gồm GM, Siemens, Intel và sharp. Cùng với những điều vừa nói trên, gần 6000 công ty từ 67 nước và khu vực trên toàn thế giới, bao gồm 98 trong số 500 công ty đa quốc gia hàng đầu đã đầu tư cho đến nay là 29,4 tỷ USD ở Khu kinh tế tự do Phố Đông. Đâu là yếu tố chính tạo nên thành công này của Khu kinh tế tự do Phố Đông?
Thứ nhất, nghiên cứu của Kim nói rằng, quy hoạch tổng thể là yếu tố chủ yếu góp phần tạo nên thành công của Phố Đông. Như trên đã nói đến trong chiến lược cơ bản, 4 giai đoạn của các kế hoạch phát triển được thực hiện bằng sự hợp tác giữa Chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương. Việc xây dựng Khu Tài chính và Thương mại Lujiazui chẳng hạn được các nhà thiết kế Anh, Pháp, Nhật Bản và Italy tư vấn, vì vậy đã tránh được rủi ro trong xây dựng. Thứ hai, khung khổ pháp lý đã đảm bảo cho việc xây dựng Khu kinh tế tự do Phố Đông được trôi chảy. Để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, Trung Quốc đã đưa ra hơn 100 luật và quy định bằng nhiều thứ tiếng khác nhau về giảm thuế, các vùng được bảo trợ và các vùng khác (KOTRA, 2003). Thứ ba, những ưu đãi đầu tư mạnh mẽ như không tính thuế và miễn thuế đã thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Mức thuế công ty thấp đối với các công ty nước ngoài (15%) như đã nêu ở trên với việc không tính thuế trong suốt 2 năm và h thuế trong ba năm cho các ngành chế tạo, hậu cần, du lịch và ngân hàng là một sự hấp dẫn lớn (Kim, 2006). Thứ tư, Chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích Phố Đông bước những bước táo bạo trong cải cách, biến Phố Đông thành nơi thử nghiệm để mở cửa tiếp theo. Chẳng hạn, năm 1997, Phố Đông đã trở thành nơi đầu tiên ở Trung Quốc có các ngân hàng nước ngoài sử dụng NDT, là đồng nội tệ của Trung Quốc (KOTRA, 2003). Cuối cùng, điều không thể bị bỏ qua là địa điểm địa lý, việc dễ tiếp cận với vốn, nhân tài dồi dào, giá lao động rẻ và thị trường lớn sẽ là đóng góp cho sự thịnh vượng của Phố Đông (Kim, 2006).
Phân tích phỏng vấn qua email và điện thoại
Khoảng 3 năm trôi qua từ khi Khu kinh tế tự do Incheon làm cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành trọng tâm kinh doanh của Đông Bắc Á. Tôi muốn biết đâu là rào cản cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thông tin hay dịch vụ nào cần thiết cho các nhà đầu tư nước ngoài trong tương lai.
Ở đây, tôi đã khảo sát nhờ sự giúp đỡ của nhà chức trách Khu kinh tế tự do Incheon. Có 159 công ty nước ngoài ở Incheon và nhà chức trách Khu kinh tế tự do Incheon đã giới thiệu cho tôi 28 công ty nước ngoài quan tâm đến đầu tư vào Khu kinh tế tự do Incheon. Tôi đã email cho họ và phỏng vấn qua điện thoại trong khoảng 15 phút mỗi công ty. 15 công ty nước ngoài đã trả lời bảng hỏi của tôi - tỷ lệ trả lời là gần 53%. Có 9 hãng chế tạo, 3 hãng hậu cần/vận tải, 2 công ty phát triển địa ốc và 1 công ty phân phối với số lượng nhân công lớn, từ 9 đến 450. Việc khảo sát được tiến hành từ 9/4 đến ngày 12/9/2007, Bảng hỏi được chia thành 3 phần. Phần 1 là so sánh môi trường đầu tư giữa Khu kinh tế tự do Phố Đông và Khu kinh tế tự do Incheon, phần 2 liên quan đến các trở ngại đầu tư ở Khu kinh tế tự do Incheon, phần 3 là các phương pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu kinh tế tự do Incheon. Mỗi phần được xem xét qua 3 nhóm tiêu chuẩn sau: Cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh và môi trường sống.
Môi trường đầu tư giữa Khu kinh tế tự do Incheon và Khu kinh tế tự do Phố Đông
Trước khi so sánh môi trường đầu tư, tôi phát hiện rằng, 53% số công ty được hỏi trả lời giống với Phố Đông, Trung Quốc (4 công ty rất giống, 4 công ty tương đối giống) và 30% số công ty được hỏi trả lời bình thường”. Chỉ có 13: số công ty được hỏi trả lời không giống với Phố Đông Trung Quốc. Đó có thể là vì hầu hết các công ty nước ngoài đánh giá Phố Đông là một khu vực đầu tư thay thế. Phỏng đoán của tôi cũng là nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến Khu kinh tế tự do Phố Đông vì câu chuyện thành công của Khu kinh tế tự do Phố Đông đã phủ kín nhiều trang báo ở Hàn Quốc.
Hình 2: đối chiếu môi trường đầu tư giữa Khu kinh tế tự do Phố Đông và Khu kinh tế tự do Incheon

Về so sánh môi trường đầu tư, các công ty được hỏi cho thấy thái độ tích cực đối với Khu kinh tế tự do Phố Đông hơn là Khu kinh tế tự do Incheon ở tất cả mọi mặt trừ môi trường sống. Đặc biệt, các công ty được hỏi đã không thoả mãn với mức hỗ trợ của chính phủ đối với Khu kinh tế tư do Incheon. Điều này có thể liên quan đến những ưu đãi đầu tư sẽ bàn đến ở phần tiếp theo.
(1) Bối cảnh chung
Cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh và môi trường sống được so sánh trong phần này. Các công ty được hỏi đã không bằng lòng với môi trường kinh doanh (50%), môi trường sống (26%) hay cơ sở hạ tầng (24%). Những kết quả này là do giá nhân công cao và giá thuê đất cao ở Incheon.
