1. Đặt vấn đề
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sớm, xuyên suốt đến tận cuối đời không chỉ vấn đề Đảng lãnh đạo mà còn là Đảng cầm quyền. Trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng, ngay từ những bài giảng đầu tiên cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam, khi nói về cách mạng tháng mười Nga năm 1917, Người đã nhắc tới Đảng cầm quyền: “Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”[1]. Khi Đảng lãnh đạo trở thành Đảng cầm quyền sứ mệnh của Đảng không chỉ trong nội bộ Đảng mà còn phải chịu trách nhiệm với mọi an nguy của Tổ quốc và dân tộc, không chỉ giữ vững độc lập dân tộc mà phải đảm bảo tự do, hạnh phúc cho nhân dân, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải có một đường lối chính trị đúng đắn, sáng suốt. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền, làm rõ vai trò thành tố và giải quyết mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là một vấn đề lớn, rất quan trọng. Bời vì giải quyết tốt vấn đề này thì bảo đảm được vai trò lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền, phát huy được vai trò sức mạnh của nhân dân, tránh chuyên quyền, độc đoán của Đảng.
Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế để lãnh đạo đất nước phát triển. Đây là tính tất yếu để sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được hợp hiến, hợp pháp, khoa học, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại. Một thể chế lãnh đạo, cầm quyền được hoàn thiện sẽ là cơ sở vững chắc để Đảng phát huy vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo toàn xã hội; tạo lập môi trường thể chế minh bạch, đồng bộ, vận hành thông suốt và có kiểm soát quyền lực hiệu quả. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng - một nhân tố then chốt bảo đảm cho sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước. Hoàn thiện thể chế còn là đòi hỏi cấp bách để Đảng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, cũng như để xử lý hiệu quả các vấn đề mới phát sinh trong quá trình phát triển đất nước, từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng, đến những vấn đề rủi ro, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền không chỉ là nhiệm vụ lý luận - chính trị có ý nghĩa chiến lược lâu dài, mà còn là yêu cầu thực tiễn mang tính thời sự, cấp bách, đòi hỏi Đảng ta phải chủ động đổi mới tư duy, kiên quyết hành động và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết.
2. Tính tất yếu của việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam hiện nay
Một là, xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền hiện nay. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò là lực lượng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện đối với Nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo đó là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, từ công cuộc giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cho đến xây dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập quốc tế ngày nay. Tuy nhiên, vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là một thực thể bất biến, mà luôn đòi hỏi phải được bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện, cả về lý luận lẫn phương thức, cơ chế thực thi. Trong bối cảnh đất nước đang chuyển mạnh sang giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thể chế, năng lực lãnh đạo và hiệu quả điều hành, thì việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền không còn là lựa chọn, mà là một tất yếu khách quan.
Việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền không chỉ mang ý nghĩa nội bộ trong tổ chức Đảng, mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, nâng cao hiệu quả lãnh đạo quốc gia, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng. Hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền để đảm bảo vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong bối cảnh phức tạp hiện nay. Khi các thế lực thù địch tăng cường chống phá về tư tưởng, đạo đức, chính trị, việc hoàn thiện thể chế sẽ giúp Đảng củng cố sự đoàn kết, niềm tin và nâng cao năng lực lãnh đạo. Bên cạnh đó còn tăng cường tính minh bạch, khoa học trong điều hành và quản lý xã hội. Thể chế lãnh đạo, cầm quyền được hoàn thiện sẽ làm rõ chức năng, nhiệm vụ giữa Đảng và nhà nước, tránh chồng chéo, bao biện hay can thiệp hành chính. Qua đó, đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực của hệ thống chính trị. Hoàn thiện thể thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để nhà nước thực sự “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, thì Đảng cần lãnh đạo trên nguyên tắc pháp quyền, với hệ giá trị dân chủ, nhân văn, hiệu quả. Hoàn thiện thể thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền góp phần phòng, chống suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong Đảng. Khi thể chế được quy định rõ, minh bạch và có cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả, thì sẽ hạn chế được nguy cơ lợi dụng quyền lực, tham nhũng, lãng phí, đồng thời tăng cường kỷ luật trong Đảng.
Nhận thức rõ hơn, hiểu đúng hơn để thấy được tầm quan trọng về thể chế Đảng cầm quyền là hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, cơ chế tổ chức và vận hành quyền lực chính trị của Đảng trong mối quan hệ với Nhà nước, xã hội và nhân dân. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ là vấn đề kỹ thuật hành chính hay cải cách tổ chức, mà là yêu cầu có tính chiến lược nhằm khắc phục những khoảng trống, sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các thiết chế quyền lực, từ đó tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Hai là, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, đặt ra một cách khách quan và cấp thiết việc phải tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cạnh tranh toàn cầu khốc liệt và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ. Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, toàn cầu hóa và chuyển đổi mô hình phát triển - đang đặt ra những thách thức to lớn và chưa từng có tiền lệ đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng hùng cường, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển. Trong bối cảnh đó, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ cần đúng đắn về đường lối mà còn phải được thể chế hóa bằng cơ chế rõ ràng, minh bạch, có tính thực thi cao và kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Yêu cầu đặt ra là Đảng phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động gắn kết với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cần bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện, nhưng đồng thời phải tôn trọng nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, bảo đảm kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm giải trình.
Một thể chế hiện đại không thể dừng lại ở việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng về mặt chính trị, mà cần cụ thể hóa bằng các thiết chế, quy tắc, cơ chế vận hành đồng bộ giữa Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước. Cần xác lập rõ trách nhiệm chính trị và pháp lý trong các quyết định lãnh đạo, bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay, không bao biện, không áp đặt hành chính trong hoạt động của Nhà nước. Điều đó cũng đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp lãnh đạo theo hướng “lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, định hướng lớn và kiểm tra việc thực hiện”, đồng thời tôn trọng và tạo điều kiện cho Nhà nước chủ động tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời kỳ biến động lớn, khó lường, việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền không còn là lựa chọn, mà là mệnh lệnh từ thực tiễn, từ yêu cầu phát triển và từ khát vọng vươn lên của dân tộc. Bài học từ chính lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy: Mỗi bước tiến lớn của đất nước đều gắn liền với sự đổi mới trong tư duy lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng. Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền cũng cần thích nghi nhanh với phương thức lãnh đạo, cầm quyền mới: lấy dữ liệu làm nền tảng, ứng dụng công nghệ số trong ra quyết định, dự báo và điều hành chính sách. Đây không chỉ là yêu cầu về năng lực lãnh đạo, mà còn là thách thức về khả năng chuyển hóa tư duy lãnh đạo từ “quản lý theo mệnh lệnh hành chính” sang “lãnh đạo theo chiến lược dựa trên dữ liệu, minh bạch và có sự tham gia”. Trong thời đại chuyển đổi số, một thể chế lãnh đạo hiệu quả còn đòi hỏi Đảng phải đi đầu trong cải cách thể chế, xây dựng hệ sinh thái lãnh đạo dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Việc ra quyết định lãnh đạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm hay cảm tính chính trị, mà cần phải có căn cứ khoa học, phân tích số liệu, lắng nghe phản hồi xã hội và thực tiễn quản trị toàn cầu. Thể chế lãnh đạo trong kỷ nguyên số chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh chính trị và trí tuệ công nghệ, giữa tính nguyên tắc của Đảng và tinh thần cải tiến không ngừng của thời đại.
Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam, nơi khát vọng phát triển đất nước “hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc” được xác lập rõ ràng hơn bao giờ hết - yêu cầu cấp thiết được đặt ra là: phải hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền như một nền tảng bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững và toàn diện của quốc gia. Đây là kỷ nguyên mà bối cảnh, yêu cầu và mục tiêu phát triển đất nước đang có những chuyển dịch căn bản. Chúng ta không chỉ hướng tới tăng trưởng về kinh tế, mà còn hướng tới phát triển con người, nâng cao chất lượng thể chế, giữ vững bản sắc dân tộc trong hội nhập, phát triển bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế tri thức, và thích ứng với các biến đổi toàn cầu. Trong hành trình đó, một thể chế lãnh đạo, cầm quyền hiện đại, dân chủ, hiệu lực và hiệu quả chính là “trục xoay” bảo đảm cho sự chuyển mình của đất nước diễn ra thuận lợi, đúng hướng và bền vững.
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khi tầm vóc quốc gia và vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh thể chế khốc liệt, thì thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng chính là “điểm tựa chiến lược” để Việt Nam bứt phá, chinh phục những đỉnh cao mới. Hoàn thiện thể chế không đơn thuần là cải cách kỹ thuật hay tổ chức nội bộ, mà là một hành động chính trị cấp tiến, đầy bản lĩnh và tầm nhìn, thể hiện trách nhiệm lịch sử của Đảng với dân tộc, với tương lai đất nước.
Ba là, xuất phát từ thực trạng hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam trong thời gian qua. Hơn 95 năm lãnh đạo, 80 năm cầm quyền, dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch. Từ một nước nghèo nàn, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đén nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Thực tiễn đó đã khẳng định một chân lý ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”[2].
Một trong những ưu điểm nổi bật là việc Đảng ngày càng nâng cao tính chính danh và hiệu lực lãnh đạo của mình thông qua các văn kiện nền tảng, đặc biệt là việc khẳng định vị thế trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 4), góp phần củng cố lòng tin chính trị trong xã hội. Đồng thời, Đảng đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ và thực tiễn hơn; từ lãnh đạo trực tiếp, can thiệp hành chính sang lãnh đạo thông qua cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết và quy chế phối hợp. Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học và thực tiễn. Đảng đã chuyển từ phương thức lãnh đạo trực tiếp, bao biện sang lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, cương lĩnh, nghị quyết. Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2022 về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị. Đảng đã ban hành các quy chế phối hợp giữa cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, giữa Đảng và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất trong lãnh đạo và quản lý. Việc thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII đã góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng trong xây dựng, củng cố vai trò lãnh đạo, cầm quyền, Đảng cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức. Còn thiếu một hệ thống lý luận đầy đủ, sâu sắc và hiện đại về thể chế Đảng cầm quyền trong điều kiện mới. Các văn kiện của Đảng tuy đã đề cập khái niệm “Đảng cầm quyền”, nhưng nhiều nội dung chưa được cụ thể hóa thành mô hình tổ chức, cơ chế vận hành và chuẩn mực hành vi cụ thể. Điều này gây khó khăn trong thực hiện đồng bộ giữa các cấp, nhất là ở cấp cơ sở. Ranh giới giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước vẫn còn chồng lấn. Trong thực tiễn, có nơi cấp ủy can thiệp quá sâu vào công việc điều hành của chính quyền; ngược lại, có nơi chính quyền không chủ động, ỷ lại vào cấp ủy, dẫn đến tình trạng “vừa làm, vừa chờ chỉ đạo”. Hệ quả là hiệu quả quản lý nhà nước bị ảnh hưởng, cơ chế phân cấp, phân quyền không phát huy hết vai trò. việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và sự thay đổi nhận thức, nhu cầu của người dân. Một số tổ chức đảng cơ sở vẫn còn hoạt động hình thức, nặng về hành chính, chưa gần dân, sát dân; chưa thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị. Thực trạng này dễ dẫn đến nguy cơ xa rời quần chúng - điều từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo như một biểu hiện của suy thoái. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lạm quyền chưa được ngăn chặn triệt để. Những bất cập đó nếu không sớm được thể chế hóa bằng các quy định cụ thể, minh bạch, có tính ràng buộc pháp lý và kỷ luật nghiêm minh, sẽ dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng, làm suy giảm lòng tin của Nhân dân, ảnh hưởng đến tính chính danh và vai trò cầm quyền của Đảng.
Vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau liên quan đến chức năng lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. Một số ý kiến cho rằng “lãnh đạo” là chức năng, nhiệm vụ xuyên suốt của Đảng, bao gồm cả giai đoạn đấu tranh giành chính quyền và giai đoạn sau khi đã giành được chính quyền. Theo quan điểm này, khái niệm “Đảng lãnh đạo” có nội hàm rộng hơn so với “Đảng cầm quyền”. Trong khi đó, có ý kiến khác cho rằng, “lãnh đạo” không nhất thiết gắn liền với quyền lực chính trị, mà chủ yếu là sự tác động, định hướng, tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhằm tạo ảnh hưởng của Đảng đối với hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân. Một số nhà nghiên cứu tiếp cận sâu hơn từ góc độ học thuật lại cho rằng, khái niệm “Đảng cầm quyền” gắn liền với việc Đảng nắm giữ quyền lực chính trị sau khi giành được chính quyền; điều này bao hàm năng lực lãnh đạo và khả năng điều hành, kiểm soát của Đảng đối với bộ máy nhà nước. Do đó, sau khi đã giành chính quyền, cần nhấn mạnh rõ vai trò, trách nhiệm và phương thức để Đảng thực thi quyền cầm quyền. Nếu chỉ đề cập đến vai trò “lãnh đạo” theo nghĩa chung, thì chưa phản ánh đầy đủ trách nhiệm cầm quyền của Đảng trong bối cảnh hiện nay.