Hình 3: Các rào cản đầu tư vào Khu kinh tế tự do Incheon (lần lượt)

(2) Môi trường kinh doanh
Các ưu đãi đầu tư và chi phí thuê đất không phải là những yếu tố tồi tệ nhất theo đánh giá của các công ty được hỏi. Khoảng 40% trả lời rằng các ưu đãi đầu tư không tốt và giá thuê nhà xưởng quá cao. Hơn thế nữa, giá nhân công và vốn con người được coi là những rào cản chính cho đầu tư ở Khu kinh tế tự do Incheon. Như đã đề cập ở phần trước (so sánh các đặc điểm chính giữa Khu kinh tế tự do Phú Đông và Khu kinh tế tự do Incheon), giá nhân công trung bình ở Incheon cao gấp gần 7 lần ở Thượng Hải. Hơn nữa, giá nhà xưởng ở Incheon cao hơn 3,55 lần. Khảo sát dưới đây về môi trường kinh doanh sẽ chỉ ra những vấn đề giá cả đắt đỏ ở trên. Vì vậy ban quản lý Khu kinh tế tự do Incheon và Chính quyền Trung ương Hàn Quốc cần xem xét lại những ưu đãi đầu tư cân bằng với những ưu đãi của Khu kinh tế tự do Phố Đông. Như trên đã nêu, Khu kinh tế tự do Phố Đông áp dụng 15% thuế công ty đối với các công ty nước ngoài nhưng Khu kinh tế tự do Incheon lại áp dụng mức 25%. Thêm vào đó, Khu kinh tế tự do Phố Đông cho phép ngành ngân hàng được hưởng thời gian không phải trả thuế, trong khi Khu kinh tế tự do Incheon không có loại hình ưu đãi đó cho ngành ngân hàng.
Hình 4: Môi trường kinh doanh ở Khu kinh tế tự do Incheon

(3) Môi trường sống
Về khía cạnh môi trường sống, các công ty được hỏi lên tiếng về sự khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng Anh. Như đã nói ở phần trước (phần 2), Hàn Quốc không tỏ ra có kỹ năng giao tiếp tiếng Anh tốt, xếp hạng thứ 111 về kết quả kiểm tra TOEFL trong số 147 nước trên thế giới. Tôi nghĩ rằng các trường đại học Hàn Quốc cần phải có trách nhiệm dạy giao tiếp tiếng Anh vì khoảng 80% học sinh tốt nghiệp phổ thông vào đại học ở Hàn Quốc. Các trường học và bệnh viện dành cho người nước ngoài cũng phải được xây dựng càng sớm càng tốt. Đến nay, chưa có một trường học hay bệnh viện cho người nước ngoài nào ở Khu kinh tế tự do Incheon.
Hình 5: Những rào cản đầu tư ở Khu kinh tế tự do Incheon

Chắc chắn rằng các công ty được hỏi đang rất quan tâm đến nhưng ưu đãi đầu tư. Theo quan điểm của tôi đó là vì hầu hết mọi người đều đành giá khu kinh tế tự do là một đặc khu có các điều kiện hạn chế về thuế và kinh tế không quá chặt. Hơn nữa, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang quan tâm đến thông tin về các quỹ đầu tư liên doanh. Đấy là vì các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại rủi ro khi đầu tư và thích được chia sẻ những rủi ro trong kinh doanh đó ở khu kinh tế tự do Incheon. Vì vậy, ban quản lý khu kinh tế tự do Incheon và chính quyền Trung ương cần ban hành một chính sách khuyến khích để tạo ra hệ thống quỹ liên doanh ở Khu kinh tế tự do Incheon.
Tóm tắt
Khu kinh tế tự do Phố Đông được đánh giá là một mô hình thành công khi thu hút 23,7 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2004. Thành công của Khu kinh tế tự do Phố Đông có được là nhờ sự quy hoạch có tổ chức, sự hợp tác giữa Chính quyền Trung ương và Chính quyền địa phương trong việc tạo ra một hệ thống mới bao gồm các ưu đãi mạnh mẽ, bãi bỏ các quy định và nguồn lao động rẻ dồi dào và thị trường rộng lớn. Khi tiến hành so sánh những đặc điểm chủ yếu của Khu kinh tế tự do Phố Đông và Khu kinh tế tự do Incheon: Khu kinh tế tự do Phố Đông có những lợi thế mạnh về cảng biển và cơ sở hạ tầng. Về khía cạnh môi trường kinh doanh, Khu kinh tế tự do Phố Đông cũng có nhiều ngành công nghệ cao với giá nhân công thấp hơn và các ưu đãi thuế mạnh hơn so với Khu kinh tế tự do Incheon. Tuy nhiên, Khu kinh tế tự do Incheon lại có công nghệ thông tin và chất lượng thể chế tốt hơn Khu kinh tế tự do Phố Đông về môi trường kinh doanh. Nếu so sánh về môi trường sống, Khu kinh tế tự do Incheon còn cách xa về giá sinh hoạt, kỹ năng giao tiếp tiếng Anh và trường học/bệnh viện dành cho người nước ngoài so với Khu kinh tế tự do Phố Đông. Cuối cùng, thông qua phỏng vấn bằng email và điện thoại với 15 nhà đầu tư nước ngoài, tôi khám phá ra là Khu kinh tế tự do Incheon phải cố gắng hơn nữa để cải thiện môi trường kinh doanh với những điều kiện như ưu đãi đầu tư và hệ thống đầu tư mạo hiểm liên doanh.
Trong hoạt động của mình, báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia quản lý, giám sát và phản biện xã hội. Có thể thấy rằng, vai trò tham gia quản lý xã hội của báo chí trước hết bảo đảm việc xuyên suốt thông tin hai chiều giữa chủ thể và khách thể quản lý, bảo đảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi trong thực tế. Theo chiều từ chủ thể quản lý đến khách thể, báo chí truyền bá các chủ trương, chính sách và quyết định quản lý - lãnh đạo, làm cho các quyết tâm chính trị của lãnh đạo và nhà quản lý thành quyết tâm của toàn dân...; ngược lại, phản hồi từ khách thể tới chủ thể quản lý, là thông tin đúng đắn, khách quan nhất có thể về những gì đang diễn ra trước và sau chủ trương lãnh đạo, quyết định quản lý ban hành. Muốn có quyết sách, chủ trương đúng, người lãnh đạo phải nắm được tình hình, bản chất các vấn đề đang diễn ra, chứ không phải tình hình đã được “mông má”, nhào nặn chủ quan. Một trong những kênh thông tin quan trọng và khách quan nhất, kịp thời và phong phú nhất là báo chí. Báo chí không chỉ là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước mà còn là tiếng nói, diễn đàn, là tai mắt của nhân dân. Báo chí thông tin một chiều, phụ họa và xa rời (hoặc không dám thông tin) những vấn đề then chốt, chủ yếu và bức xúc của nhân dân thì không thể tham gia vào hoạt động quản lý xã hội một cách hiệu quả.
Giám sát có thể được hiểu là theo dõi, kiểm tra lại xem có thực hiện đúng các quy định của Đảng, pháp luật không. Trong hoạt động quản lý xã hội, giám sát có vai trò rất quan trọng nhằm kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, chính sách…. Giám sát phải được tiến hành bởi lực lượng độc lập, khác với chủ thể đang tiến hành hoạt động được giám sát, giám sát có chuyên môn, hiểu biết... mới bảo đảm tính khách quan và hiệu quả.
Phản biện là việc đánh giá, phân tích thông tin theo một chiều hướng khác nhằm khẳng định hoặc xác định lại tính đúng đắn của vấn đề. Theo đó, phản biện có nhiệm vụ khẳng định những kết quả đạt được, những thành công nổi trội của công trình; đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết để tiếp tục hoàn thiện, và cuối cùng, khẳng định rằng công trình đó có đạt được những tiêu chí khoa học cần thiết không. Như vậy, phản biện khác với phản bác. Phản bác là dùng lý lẽ và lập luận để bác bỏ ý kiến hay công trình của người khác.
Phản biện xã hội có thể hiểu là sự tham gia rộng rãi, công khai, minh bạch của xã hội - các tầng lớp xã hội, nhân dân trong việc góp ý kiến cho các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội. Người thực hiện phản biện xã hội thông thường là những người có kiến thức am hiểu rộng và chuyên sâu về các lĩnh vực của đời sống, có bản lĩnh bảo vệ chính kiến và tâm huyết vì sự phát triển bền vững cộng đồng.
Theo đó, phản biện xã hội trong quá trình chuẩn bị ban hành quyết sách lớn là quá trình khai thác và sử dụng trí tuệ và cảm xúc của nhân dân thẩm định xã hội về tính hợp lý, hợp hiến và khả năng thực thi cũng như tính hiệu quả của nó.
Phản biện xã hội trong quá trình thực hiện quyết sách là khẳng định những mặt tích cực, chỉ ra những mặt hạn chế, khiếm khuyết đã và đang bộc lộ trong ý đồ và trong thực tiễn để có thể tìm kiếm giải pháp điều chỉnh bổ sung nhằm tăng cường hiệu quả thực tế của quyết sách ấy.
Thực hiện chức năng phản biện xã hội là báo chí góp phần khơi thức, tập hợp nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của toàn dân, đặc biệt là các chuyên gia về các lĩnh vực khác nhau, góp ý cho các quyết sách lớn của Nhà nước trong quá trình xây dựng và thực hiện nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trí thức thực thụ là những người có chuyên môn sâu, hiểu biết rộng và nhất là có quan điểm, chính kiến độc lập và có bản lĩnh bảo vệ các quan điểm chính kiến ấy, trí thức không phải là người phụ họa, nịnh hót để mưu lợi cá nhân. Đó là quá trình quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam “dân là gốc”, là tư tưởng về nhà nước dân chủ nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, giám sát và phản biện xã hội bằng và thông qua báo chí là thể hiện sinh động nhất của việc phát huy dân chủ xã hội, tăng cường lắng nghe ý kiến phản hồi của nhân dân với thái độ cầu thị.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ”.
Trong xã hội tư bản, giám sát và phản biện xã hội của báo chí trong đã hội tụ được sức mạnh của cộng đồng và bởi thế, người ta coi báo chí là quyền lực thứ tư. Quyền lực thứ tư, thực chất là quyền lực của công luận, quyền lực của nhân dân. Khái niệm quyền lực thứ tự ra đời ở Anh từ cuối thế kỷ XVIII. Thời kỳ đó, ở Anh có hai loại báo chí. Loại báo dành cho tầng lớp quý tộc được in trên trên giấy tốt, chuyên phản ánh đời sống quý tộc, bán giá đắt. Báo chí bình dân in trên giấy xấu, chủ yếu phản ánh đời sống đông đảo cư dân lao động thợ thuyền, bán giá rẻ và với số lượng ít ỏi. Bởi vì lúc ấy, ở tầng lớp thấp không nhiều người biết chữ. Nhưng xã hội càng phát triển, càng quan tâm đến giáo dục con người, nâng cao trình độ dân trí, số người biết chữ ngày càng đông. Và “công chúng báo rẻ tiền” ngày càng lớn mạnh, đông đảo. Chính nguồn lực lượng người lao động đông đảo này đã ngày càng quan tâm đến đời sống chính trị, tiếp nhận thông tin báo chí và hình thành DLXH, rồi DLXH của người lao động trở thành áp lực đối trọng với Nhà nước... Quá trình kết nối với DLXH, báo chí trở thành sức mạnh thực tế và khái niệm quyền lực thứ tự xuất hiện. Do đó, ở các nước dân chủ phương Tây, chức năng này mặc dù chưa có văn bản pháp lý ghi nhận trực tiếp, nhưng nó được đề cao với đầy đủ mọi ý nghĩa từ công luận, cho nên trong thực tế, báo chí được coi là quyền lực thứ tư, giám sát cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chính thể chế phân chia quyền lực của nhà nước tư sản, tam quyền phân lập cùng với sự giám sát của báo chí và công luận đã hạn chế việc lạm dụng quyền lực.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên trong văn kiện chính thức của mình, trong Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khoá VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi nhận, khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội. Đây là bước phát triển quan trọng về lý luận, nhận thức của Đảng về vai trò xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng.Đó là quá trình giám sát mọi nơi, mọi lúc. Chức năng giám sát xã hội của báo chí trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật là để kịp thời phát hiện những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương khích lệ và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời cũng để sớm phát hiện những khó khăn, những sai sót, những nơi làm dở, làm sai, những nơi vi phạm chủ trương, chính sách và luật pháp để đấu tranh. Vai trò và sức mạnh giám sát xã hội của báo chí trước hết là xã hội hoá những việc làm tốt và những sai phạm của các tổ chức hoặc cá nhân nào đó để khơi nguồn và định hướng dư luận xã hội theo hướng ủng hộ hoặc chỉ trích, tạo áp lực dư luận và buộc các cơ quan công quyền giải quyết, giải thích và giải đáp trước nhân dân, trước công luận. Trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng trong những năm gần đây, phần lớn những vụ việc lớn đều do báo chí phát hiện, phanh phui và cơ quan chức trách vào cuộc (ví dụ vụ điện kế điện tử tại
Xã hội càng phát triển thì quyền lực của nhân dân càng được tăng cường, đặc biệt là quyền giám sát các cơ quan công quyền của nhân dân nhằm hạn chế lạm dụng quyền lực. Do đó, để thực hiện tốt chức năng giám sát xã hội của mình, hoạt động báo chí cần đảm bảo các điều kiện như:
Thứ nhất, không ngừng mở rộng tính công khai và dân chủ hoá đời sống xã hội, trước hết là dân chủ về kinh tế, tài chính và công tác tổ chức cán bộ, thực hiện một tiến trình dân chủ thật sự. Tính công khai và dân chủ hoá xã hội được mở rộng đến đâu thì vai trò và năng lực giám sát xã hội của báo chí tăng lên đến đấy. Quy chế dân chủ cơ sở với quyết tâm mở rộng và nâng cao chất lượng dân chủ cơ sở, nhưng trong thực tế kết quả chưa đạt được như mong muốn. Mở rộng tính công khai và dân chủ hoá là một quá trình, một cuộc đấu tranh phức tạp, quyết liệt đòi hỏi bản lĩnh chính trị của lãnh đạo, sự kiên trì và kiên định mục tiêu và phải biết dựa vào dân lấy dân làm gốc.