Từ thực trạng trên đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện một cách căn bản, toàn diện và thực chất thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền, xem đây là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, có tính nền tảng trong quá trình xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Sự hoàn thiện này không chỉ nhằm nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, mà còn là điều kiện để Đảng lãnh đạo đúng pháp luật, đúng chức năng, đúng vị trí - từ đó giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, nhưng trong một thiết chế hiện đại, dân chủ, hiệu quả và được nhân dân đồng thuận, ủng hộ.
Bốn là, xuất phát từ yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần phải hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một nhiệm vụ chiến lược, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình cách mạng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - khi duy nhất một Đảng cầm quyền, đối mặt với không ít nguy cơ từ bên trong như suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và từ bên ngoài như sự chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch. Trong bối cảnh ấy, việc hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là một giải pháp mang tính nền tảng để làm trong sạch đội ngũ, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao năng lực và uy tín của Đảng trong lòng nhân dân.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, mặc dù Đảng ta đã có nhiều nỗ lực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng - thể hiện rõ qua các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và XIII - nhưng những hạn chế, yếu kém vẫn tồn tại. Một trong những nguyên nhân sâu xa chính là do thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và hiệu quả. Nhiều nguyên tắc được khẳng định trong văn kiện như: tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; dân chủ trong sinh hoạt Đảng; kiểm tra, giám sát, kỷ luật nghiêm minh… chưa được thể chế hóa cụ thể bằng cơ chế vận hành, chế tài kiểm soát và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Chẳng hạn, ở một số nơi, tình trạng lạm dụng quyền lực, quyết định thiếu minh bạch, lợi dụng vai trò lãnh đạo của Đảng để hợp thức hóa các hành vi tư lợi, “chạy chức, chạy quyền”, thao túng tổ chức vẫn diễn ra. Điều đó cho thấy, nếu không có thể chế lãnh đạo chặt chẽ, rõ ràng và có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, thì dù có nhiều nghị quyết hay, quyết tâm chính trị cao, cũng rất khó để thực thi hiệu quả và bền vững việc chỉnh đốn tổ chức Đảng.
Đồng thời, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay không chỉ là “chống tiêu cực”, mà còn là xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Để làm được điều đó, cần có một khuôn khổ thể chế giúp chuẩn hóa: Quy trình ra quyết sách lãnh đạo của Đảng gắn với phân tích chính sách, đánh giá tác động; Cơ chế phối hợp giữa Đảng và hệ thống chính quyền, bảo đảm Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay; Mối quan hệ giữa kiểm tra, giám sát nội bộ với sự phản biện của nhân dân và báo chí; Trách nhiệm giải trình của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu trước tổ chức Đảng và trước nhân dân.
Trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay đang từng bước hoàn thiện về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, còn nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng trong điều kiện hiện này cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện. Trên cơ sở đó sẽ phải xây dựng được thể chế cả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để từng bước xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong sạch, vững mạnh và ngăn chặn kịp thời tiêu cực trong nội bộ Đảng. Một Đảng cầm quyền muốn vững mạnh lâu dài thì trước hết phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới và muốn chỉnh đốn hiệu quả thì không thể không dựa vào một hệ thống thể chế nghiêm ngặt, chặt chẽ, rõ vai - đúng trách nhiệm. Nếu như trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng chủ yếu dựa vào niềm tin lý tưởng và sự hy sinh quên mình của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thì trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, sự suy thoái, lợi dụng quyền lực và “chủ nghĩa cá nhân” là những nguy cơ hiện hữu, khó phát hiện và dễ lan rộng nếu thiếu cơ chế kiểm soát. Việc nhiều cán bộ cấp cao - kể cả trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư - bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự trong thời gian qua không chỉ cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng, mà còn phản ánh khoảng trống trong kiểm soát quyền lực và sự bất cập trong thể chế cầm quyền. Không thể trông đợi vào đạo đức cá nhân như một “lá chắn” duy nhất để phòng chống suy thoái trong một tổ chức cầm quyền có quy mô lớn như Đảng. Do đó, Đảng phải xây dựng một hệ thống “luật chơi nội bộ” đủ mạnh - một hệ thống thể chế từ quy định, quy chế, nguyên tắc, chế tài... có giá trị ràng buộc thực tế và khả năng áp dụng cao.
Không thể xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách bền vững nếu vẫn để tồn tại những “vùng trũng thể chế”, nơi mà các quy tắc vận hành quyền lực chưa đủ minh bạch, trách nhiệm chưa được ràng buộc rõ ràng và quyền lực chưa được kiểm soát hiệu quả. Đã đến lúc, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được nâng lên tầm thể chế - tức là phải song hành với việc thiết lập một “hệ điều hành chính trị” mang tính khoa học, có khả năng quản trị quyền lực hiệu quả, từ Trung ương đến cơ sở.
Năm là, xuất phát từ quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Một trong những yêu cầu có tính chất nền tảng và lâu dài đặt ra đối với việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền hiện nay chính là đòi hỏi từ quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - một mô hình nhà nước đặc thù, mang bản sắc riêng, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử chính trị thế giới. Trong mô hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối Nhà nước và xã hội, nhưng đồng thời phải đảm bảo tính pháp quyền, dân chủ, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không thể là sự áp đặt từ trên xuống hay mang tính chất mệnh lệnh hành chính thuần túy, mà phải được chế định bằng cơ chế, quy trình, quy định cụ thể - tức là được “thể chế hóa” một cách rõ ràng, minh bạch và hiệu quả.
Từ góc độ lý luận, Đảng lãnh đạo thông qua Cương lĩnh, đường lối, thông qua công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, qua việc định hướng hoạt động của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nếu không có một hệ thống thể chế đầy đủ để chuyển hóa vai trò lãnh đạo ấy thành các nguyên tắc, quy tắc, cơ chế vận hành cụ thể, thì dễ dẫn đến các biểu hiện của sự chồng chéo chức năng, làm thay công việc của Nhà nước, hoặc can thiệp sâu vào công việc của chính quyền các cấp, làm mờ ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý, giữa định hướng chính trị và hành động hành chính. Sự thiếu đồng bộ hoặc không rõ ràng trong thể chế lãnh đạo có thể khiến cho cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bị lệch pha, vận hành thiếu hiệu lực, thiếu hiệu quả. Trong khi đó, một Nhà nước pháp quyền hiện đại đòi hỏi mỗi chủ thể trong hệ thống chính trị phải được định vị đúng vai trò, giới hạn quyền lực, cơ chế phối hợp và giám sát lẫn nhau một cách chặt chẽ. Điều này không chỉ nhằm phòng ngừa lạm quyền, tha hóa quyền lực mà còn để đảm bảo rằng mọi hoạt động lãnh đạo của Đảng đều gắn chặt với thực tiễn, phản ánh đúng yêu cầu khách quan, hợp lòng dân và được kiểm nghiệm bằng hiệu quả lãnh đạo quốc gia.
Thực tế hiện nay cho thấy, vẫn còn tồn tại không ít bất cập trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở các cấp. Ở một số nơi, vai trò lãnh đạo của Đảng bị “hành chính hóa”, “mệnh lệnh hóa”, dẫn đến tình trạng Đảng làm thay Nhà nước, hoặc “nhúng sâu” vào hoạt động quản lý hành chính. Ngược lại, cũng có nơi, chính quyền né tránh trách nhiệm, đổ lỗi cho sự “chỉ đạo của cấp ủy”, làm suy giảm hiệu quả lãnh đạo. Những hiện tượng này là biểu hiện trực tiếp của sự thiếu rõ ràng trong thiết kế thể chế Đảng lãnh đạo, khiến cho tính pháp quyền của Nhà nước không được bảo đảm đầy đủ và có thể dẫn đến sự phai nhạt niềm tin của nhân dân nếu không được điều chỉnh kịp thời. Do đó, trong bối cảnh hiện nay, việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền không chỉ là yêu cầu cải cách bộ máy chính trị, mà còn là một đòi hỏi tất yếu để hiện thực hóa mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN.
Hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trong Nhà nước pháp quyền XHCN không chỉ là giải pháp kỹ thuật hành chính hay quy định nội bộ, mà còn là một đòi hỏi có tính chiến lược về đổi mới tư duy chính trị và phương thức cầm quyền. Đó là quá trình chuyển từ phương thức lãnh đạo bằng mệnh lệnh, chỉ đạo hành chính sang lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, bằng chất lượng cán bộ, bằng sự gương mẫu đạo đức và hiệu quả thực thi. Trong bối cảnh xã hội dân trí ngày càng cao, truyền thông phát triển mạnh, mạng xã hội lan tỏa nhanh, thì mọi quyết sách lãnh đạo của Đảng đều được đặt dưới lăng kính quan sát, đánh giá khắt khe từ nhân dân. Nếu không có thể chế lãnh đạo rõ ràng, có tính giải trình và minh bạch, thì rất dễ bị hiểu lầm, xuyên tạc, thậm chí bị lợi dụng để chống phá.
Sáu là, xuất phát từ sự chống phá của các thế lực thù địch yêu cầu cần phải hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền trong điều kiện một Đảng cầm quyền hiện nay. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền đến nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chưa lúc nào ngừng chống phá, đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chống phá dưới mọi hình thức đó ngày càng tinh vi hơn, từ hình thức vũ trang, ám sát đã chuyển sang núp dưới hình thức “diễn biễn hoà bình”, nhất là thông qua internet, các trang báo mạng phản động để đăng tải những thông tin chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đòi xoá bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 - mà thực chất, là xoá bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi dân chủ, đa đảng (? !). Họ cho rằng, Điều 4 Hiến pháp 2013 khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã phủ định vai trò của nhân dân trong việc chọn lựa đảng cầm quyền thông qua bầu cử, cũng như phủ định vai trò của nhân dân trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, là trái với nguyên tắc của một thể chế nhà nước dân chủ? Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng tập trung xuyên tạc, thổi phồng các mặt yếu kém, bất cập trong đời sống kinh tế - xã hội, cố ý bôi nhọ, hạ thấp những thành quả to lớn của đất nước đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng; đánh lạc hướng dư luận, gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhân dân. Từ đó, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh việc tuyên truyền, kích động, xúi giục việc chống phá Đảng, Nhà nước ta, ... Trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền, các thế lực thù địch cố gắng bóp méo thông tin về các cải cách, cho rằng Đảng sử dụng thể chế này để duy trì quyền lực, kiểm soát xã hội một cách toàn diện. Họ phê phán các quyết sách của Đảng là “thiếu dân chủ”, “bóp nghẹt quyền tự do” và “không thực hiện cải cách thực sự”. Các thế lực thù địch thường xuyên chỉ trích rằng quá trình cải cách và hoàn thiện thể chế của Đảng không thực chất và chỉ là một hình thức duy trì quyền lực. Họ thường xuyên phê phán những nỗ lực cải cách hành chính, tư pháp, kinh tế và những dự thảo chính sách của Đảng là những bước đi nửa vời, thiếu quyết tâm thực hiện. Những cuộc đấu tranh nội bộ, nhất là trong lĩnh vực chống tham nhũng, cũng bị lợi dụng để xuyên tạc rằng Đảng đang “thanh trừng” những đối thủ chính trị.
Trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải không ngừng hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền để vừa khẳng định tính chính danh, chính đáng của Đảng, vừa nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả lãnh đạo, từ đó tạo thế chủ động về chính trị - tư tưởng trong bảo vệ nền tảng và phát triển đất nước. Hoàn thiện thể chế cũng chính là cách để Đảng chủ động truyền thông, phản bác các luận điệu sai trái bằng thực tiễn đổi mới và hiệu quả lãnh đạo đất nước. Một thể chế tốt sẽ làm nổi bật năng lực tổ chức, điều hành đất nước của Đảng, qua đó bác bỏ những luận điệu cho rằng Đảng độc quyền, cầm quyền không có đối trọng nên dễ tha hóa.
Thể chế lãnh đạo là khuôn khổ giúp Đảng định hướng phát triển đất nước một cách nhất quán, linh hoạt, đúng đắn. Thể chế cầm quyền là hệ thống quy định, nguyên tắc, cơ chế tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm Đảng thực thi quyền lực chính trị một cách hợp pháp, chính danh, hiệu quả và được nhân dân thừa nhận. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này, vai trò cầm quyền của Đảng sẽ suy yếu, dễ rơi vào hai thái cực: hoặc là bao biện, làm thay Nhà nước; hoặc là buông lỏng, không kiểm soát được đội ngũ, dẫn đến suy thoái, tham nhũng, giảm uy tín trong nhân dâng. Chính vì vậy, hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cần được xác định như một trụ cột trong chiến lược xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Đây là điều kiện để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo và bản lĩnh cầm quyền trong tình hình mới; là tiền đề để phát huy vai trò của Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất, hiệu quả./.
Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, H.2011,t2, tr.303 - 304
2. Viện khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Đảng cầm quyền trong thời đại ngày nay và những vấn đề rút ra cho công cuộc đổi mới chỉnh đốn Đảng ta. Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ thuộc kế hoạch khoa học 1993 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3. PGS,TS. Dương Trung Ý, “Những thành tựu và một số hạn chế, bất cập trong phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”, Tạp chí Cộng sản (24/10/2021).
4. PGS,TS. Nguyễn Trọng Phúc, “Đại hội XIII với nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 1/2021.
5. PGS,TS. Trần Khắc Việt: Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận, Tạp chí Lý luận chính trị, số 528 (2/2022).