Thứ hai, nâng cao trình độ dân trí, trước hết và quan trọng nhất là trình độ hiểu biết của người dân về các văn bản quy phạm pháp luật và thiết chế phân chia quyền lực của Nhà nước. Dân trí là trình độ tổng hợp của người dân, nhưng trước hết, liên quan đến vấn đề giám sát xã hội, quan trọng là trình độ am hiểu pháp luật. Dân trí cao, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chặt chẽ là những yếu tố bảo đảm cho nền dân chủ xã hội đạt chất lượng cao. Hiện nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta đã được xây dựng mới và nhanh chóng được bổ sung, nhưng sự hiểu biết của nhân dân kể cả cán bộ trong bộ máy công quyền, về luật pháp còn rất nhiều hạn chế, ý thức chấp hành luật lại càng bất cập. Do đó, muốn nâng cao năng lực giám sát của mình, báo chí - truyền thông cần tích cực tuyên truyền, giải thích để nhân dân nhận thức đầy đủ và đúng đắn các chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, động viên khích lệ nhân dân không chỉ tích cực thực hiện mà còn tham gia giám sát quá trình thực hiện ấy.
Thứ ba, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy công quyền các cấp, như DLXH đặt ra. Thái độ trách nhiệm của cán bộ công chức đối với các vấn đề báo chí và DLXH nêu ra không chỉ thể hiện trách nhiệm pháp lý trước nhân dân, trước Đảng mà còn thể hiện văn hoá chính trị, đạo đức, lối sống và lương tâm của con người. Nâng cao văn hóa chính trị đòi hỏi đổi mới tư duy chính trị. Đó là tư duy và văn hóa chính trị vì dân, lấy dân là gốc. Giám sát và phản biện xã hội của báo chí thực chất là giám sát và phản biện của nhân dân, từ nhân dân, bằng trí tuệ và cảm xúc của nhân dân. Do đó, quá trình giám sát này góp phần chống lạm dụng quyền lực, chống tha hóa quyền lực và bảo đảm quá trình phát triển bền vững. Thực tế chứng minh rằng thời kỳ nào và nơi nào tính chiến đấu, tính đảng của tổ chức đảng mạnh thì thời kỳ đó, nơi đó vai trò và sức mạnh của nhân dân được đề cao thật sự và tính chiến đấu, giám sát phản biện của báo chí được phát huy. Phản biện xã hội theo đó cũng có thể hiểu là những ý kiến góp ý chân thành, thẳng thắn và có cơ sở khoa học - thực tiễn của nhân dân.
Thứ tư, không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý, xây dựng nhà nước pháp quyền - xã hội công dân, hướng tới làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội bằng thiết chế phân chia quyền lực một cách khoa học, chặt chẽ, có cơ chế kiểm soát và giám sát độc lập để chống lạm dụng quyền lực - cách thức quan trọng nhất có thể hạn chế tha hóa quyền lực và tha hóa chế độ xã hội.
Thứ năm, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, năng lực tác nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh nghề nghiệp cũng như cải thiện điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ báo chí - truyền thông. Cùng với đòi hỏi về trình độ, năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị và bản lĩnh hành nghề, cần trang bị cho các nhà báo, nhà truyền thông những phương tiện kỹ thuật - nghiệp vụ hiện đại, cơ chế cung cấp thông tin công khai, minh bạch... để họ có thể tác nghiệp thuận lợi trong quá trình thực hiện chức năng giám sát xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Song song với điều đó, cần có hành lang pháp lý, cần có chế tài tạo điều kiện và bảo vệ nhà báo tác nghiệp trong điều kiện xã hội ngày càng phức tạp. Mặt khác, bản lĩnh nghề nghiệp, năng lực điều tra, phân tích sự kiện và vấn đề pháp lý cũng như khả năng kết nối các nguồn lực xã hội của nhà báo ngày càng trở nên quan trọng trong việc nâng cao chất lượng phản biện xã hội.
Thứ sáu, cần thống nhất nhận thức sử dụng báo chí như công cụ hữu ích hàng đầu trong việc mở rộng tính công khai và dân chủ hoá đời sống xã hội, đặc biệt trong thời đại truyền thông số hoá và sự tác động của công nghệ tin học cùng với trình độ dân trí được nâng cao và thời kỳ hội nhập, mở cửa trong bối cảnh toàn cầu hoá. Coi báo chí không chỉ là diễn đàn rộng rãi nhất để mọi người dân bày tỏ chính kiến, bàn luận những vấn đề quốc kế dân sinh, phản ánh với Đảng và Nhà nước những mong đợi... mà còn là công cụ thể hiện và nâng cao năng lực, trình độ dân trí, chất lượng dân chủ và bảo đảm tính công khai, minh bạch, góp phần quan trọng trong việc chống lạm dụng quyền lực, bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống.
Thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội, tức là báo chí thể hiện tính độc lậptương đối của mình. Tính độc lập không có nghĩa là báo chí độc lập với chính trị. Ở phương diện nào đó, báo chí là công cụ thể hiện quyền lực chính trị, “là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và diễn đàn của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tính độc lập ở đây có nghĩa là, khi thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của báo chí.
Bản chất của chức năng giám sát, phản biện xã hội của báo chí là dùng báo chí như phương tiện và phương thức quan trọng và cơ bản để chống lạm dụng quyền lực; bởi lạm dụng quyền lực sẽ dẫn đến tha hóa quyền lực và tha hóa chế độ xã hội. Vấn đề này có ý nghĩa sống còn đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
1. Giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ hai
Nhật Bản cũng như nhiều nước khác tồn tại từ lâu các hình thức sơ khai của phúc lợi xã hội. Sự trợ giúp trước hết trong gia đình, dòng họ và về sau của cộng đồng là những biểu hiện rất sinh động về vấn đề này. Nét độc đáo của phương Đông thể hiện ở tính cộng đồng, tương thân tương ái giữa con người với con người đã trở thành một truyền thống tốt đẹp từ xa xưa. Tuy vậy, các hoạt động trợ giúp chỉ mới thực hiện trong phạm vi hẹp với qui mô nhỏ. Ở đây, nhà chùa và gia đình đóng vai trò chủ yếu trong các hoạt động này. Gia đình không chỉ là nơi sinh ra, trưởng thành của mọi người mà còn là nơi chịu trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau: bố mẹ có trách nhiệm với con cái, người khoẻ giúp đỡ người yếu, người có điều kiện hỗ trợ người gặp khó khăn... Các hoạt động này chỉ tiến hành trong khuôn khổ gia đình và về sau tuy có được mở rộng ra cộng đồng, song qui mô và mức độ rất hạn chế. Nói chung cuộc sống của người dân còn rất nghèo, bản thân người Nhật Bản được giáo dục từ nhỏ rằng không được trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội bất kể nguyên nhân nào. Dù có khó khăn, nghèo khổ cũng phải có ý chí và nghị lực tự vươn lên. Do vậy, các hoạt động trợ giúp thường mang tính tự phát và không thường xuyên.
Bản thân nhà nước ở thời kỳ này vẫn chưa có một chế độ đầy đủ với tư cách là một hoạt động phúc lợi chung. Có chăng nhà nước chỉ ban hành một số qui tắc chính sách hướng dẫn chung về sự trợ giúp xã hội. Có thể nêu ra một số qui định: chẳng hạn, biện pháp giúp đỡ người có thu nhập thấp trong bộ luật Taishi của Shotoku Taishi năm 701, hoặc luật “cứu bần” năm 1921, luật “cứu hộ” năm 1932. Những năm tiếp theo nhà nước đã có một số văn bản liên quan đến trợ giúp xã hội như giúp đỡ bà mẹ trẻ em (năm 1936), phụ cấp cho quân nhân (năm 1936), luật bảo hiểm y tế (năm 1941). Có thể nhận xét rằng ở giai đoạn trước chiến tranh phúc lợi xã hội với tư cách là một chế độ xã hội ở Nhật Bản thì chưa có gì phải bàn luận. Nhìn chung các hoạt động phúc lợi mang tính chất tự phát, qui mô và phạm vi nhỏ bé. Mặc dù nhà nước có ban hành một số qui định có nhiều bộ luật khá tiến bộ, song tính hiệu lực của nó trong thực tế còn kém. Thậm chí một số qui định của nhà nước chỉ được áp dụng ở một số khu vực hạn hẹp. Sự tham gia của nhà nước với tư cách là chủ thể chính của phúc lợi xã hội thường giới hạn ở mức tối thiểu.
Tuy vậy, các hình thức phúc lợi ở giai đoạn này đã tạo những tiền đề cần thiết cho các hoạt động phúc lợi xã hội sau này. Đặc biệt, sự giúp đỡ lẫn nhau đã dần dần trở thành ý thức và tình cảm của người dân và là nét đẹp truyền thống góp phần tạo nên sự ổn định và hài hoà trong xã hội. Xét ở góc độ đó sự đóng góp của những loại hình phúc lợi ban đầu này là hết sức quí giá và vô cùng cần thiết đối với sự phát triển và tiến bộ của xã hội.
2. Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay với một quãng thời gian chưa dài, bằng sự nỗ lực của chính mình Nhật Bản đã có những bước tiến nhảy vọt làm cho cả thế giới kinh ngạc. Cùng với thành tựu về tăng trưởng kinh tế, Nhật Bản cũng là nước gặt hái được nhiều kết quả về bảo đảm xã hội, trong đó có phúc lợi xã hội.
Để nghiên cứu sự phát triển của chế độ phúc lợi xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay có thể chia làm 3 thời kỳ chủ yếu: giai đoạn 1945- 1960, 1960-1973, và từ 1973 đến nay. Việc phân chia thành các giai đoạn để xem xét nội dung phúc lợi hoàn toàn mang tính chất tương đối. Trên thực tế có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau mà người ta có cách phân định khác nhau. Ở đây, khi xem xét sự phát triển của chế độ phúc lợi của Nhật Bản chúng tôi căn cứ vào sự phân kỳ của các giai đoạn phát triển kinh tế của nước này.
a) Giai đoạn 1945-1960
Có thể nói đây là một trong những giai đoạn khó khăn nhất của nước Nhật và cũng là thời kỳ mà “ý chí Nhật Bản” lại một lần nữa được thể hiện. Kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng là thời điểm mà Nhật Bản bị kiệt quệ về mọi mặt. Hầu hết các cơ sở kinh tế chủ yếu của đất nước bị huỷ hoại. Đối với chính phủ và mỗi người dân lúc đó không có mục đích cấp thiết nào khác là cố gắng bảo đảm cho mình và gia đình được cung cấp những thứ thiết yếu như lương thực, quần áo, nhà cửa. Trong khi đó quân Đồng minh chiếm đóng ở đây ít quan tâm đến nhu cầu nhân đạo và cấp bách này mà tập trung vào các nhiệm vụ duy trì trật tự trong nước, nhanh chóng cải tổ và thay đổi thể chế kinh tế chính trị Nhật Bản. Mục tiêu của họ là thực hiện “phi quân sự hoá và dân chủ hoá” nhằm không để Nhật Bản trở thành mối đe dọa đối với các dân tộc và hoà bình thế giới.
Cùng với các cuộc cải cách khác, quân Đồng minh đã tiến hành cải cách chế độ phúc lợi xã hội của Nhật Bản. Mục tiêu của cải cách dù được tuyên bố là dân chủ song vẫn không ngoài ý định kiểm soát và thống trị Nhật Bản một cách gián tiếp. Bộ Tổng tư lệnh Đồng minh đã đưa ra 3 nguyên tắc chủ đạo chi phối toàn bộ chế độ phúc lợi của Nhật Bản.
Nguyên tắc thứ nhất, bình đẳng không phân biệt đối xử. Đây là nguyên tắc nhằm đưa lại công bằng bình đẳng trong việc hưởng thụ chế độ phúc lợi xã hội. Xét ở góc độ công bằng và nhân đạo việc đưa ra nguyên tắc này là hoàn toàn đúng đắn. Song nhiều nhà nghiên cứu phúc lợi Nhật Bản cho rằng mục tiêu của quân Đồng minh nhằm vào việc xoá bỏ các ưu tiên, ưu đãi đối với quân nhân, gia đình họ, một chế độ đã được duy trì trước chiến tranh và trong suốt thời gian chiến tranh.
Nguyên tắc thứ hai, đề cao vai trò và trách nhiệm của nhà nước. Nguyên tắc này khẳng định trách nhiệm quản lý điều hành các hoạt động phúc lợi xã hội của nhà nước không giao phó cho tư nhân.
Nguyên tắc thứ ba, không hạn chế số tiền trợ cấp. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo cho người dân một cuộc sống tối thiểu. Vì thế về mặt tài chính không được hạn chế vì bất kỳ lý do nào. Nếu so với trước chiến tranh thì nguyên tắc này khác rất nhiều và có thể coi đây là một sự thay đổi lớn lao. Bởi lẽ, trước chiến tranh người ta chỉ qui định cung cấp một số tiền cụ thể (1 ngày một người được trợ cấp 25 xu hay một gia đình chỉ được cấp 1 ngày 1 yên trở xuống). Vì thế, dù có biến động thì mức sống tối thiểu phải được duy trì, đây được coi là nguyên tắc chỉ đạo.
Trên cơ sở 3 nguyên tắc cơ bản trên chính phủ đã ban hành một hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở cho các hoạt động phúc lợi và triển khai các hoạt động này trong thực tế. Một số nội dung cụ thể của chế độ phúc lợi đã được thực hiện.
Thứ nhất, tiến hành trợ giúp cho những người gặp khó khăn.
Sau chiến tranh một bộ phận khá lớn dân cư Nhật Bản rơi vào hoàn cảnh khó khăn túng thiếu. Để giúp họ có một cuộc sống tối thiểu mà nhà nước đã tiến hành trợ giúp khẩn cấp và thường xuyên. Điều này được qui định rất rõ trong “cương lĩnh về đảm bảo khẩn cấp cuộc sống với những người khó khăn” mà nội các ban hành vào tháng 4/1946 có hiệu lực tháng 10/1946.
Thứ hai, ưu tiên cho việc chăm sóc trẻ em và những người tàn tật.
Mặc dù, chính quyền mới của Nhật Bản bề bộn với nhiều công việc cần giải quyết để ổn định và phát triển xã hội. Song việc chăm sóc trẻ em được chính phủ hết sức ưu tiên. Xác định trẻ em là nguồn lực cho tương lai và là lớp người quyết định đến sự phát triển sau này của đất nước, vì thế việc giành ưu đãi cho trẻ em là một việc làm hết sức thông minh. Điều đáng chú ý là nhiệm vụ chăm sóc trẻ em không chỉ chú trọng trẻ em nói chung mà cả với những đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt. Điều này được cụ thể hoá bằng luật “phúc lợi trẻ em” ban hành năm 1947, tiếp đó “Hiến chương về trẻ em” năm 1951, “luật ưu tiên liên quan đến vay vốn trong chế độ phúc lợi bà mẹ trẻ em năm 1952”. Ngoài trẻ em, những người tàn tật cũng là đối tượng được ưu tiên của thời kỳ này. Thực tế, sau chiến tranh ở Nhật Bản số lượng người bị tàn tật rất lớn. Đây không chỉ là nỗi bất hạnh của những người này mà còn là nỗi lo và trách nhiệm của xã hội. Vì vậy, nhiều văn bản pháp luật trợ giúp đối tượng này được ban hành: luật phúc lợi đối với người tàn tật (năm 1949), luật phúc lợi đối với người bị tâm thần (năm 1960)...
Thứ ba, tăng cường các hoạt động phúc lợi xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ toàn dân. Đây là một trong những nội dung chủ yếu của phúc lợi thời kỳ này. Nhờ các qui định đó mà hoạt động y tế được đẩy mạnh và chất lượng chăm sóc sức khoẻ được nâng cao.
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn này Nhật Bản đã đạt được mục tiêu đề ra là ổn định và thể chế hoá. Trong lĩnh vực phúc lợi xã hội bước đầu đã xây dựng được một hệ thống luật pháp tương đối hoàn chỉnh làm cơ sở cho các hoạt động sau này. Hầu hết người dân đều được hưởng các chế độ phúc lợi xã hội nhất là các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt dù qui mô, mức độ có khác nhau. Vì thế hoạt động phúc lợi xã hội đã góp phần ổn định xã hội, tạo những cơ sở cần thiết cho sự phát triển xã hội Nhật Bản.