6. PGS,TS. Nguyễn Minh Tuấn, “Khái niệm Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền và mục đích lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, Tạp chí Lý luận Chính trị (số 530 (4/2022).
7. TS. Trần Thị Nhẫn, “Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản (30/01/2024).
8. PGS,TS. Bùi Đình Phong, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng (3/2/2023).
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, H.2011,t2, tr.303 - 304
[2] Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm 2024, Thanh tra Chính phủ và Thanh tra các bộ, ngành, địa phương bám sát định hướng chương trình thanh tra và sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực các cấp, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan hành chính xây dựng và triển khai kế hoạch thanh tra và thanh tra đột xuất. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 20/10/2023 về chấn chỉnh, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ; chỉ đạo thanh tra một số lĩnh vực có nguy cơ phát sinh tham nhũng cao; đã chỉ đạo xử lý nhiều kết luận thanh tra và xử lý sau thanh tra, xử lý kỷ luật nghiêm đối với những tổ chức, cá nhân vi phạm.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật về THTK, CLP theo Nghị quyết 74/2022/QH15 của Quốc hội. Trong công tác xây dựng Định hướng chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm đã lồng ghép nội dung thanh tra, kiểm tra THTK, CLP vào nội dung thanh tra, kiểm tra trách nhiệm, hành chính. Trong đó, chú trọng lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dụng, tài chính công, tài nguyên, khoáng sản... với tinh thần quyết liệt, sai đến đâu kiến nghị xử lý tới đó, áp dụng kịp thời các biện pháp theo thẩm quyền nhằm phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; thu hồi tiền, tài sản nhà nước do các tổ chức, cá nhân, cơ quan, đơn vị gây ra.
Đẩy nhanh tiến độ ban hành kết luận thanh tra; nâng cao chất lượng kết luận thanh tra, đảm bảo chặt chẽ, khách quan, kịp thời và khả thi; xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật đối với tập thể, cá nhân vi phạm pháp luật; quan tâm kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật trên lĩnh vực được thanh tra. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kết luận thanh tra. Kết quả công tác thanh tra tiếp tục đóng góp quan trọng trong công tác phòng, chống lãng phí và góp phần tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong năm 2024, ngành Thanh tra cả nước đã triển khai 6.673 cuộc thanh tra hành chính và 118.983 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành (đã lồng ghép nội dung thanh tra THTK, CLP vào nội dung thanh tra trách nhiệm, thanh tra hành chính); phát hiện vi phạm về kinh tế 157.585 tỷ đồng, 245 ha đất; kiến nghị thu hồi 85.403 tỷ đồng (trong đó thu hồi về NSNN 20.467 tỷ đồng, thu hồi về tổ chức, đơn vị 64.935 tỷ đồng) và thu hồi 41 ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán do chưa thực hiện đúng quy định và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 72.183 tỷ đồng, 204 ha đất; ban hành 105.108 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân, với số tiền 4.150 tỷ đồng; kiến nghị xem xét, xử lý hành chính đối với 2.360 tập thể và 9.017 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý 269 vụ, 173 đối tượng; kiến nghị chấn chỉnh công tác quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý, sử dụng NSNN, tài sản công, vốn nhà nước,...
Tập trung đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện 6.771 kết luận thanh tra và quyết định xử lý về thanh tra, thu hồi 6.050 tỷ đồng, 77 ha đất; xử lý hành chính 2.965 tổ chức, 11.109 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra 108 vụ, 106 đối tượng; khởi tố 21 vụ, 29 đối tượng; ban hành mới, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 399 văn bản về cơ chế, chính sách, pháp luật. Một số cuộc thanh tra triển khai chậm so với kế hoạch hoặc kéo dài thời gian xây dựng báo cáo và ban hành kết luận thanh tra; tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản qua đôn đốc, xử lý sau thanh tra còn thấp (đạt 45,3%).
Để công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, xử lý nghiêm các vi phạm quy định về THTK, CLP được hiệu quả, thời gian tới, cần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm gây lãng phí lớn, dư luận quan tâm trong các lĩnh vực theo quy định của Luật THTK, CLP và pháp luật chuyên ngành theo tinh thần “xử lý một vụ cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”. Các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra cụ thể liên quan đến THTK, CLP trong đó cần chú trọng:
- Xây dựng kế hoạch và tập trung tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm toán một số nội dung, lĩnh vực trọng điểm, cụ thể cần tập trung vào các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, tài chính công, tài sản công, tài nguyên, khoáng sản. Nghiên cứu đề xuất thanh tra, kiểm tra chuyên đề về việc áp dụng trình tự thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính về đầu tư, xây dựng, triển khai các dự án hợp tác công tư, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp; phát hiện những bất cập trong quy định từ đó đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung nhằm đơn giản hóa, tối ưu hóa thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian, công sức, vật chất của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
- Đối với những vi phạm được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, thủ trưởng đơn vị phải khắc phục, xử lý hoặc đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp xử lý. Thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về xử lý vi phạm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị và các cá nhân để xảy ra lãng phí. Tổ chức thực hiện các kết luận, kiến nghị của thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Quyết liệt trong xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để thu hồi tối đa cho Nhà nước tiền, tài sản bị vi phạm, chiếm đoạt, sử dụng sai quy định, lãng phí phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
Tham khảo:
Báo cáo số 218/BC-CP ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2024.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Bước vào thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), cùng với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận và thực tiễn lãnh đạo trong lĩnh vực xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như tổ chức thi hành pháp luật, coi đây là nền tảng để phát huy dân chủ, bảo đảm kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trong tiến trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng lớn về hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Từ việc khẳng định vai trò tối thượng của Hiến pháp, đến việc lãnh đạo quá trình thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật; từ tăng cường công tác lập pháp, cải cách hành chính, tư pháp đến chú trọng nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, tất cả đã góp phần tạo nên bước chuyển căn bản trong tư duy và hành động của cả hệ thống chính trị.
Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu phát triển bền vững đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực pháp luật càng trở nên quan trọng. Việc lãnh đạo, định hướng công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật không chỉ nhằm bảo đảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, mà còn là công cụ để phát triển xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã khởi xướng đường lối Đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới hoạt động xây dựng pháp luật. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI xác định: “Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý. Pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thực hiện thống nhất trong cả nước”[1]. Đến năm 1989, Nghị quyết số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI ngày 02/3/1989 về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới đã đề ra 12 chủ trương lớn, trong đó tại điểm b chủ trương thứ 10 khẳng định: “Xây dựng và hoàn chỉnh từng bước hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”[2]. Đồng thời Nghị quyết số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989 còn khẳng định: “Tổ chức lại công tác nghiên cứu chính sách và pháp luật,… nâng cao tính chính xác, tính khoa học của chính sách và pháp luật”. Với tinh thần đó, từ Luật Ban hành văn bản quy pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác đều phải bảo đảm tính kịp thời, chính xác, khoa học của chính sách và pháp luật.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII còn khẳng định: “Điều quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật”[3]. Theo đó, Đảng đã chủ trương sửa đổi Hiến pháp năm 1980, ban hành Hiến pháp năm 1992. Đặc biệt, ở nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng, Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, trong đó xác định: “Tiếp tục sửa đổi, xây dựng hệ thống pháp luật… sớm ban hành luật về trình tự xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”[4].
Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (01/1994) đã chính thức đề cập việc xây dựng “Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân”[5]. Như vậy, lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng, thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” được sử dụng. Sự phát triển nhận thức của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền gắn với nguyên tắc tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật đã đặt ra yêu cầu xây dựng, ban hành pháp luật về quy trình xây dựng pháp luật. Các chủ trương nêu trên là cơ sở chính trị quan trọng để Hội đồng Nhà nước ban hành Nghị quyết số 91/NQ-HĐNN8 về Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh (Nghị quyết số 91/NQ-HĐNN8). Sau 42 năm kể từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đây là văn bản đầu tiên có tính pháp lý cao nhất ở nước ta quy định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản pháp luật. Tuy nhiên, Nghị quyết này mới chỉ quy định chung chung về trình tự, thủ tục ban hành luật, pháp lệnh.
Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đặt ra các nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ về đổi mới nâng cao chất lượng cơ quan xây dựng, ban hành pháp luật: “Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp…”[6]. Tiếp đó, quan điểm, định hướng của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được khẳng định: “Ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội… Coi trọng tổng kết thực tiễn Việt Nam, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với những quy định cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung…”[7]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6/1997), tiếp tục đề cập cụ thể hơn các nguyên tắc trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trên cơ sở quan điểm, chủ trương tại Đại hội VIII của Đảng (6/1996), Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996.
Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đánh dấu giai đoạn phát triển mới trong nhận thức của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là một bước phát triển trong tư duy lý luận về xây dựng Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta. Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định: “Chính sách và pháp luật của Nhà nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân và sinh hoạt dân chủ trong xã hội”[8]; nêu rõ nhiệm vụ: “hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong các văn bản luật… Đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, ban hành và thực thi pháp luật…”.
Để thực hiện chủ trương, quan điểm nêu trên, trong nhiệm kỳ này Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, xác định năm quan điểm chỉ đạo và hệ thống các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Nghị quyết số 48 NQ/TW xác định hệ thống các giải pháp chủ yếu để thực hiện Chiến lược, trong đó có giải pháp về xây dựng pháp luật là: 1) Xác định các lĩnh vực trọng điểm cần ưu tiên đầu tư để xây dựng và hoàn thiện pháp luật; 2) Đổi mới cơ bản quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật từ sáng kiến pháp luật đến thông qua luật nhằm đẩy nhanh quá trình soạn thảo, ban hành luật. Nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; 3) Nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc hội; 4) Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật; 5) Hiện đại hoá phương thức và phương tiện xây dựng pháp luật; 6) Hoàn thiện pháp luật về Công báo, bảo đảm tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, văn bản hành chính có hiệu lực áp dụng chung đều được công bố trên Công báo một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác; 7) Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Đây là những quan điểm chỉ đạo trực tiếp của Đảng ta vừa nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả của quy trình xây dựng pháp luật, vừa bảo đảm pháp luật do Nhà nước ban hành được triển khai thi hành có hiệu quả trong toàn xã hội.
Những quan điểm chỉ đạo, lãnh đạo trên của Đảng về công tác xây dựng và thi hành pháp luật có ý nghĩa sâu sắc, góp phần rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu phục vụ cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 120.
[2] Nghị quyết số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-vi/nghi-quyet so-06-nqhntw-ngay-2931989-hoi-nghi-lan-thu-sau-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vi-ve-kiem-diem hai-nam-thuc-1107, truy cập ngày 16/3/2024
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 296.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 297.
[5] Hội đồng Lý luận Trung ương, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 246.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 709.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 130.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, sđd, tr. 124.
1. Công tác tổ chức bộ máy và biên chế
Thực hiện Kế hoạch của Ban chỉ đạo Trung ương về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khoá XII, các cơ quan khẩn trương xây dựng đề án, văn bản quy định liên quan đến sắp xếp bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, báo cáo Ban Chỉ đạo Chính phủ và Bộ Chính trị; chủ động, kịp thời hướng dẫn các địa phương thực hiện sắp xếp tinh gọn các cơ quan tham mưu trực thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương; tích cực đề xuất cơ chế, chính sách vượt trội, đủ mạnh đối với CBCCVC và người lao động làm cơ sở để thực hiện sắp xếp tinh gọn bộ máy, gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC. Đây là khối lượng công việc rất lớn, phức tạp, nhạy cảm, song với sự thống nhất về nhận thức và thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ, kết quả đến nay đã cơ bản hoàn thành các đề án để báo cáo Chính phủ trình Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo Trung ương.
Qua đó tạo tiền đề và cơ sở pháp lý quan trọng cho việc sắp xếp, giảm số lượng các bộ, sở, phòng và cơ cấu tổ chức bên trong tinh gọn theo yêu cầu của Nghị quyết số18-NQ/TW; khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo, bỏ sót hoặc không rõ chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý và đáp ứng nguyên tắc, tiêu chí thành lập tổ chức theo chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật; đồng thời tập trung xây dựng dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) trình cấp thẩm quyền theo kế hoạch[1].
Kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy (tính đến ngày 30/10/2024) tại 63 tỉnh, thành phố: tiếp tục giảm 12 tổ chức chi cục, phòng và tương đương của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; giảm 29 tổ chức phòng và tương đương thuộc UBND cấp huyện, lũy kế đến nay, giảm 13 Sở và tương đương; 2.613 tổ chức cấp phòng và tương đương ở địa phương.
2. Công tác cải cách hành chính, thủ tục hành chính (TTHC)
Công tác cải cách hành chính, cải cách TTHC, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt. Chính phủ đã báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7 về kết quả rà soát, xử lý các vướng mắc, bất cập về TTHC và đề ra nhiều giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm[2]; thống nhất triển khai thí điểm Mô hình Trung tâm phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc UBND cấp tỉnh từ tháng 9/2024 đến tháng 11/2025 tại 05 địa phương (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Quảng Ninh và Bắc Ninh), tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp thực hiện TTHC, dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính[3].
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10/6/2024 quy định việc thực hiện liên thông điện tử 02 nhóm TTHC: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch cải cách TTHC trọng tâm năm 2024 với 24 nhiệm vụ cụ thể; phê duyệt Danh mục nhóm dịch vụ công trực tuyến liên thông, phương án đơn giản hóa quy định, TTHC liên quan đến phiếu lý lịch tư pháp[4]; chỉ đạo thực hiện nghiêm việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC trong đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, giảm chi phí tuân thủ ngay từ khâu dự thảo; nâng cao hiệu quả giải quyết TTHC, tổ chức hiệu quả hoạt động Bộ phận Một cửa các cấp, cung cấp 02 nhóm TTHC liên thông điện tử từ ngày 01/7/2024[5]. Nhờ đó, công tác cải cách TTHC đạt nhiều kết quả tích cực[6].
Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số nâng cao hiệu quả của cơ quan hành chính nhà nước tiếp tục được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt với tinh thần: “Phát triển kinh tế số với 04 trụ cột công nghiệp công nghệ thông tin, số hóa các ngành kinh tế, quản trị số, dữ liệu số - Động lực quan trọng cho phát triển KTXH nhanh và bền vững”. Đã trình Quốc hội thông qua Luật Dữ liệu; xem xét, cho ý kiến đối với dự án Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Công nghiệp công nghệ số. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 10 Nghị định[7], 11 Quyết định[8], 02 Chỉ thị[9], nhiều văn bản chỉ đạo hoàn thiện cơ sở pháp lý, thúc đẩy chuyển đổi số và Đề án 06; bảo đảm an toàn thô ng tin, an ninh mạng[10].
Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số đã ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2024 với mục tiêu đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, đóng góp tích cực, tạo bứt phá phát triển KTXH năm 2024 và giai đoạn 2021 - 2025; ban hành Kế hoạch hành động chuyển đổi số hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trực tuyến và dựa trên dữ liệu giai đoạn 2024 – 2025, định hướng đến năm 2030, đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương dựa trên dữ liệu, theo thời gian thực. Các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu nền tảng và Đề án 06, đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc, chuyển đổi số trong nội khối cơ quan hành chính nhà nước và phục vụ chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công, giải quyết TTHC trên môi trường điện tử tiếp tục được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt[11]
3. Về xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ công chức, viên chức
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ chế độ công vụ, công chức nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả bằng các giải pháp cụ thể, theo đó tham mưu ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tuyển dụng, sử dụng và quản lý CBCCVC[12] đáp ứng yêu cầu của nền hành chính quốc gia; hoàn thiện quy định tiêu chuẩn lãnh đạo quản lý; tích cực phối hợp các cơ quan liên quan tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách thu hút và trọng dụng người có tài năng vào làm việc trong cơ quan nhà nước và ĐVSNCL, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm, tiêu chuẩn nghiệp vụ, tiêu chí đánh giá CBCCVC dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, bằng sản phẩm cụ thể; sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý, bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật, đánh giá, xếp loại CBCCVC bảo đảm đồng bộ quy định của Đảng và phù hợp với yêu cầu đổi mới, cải cách công vụ. Đổi mới và phân cấp triệt để trong tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; bỏ quy định thi thăng hạng, chỉ quy định về xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; cải cách thủ tục, quy trình tuyển dụng; tăng cường ứng dụng công nghệ trong tuyển dụng, nâng ngạch, thăng hạng; tăng cường tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ. Đẩy mạnh triển khai việc xác định vị trí việc làm và cơ cấu công chức theo ngạch trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương.
Tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ, xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có sai phạm, vi phạm pháp luật; đồng thời, thực hiện các biện pháp nhằm đẩy lùi tình trạng đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức.
Năm 2024, các bộ, ngành và địa phương đã tuyển dụng được 39.218 CCVC (có 3.879 công chức; 35.402 viên chức). Trong đó bộ, ngành tuyển dụng 3.740 CCVC (561 công chức; 3.179 viên chức); các địa phương tuyển dụng 35.541 CCVC (3.318 công chức; 32.223 viên chức), tuyển dụng theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP được 230 người (trong đó 170 sinh viên xuất sắc, 60 cán bộ khoa học trẻ).
Thực hiện nghiêm các quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng CBCCVC; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyển dụng và quản lý CBCCVC gắn với siết chặt kỷ cương hành chính, kỷ luật công vụ; tăng cường thanh tra công vụ, công chức tại các bộ, ngành, địa phương, kịp thời chấn chỉnh những sai phạm, khuyết điểm trong công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý CBCC nhất là công tác quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại CBCCVC. Theo đó, năm 2024 các bộ, ngành, địa phương đã xử lý kỷ luật 4.741 CBCCVC (cán bộ: 390 người; công chức 1.092 người, viên chức 6.313 người).
Còn tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện né tránh, đùn đẩy công việc, sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám tham mưu, đề xuất xử lý công việc dẫn đến công việc chậm tiến độ, giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và niềm tin của doanh nghiệp, người dân. Công tác phối hợp giữa các bộ, cơ quan trong xử lý công việc có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ, chất lượng chưa cao.
Tham khảo:
Báo cáo số 218/BC-CP ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2024.
[1] Kế hoạch số 659/KH-BNV ngày 05/02/2024 và Quyết định số 165/QĐ-BNV ngày 08/3/2024.
[2] Báo cáo số 248/BC-CP ngày 18/5/2024 của Chính phủ
[3] Các Nghị quyết số: 108/NQ-CP ngày 10/7/2024, 188/NQ-CP ngày 11/10/2024.
[4] Các Quyết định số: 206/QĐ-TTg ngày 28/02/2024, 498/QĐ-TTg ngày 11/6/2024.
[5] Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 20/5/2024, Công điện số 131/CĐ-TTg ngày 11/12/2024 và nhiều văn bản chỉ đạo.
[6] Năm 2024, đã cắt giảm, đơn giản hóa 420 QĐKD; phân cấp giải quyết 191 TTHC, đơn giản hóa 313 TTHC, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư, nâng tổng số QĐKD được cắt giảm từ năm 2021 đến nay là 3.195; phân cấp 350 TTHC; đơn giản hóa 898 TTHC, giấy tờ công dân...
[7] Các Nghị định số: 14/2024/NĐ-CP ngày 07/02/2024, 31/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024, 47/2024/NĐ-CP ngày 09/5/2024, 48/2024/NĐ-CP ngày 09/5/2024, 67/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024, 68/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024, 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024, 70/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024, 82/2024/NĐ-CP ngày 10/7/2024, 137/2024/NĐ-CP ngày 23/10/2024.