Tuy vậy, quan niệm về phúc lợi xã hội ở giai đoạn này vẫn chưa thật sự thống nhất. Nhất là từ sau khi Nhật Bản ký hiệp ước San Francisco kết thúc thời kỳ chiếm đóng của Mỹ, chuyển sang thời kỳ tự do. Bàn về hướng phát triển của phúc lợi xã hội có rất nhiều ý kiến khác nhau. Hai quan niệm trái ngược có thể nhận thấy là, một số người muốn Nhật Bản quay về với xã hội truyền thống trước kia, trong đó đề cao vai trò gia đình. Loại ý kiến khác muốn Nhật Bản thay đổi Hiến pháp hiện hành theo hướng tự do hơn. So với trước đây chế độ phúc lợi xã hội đã có nhiều tiến bộ vượt bậc, về qui mô và phạm vi, nhưng nhiều đánh giá vẫn cho rằng các qui định luật pháp trên chịu sự chi phối và hướng dẫn của quân Đồng minh. Thực tế, những năm cuối của thời kỳ này nhiều qui định đã tỏ ra lạc hậu (chẳng hạn, khi mà các cơ sở phúc lợi tư nhân đã phát triển mạnh trong khi vẫn còn qui định không cho phép tư nhân tham gia) và chậm trễ so với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế. Do vậy, cần phải có sự điều chỉnh thay đổi nhanh chóng các hoạt động phúc lợi xã hội để đáp ứng và phù hợp với sự biến đổi chung của đất nước.
b) Thời kỳ 1960-1973.
Đây là thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh của Nhật Bản. Nhờ đó đã tạo điều kiện và thực tế đã làm thay đổi một cách cơ bản bộ mặt xã hội Nhật Bản. Tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt xa con số trước chiến tranh: bình quân 11,8% (năm 1965-1970) so với 4,5% (1913-1938). Nhìn chung, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. So với năm 1968 năm 1973 thu nhập bình quân đầu người tăng 590 đôla[1]. Điều gây nên sự ngạc nhiên cho thế giới là từ sự đổ nát hoang tàn sau chiến tranh, chỉ có 3 thập kỷ Nhật Bản đã có được bước tiến thần kỳ. Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cũng kéo theo nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Quá trình đô thị hoá nhanh, tăng nhu cầu lao động ở các khu công nghiệp tập trung... đòi hỏi phải có những thay đổi về chế độ phúc lợi xã hội để phù hợp với tình hình thực tế. Việc thu hút lực lượng lao động đông đảo vào các đô thị đã phá vỡ cấu trúc xã hội gia đình truyền thống. Kinh tế thị trường với những mặt trái của nó đã làm nảy sinh các hiện tượng mà buộc xã hội phải quan tâm. Đó là tầng lớp không có cơ may, không đủ khả năng để lao vào cơn xoáy của thị trường. Số lượng người già, những người tàn tật, phụ nữ... khá đông đảo bị gạt ra khỏi cơn lốc đó. Trong khi chi phí cho cuộc sống ngày càng đắt đỏ, thu nhập của họ không đủ để trang trải thì yêu cầu về hỗ trợ của xã hội ngày càng đòi hỏi cao hơn. Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, khoảng cách chênh lệch về thu nhập và chất lượng cuộc sống giữa các tầng lớp dân cư ngày càng tăng. Đối với những người không có cơ may thì biên độ này ngày càng lớn hơn. Bản thân các chế độ phúc lợi xã hội dù đã đảm bảo để người dân có được cuộc sống tối thiểu, nhưng với sự biến đổi mạnh mẽ của thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh, các chế độ phúc lợi không đủ để coi là cái lưới an toàn cho xã hội. Vì vậy, khi nhu cầu trợ giúp của mọi người dần tăng lên thì cần thiết phải có sự sửa đổi và điều chỉnh các chế độ phúc lợi.
Để bổ sung và hoàn thiện các qui định pháp lý và triển khai thực hiện các chế độ phúc lợi xã hội chính phủ đã ban hành hàng loạt văn bản: luật phúc lợi cho người tâm thần (1960), luật phúc lợi cho người già (1963), phúc lợi cho trẻ em (1964). Ba luật này cùng với ba luật trước đây tạo thành một bộ 6 luật khá hoàn chỉnh về chế độ phúc lợi xã hội. Ngoài ra, cũng ở giai đoạn này một số chế độ mới được qui định đối với bà mẹ trẻ em và người già. Chẳng hạn, luật về chế độ phụ cấp trẻ em năm 1971, hoặc cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho người già năm 1973.
Xem xét các hoạt động phúc lợi và hình thức của nó phải nói rằng thời kỳ này được bổ sung khá đầy đủ ở một số khía cạnh sau:
Trước hết, đối tượng phúc lợi xã hội ở thời kỳ này được mở rộng. Nếu trước đây số người được hưởng chế độ trợ cấp chỉ giới hạn ở một số lượng không lớn thì nay được mở rộng. Chẳng hạn, năm 1973 tỷ lệ người được hưởng bảo hiểm y tế tăng từ 50% lên 60% số người được hưởng, tăng 2,5 lần mức trợ cấp quốc dân và bổ sung chính sách chống nghèo đói thông qua chế độ qui định mức trượt giá[2].
Nét nổi bật thứ hai của chế độ phúc lợi thời kỳ này là các hình thức phúc lợi được mở rộng và đa dạng hoá. Trong cả nước đã bắt đầu xuất hiện nhiều dịch vụ mới mà trước đây chưa có: chăm sóc tình nguyện, phục vụ tại nhà, nuôi dưỡng người già. Nhà nước đầu tư xây dựng thêm các cơ sở phúc lợi xã hội nhất là các trung tâm dưỡng lão: nếu năm 1963 chỉ có 1 cơ sở thì đến năm 1970 đã có tới 152 cơ sở. Người già đã trở thành một vấn đề trong chương trình nghị sự của chính phủ. Ngoài các cơ sở phúc lợi của nhà nước, các hoạt động của tư nhân về lĩnh vực này cũng được mở rộng, xuất hiện các tổ hợp phúc lợi xã hội do tư nhân thành lập và quản lý.
Cuối cùng, cần phải nhấn mạnh ở giai đoạn này đã có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu tổ chức và trách nhiệm trong việc giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội. Nhà nước Trung ương bắt đầu giao dần việc quản lý phúc lợi cho các địa phương. Trên thực tế các địa phương tỏ ra linh hoạt và có ưu thế trong việc giải quyết tốt các vấn đề mới phát sinh. Các hoạt động phúc lợi ở địa phương rất đa dạng và họ đã tìm được cách giải quyết phù hợp với điều kiện của mình. Bản thân người dân cảm thấy thuận tiện, thoả mãn khi các nhu cầu của mình được đáp ứng ở nơi mình sinh sống.
Thực tế, các chế độ phụ cấp cho trẻ em, dịch vụ y tế miễn phí cho người già được áp dụng ở các địa phương và đưa lại kết quả tốt và về sau trở thành chế độ phúc lợi chung cho cả nước. Việc cải cách quản lý phúc lợi xã hội bằng cách giao cho chính quyền địa phương thực hiện đã huy động được các nguồn lực, bảo đảm ổn định hài hoà và kết quả là người dân có thể hưởng được các chế độ đó một cách tốt nhất. Có thể coi giai đoạn này là thời kỳ thử nghiệm và mở rộng các chế độ phúc lợi xã hội và tạo lập các điều kiện cần thiết để đưa hoạt động này ngày càng tăng cường cả về số lượng và chất lượng.
c) Thời kỳ từ năm 1973 đến nay
Hơn ba thập kỷ duy trì được tốc độ tăng trưởng cao liên tục, cho đến đầu những năm 70 Nhật Bản đã dần dần thu hẹp khoảng cách với các nước hàng đầu của thế giới tư bản chủ nghĩa. Một khi kinh tế phát triển thì kéo theo nó là sự biến đổi các mặt của đời sống xã hội. Thu nhập tăng, cuộc sống của người dân được cải thiện, và luôn có nhu cầu được hưởng thụ và phục vụ tốt hơn. Đồng thời xã hội cũng có điều kiện để giúp đỡ những người không có cơ may. Trên thực tế, vào thời điểm này dù Nhật Bản đạt được tốc độ tăng trưởng cao song vẫn là “chú lùn” trong lĩnh vực phúc lợi xã hội. Đây luôn là lĩnh vực nóng bỏng của đấu tranh xã hội. Các thành quả phúc lợi xã hội được hình thành thông qua các sáng kiến và đấu tranh giữa các nhóm lợi ích xã hội khác nhau. Để khắc phục sự yếu kém về phúc lợi xã hội, chính phủ Nhật Bản đã coi năm 1973 là năm đầu tiên của “thời đại phúc lợi” và là điểm xuất phát để đuổi kịp các nước tiên tiến. Dự định này bước đầu không được thực hiện suôn sẻ bởi “cú sốc” dầu mỏ đánh mạnh vào nền kinh tế Nhật Bản. Tình thế mới buộc chính phủ phải tập trung các nỗ lực đối phó để nhanh chóng khắc phục khó khăn. Để phù hợp với tình hình nhà nước đã phải tiến hành điều chỉnh và cải cách một số nội dung của chế độ phúc lợi xã hội phù hợp với nhu cầu về phúc lợi xã hội tăng nhanh.
Những điều chỉnh có thể nhận thấy ở việc thay đổi một số qui định về mức trợ cấp. Chẳng hạn, giảm tỷ lệ do nhà nước cung cấp đối với chế độ bảo đảm cuộc sống từ 8/10 xuống 7/10, với các dịch vụ phúc lợi xã hội từ 8/10 xuống 5/10 (năm 1986) hoặc năm 1989 tỷ lệ kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước và địa phương là 7,5/2,5 với đảm bảo xã hội và 5/5 với dịch vụ phúc lợi. Rõ ràng, phần gánh nặng đã được giao cho các địa phương. Điều này tạo nên sự chênh lệch về việc cung cấp các dịch vụ nhất là với địa phương nghèo.
Một số qui định về y tế bảo hiểm với người già cũng thay đổi. Chẳng hạn, tỷ lệ chi tiêu của người dân trong bảo hiểm y tế là 10% (xoá bỏ chế độ miễn phí cho người già), tăng phụ cấp đối với các bà mẹ sinh con thứ hai, hoặc từ năm 1986 giảm phụ cấp tuổi thọ.
Tuy vậy, cũng cần phải thấy rằng mặc dù phải điều chỉnh, nhất là chi tiêu song nhìn chung tỷ lệ chi cho đảm bảo xã hội vẫn có xu hướng tăng. Chẳng hạn, chi tiêu cho đảm bảo xã hội của Nhật Bản năm 1973 là 6,1 tỷ yên chiếm 6,38% GNP, năm 1975 là 11,7 tỷ yên (9,41% GNP) năm 1985 là 35,6 tỷ yên (14,01% GNP) và năm 1989 là 44,6 tỷ yên (14,02% GNP)[3].
Một nội dung cải cách và điều chỉnh ở giai đoạn này là nhà nước đã tiến hành đa dạng hoá các hoạt động phúc lợi. Nhà nước khuyến khích sự tham gia của tư nhân và cộng đồng vào lĩnh vực này. Thực tế hoạt động của tư nhân khá tốt, vì vậy người dân rất hài lòng khi mở rộng các dạng dịch vụ này. Đồng thời cũng xuất hiện loại hình phúc lợi xã hội kết hợp giữa tư nhân và nhà nước, trong đó chi phí đầu tư do nhà nước và điều hành do tư nhân. Để thúc đẩy các hoạt động phúc lợi, nhà nước đã ban hành một số qui định và chủ trương như: “Chương trình 10 năm bảo đảm phúc lợi cho người già” thành lập quĩ hoạt động chăm sóc sức khoẻ (1/8/1989), thành lập hiệp hội phúc lợi xã hội (1/4/1990).
Những điều chỉnh và cải cách về chế độ phúc lợi mà Nhật Bản đã tiến hành đã đưa lại nhiều kết quả tốt. Song sự biến đổi kinh tế xã hội luôn đặt ra trước những nhà lãnh đạo phải quan tâm giải quyết để có được một chế độ phúc lợi xã hội phù hợp. Đây là nhiệm vụ thường xuyên và hết sức cấp bách ngay cả hiện nay khi Nhật Bản sau một thời gian suy thoái đã phục hồi và đang hy vọng nâng cao vị thế của mình không chỉ riêng kinh tế mà ở nhiều lĩnh vực trong đó có phúc lợi xã hội. Để hiểu biết thêm về hoạt động cụ thể của phúc lợi xã hội Nhật Bản chúng ta sẽ lần lượt xem xét các hình thức biện pháp mà nước này đã và đang thực hiện.
[1] Lê Văn Sang – Lưu Ngọc Trịnh: Đường đi tới một siêu cường kinh tế, NXB KHXH, 1991, tr.114
[2] Nguồn: Động hướng phúc lợi quốc dân năm 1994, số 12, t.41. Hiệp hội thống kê y tế và phúc lợi Nhật Bản.
[3] Nguồn: The Journal of Economic Vol, XXII No 3-5, 1992.