[8] Các Quyết định số: 36/QĐ-TTg ngày 11/01/2024, 142/QĐ-TTg ngày 02/02/2024, 805/QĐ-TTg ngày 07/8/2024, 1012/QĐ-TTg ngày 20/9/2024, 1087/QĐ-TTg ngày 02/10/2024, 1132/QĐ-TTg ngày 09/10/2024, 1236/QĐ-TTg ngày 22/10/2024, 1238/QĐ-TTg ngày 22/10/2024, 256/QĐ-TTg ngày 29/3/2024, 715/QĐ-TTg ngày 26/7/2024, 1069/QĐ-TTg ngày 01/10/2024, 1437/QĐ-TTg ngày 20/11/2024
[9] Các Chỉ thị số: 32/CT-TTg ngày 04/9/2024, 34/CT-TTg ngày 16/9/2024
[10] Ban hành 02 Quyết định, 01 Chỉ thị, 01 Công điện
[11] - CSDL quốc gia về dân cư đã kết nối, chia sẻ dữ liệu với 18 bộ, ngành, 63 địa phương, 04 DNNN; cấp trên 86 triệu thẻ Căn cước công dân gắn chíp; kích hoạt gần 54 triệu tài khoản; tiếp nhận hơn 1,5 tỷ yêu cầu xác thực thông tin; 63/63 địa phương đã triển khai đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử trực tuyến và kết nối liên thông dữ liệu giữa Hệ thống thông tin giải quyết TTHC cấp tỉnh với Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp; đã, đang triển khai xây dựng CSDL đất đai quốc gia (có CSDL của 450/705 huyện); CSDL quốc gia về đăng ký doanh nghiệp lưu trữ dữ liệu gần 1,9 triệu doanh nghiệp (900 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động), gồm DNNN, doanh nghiệp trong nước, FDI, tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán
- Trục liên thông văn bản quốc gia: Văn bản điện tử gửi, nhận trên Hệ thống năm 2024 là trên 11 triệu văn bản; lũy kế đến nay là hơn 44,5 triệu văn bản được gửi, nhận trên Hệ thống.
- Cổng Dịch vụ công quốc gia: Có hơn 13 triệu tài khoản đăng ký; hơn 116 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái; hơn 30,6 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng; hơn 17 triệu giao dịch thanh toán trực tuyến với số tiền hơn 10 nghìn tỷ đồng. Đã kết nối, tích hợp với 150 hệ thống thông tin, CSDL của các cơ quan, đơn vị phục vụ xác thực định danh, đăng nhập một lần và giải quyết TTHC, cung cấp DVC, đã công khai, đồng bộ thông tin 6.325 TTHC trên CSDL quốc gia về TTHC với các Hệ thống thông tin giải quyết TTHC cấp bộ, cấp tỉnh; tích hợp, cung cấp gần 4,5 nghìn DVCTT, hơn 70%; hơn 382 triệu hồ sơ đồng bộ; 65,2 triệu hồ sơ trực tuyến từ Cổng; hơn 24,4 triệu giao dịch thanh toán trực tuyến thành công với số tiền hơn 19.252 tỷ đồng.
- Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (E-Cabinet): Đã phục vụ 23 phiên họp, xử lý 650 Phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ, thay thế hơn 250,6 nghìn hồ sơ, tài liệu giấy. Lũy kế đến nay, Hệ thống đã phục vụ 111 hội nghị, phiên họp Chính phủ, thực hiện xử lý 2.651 phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ, thay thế khoảng 950,5 nghìn hồ sơ, tài liệu giấy.
- Hệ thống thông tin báo cáo Quốc gia, Trung tâm thông tin chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Có 69/179 chế độ báo cáo được tích hợp hoặc nhập liệu trực tiếp trên Hệ thống. Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kết nối, liên thông với các hệ thống thông tin, CSDL quốc gia, chuyên ngành của 15 bộ, cơ quan, tập đoàn, tổng công ty nhà nước và 63 địa phương để cung cấp thông tin, dữ liệu với 38 chỉ tiêu thông tin trực tuyến; hình thành 04 bộ chỉ số điều hành, thống kê, theo dõi, giám sát KTXH địa phương.
- Tiếp tục vận hành Bộ chỉ số chỉ đạo, điều hành và đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, giúp kiểm soát thực thi, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong giải quyết TTHC.
[12] Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2024/NĐ-CP ngày 06/3/2024 quy định tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước; Nghị định số 99/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; Nghị định số 116/2024/NĐ-CP ngày 17/9/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; dự thảo Nghị định về chính sách thu hút và trọng dụng người có tài năng vào cơ quan nhà nước và ĐVSNCL; dự thảo Nghị định quy định về chế độ, chính sách đối với chuyên gia cao cấp; Nghị định thay thế Nghị định số 25/2015/NĐ-CP ngày 09/3/2015 quy định chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 04/2024/TT-BNV ngày 27/6/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2022/TT-BNV ngày 31/12/2022 hướng dẫn việc xác định cơ cấu ngạch công chức; Thông tư số 05/2024/TT-BNV ngày 27/6/2024 quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng lên hạng II và lên hạng I đối với viên chức hành chính, viên chức văn thư, viên chức lưu trữ; xếp lương đối với người được tuyển dụng, tiếp nhận vào viên chức...
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Hưởng bảo hiểm xã hội một lần?
Trả lời:
Căn cứ Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, hưởng bảo hiểm xã hội một lần được quy định như sau:
1. Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã chấm dứt tham gia bảo hiểm xã hội mà có đề nghị thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội.
Trường hợp người lao động không hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì có thể lựa chọn hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
- Ra nước ngoài để định cư;
- Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS;
- Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, sau 12 tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà cũng không tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 20 năm;
- Trường hợp quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà cũng không tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.
2. Đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã chấm dứt tham gia bảo hiểm xã hội mà có đề nghị thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội;
- Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS;
- Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định nhưng không tiếp tục cư trú tại Việt Nam;
- Người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.
3. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng bảo hiểm xã hội nhưng không bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, cứ mỗi năm được tính như sau:
- Bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với năm đóng trước năm 2014.
Trường hợp có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước và sau năm 2014 mà thời gian đóng trước năm 2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi để tính mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần;
- Bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với năm đóng từ năm 2014 trở đi;
- Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng nhưng không quá 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
4. Trường hợp quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện; việc tính mức hưởng mỗi năm thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều này.
5. Thời điểm tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần là thời điểm cơ quan bảo hiểm xã hội ban hành quyết định hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
6. Trường hợp người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 và các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 vừa đủ điều kiện hưởng lương hưu vừa đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì người lao động được lựa chọn hưởng lương hưu hằng tháng hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội?
Trả lời:
Căn cứ Điều 71 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
Người lao động khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 64, Điều 65 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hoặc chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 70 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hoặc chưa hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần?
Trả lời:
Căn cứ Điều 72 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần được quy định như sau:
1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 06 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 08 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 đến ngày 31 tháng 12 năm 2015 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 trở đi thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
2. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 72 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều 72 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và quy định mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định trong một số trường hợp đặc biệt.
1. THTK, CLP trong đầu tư xây dựng, đầu tư công
Ngay sau khi Quốc hội thông qua các Nghị quyết số 104/2023/QH15 về dự toán NSNN năm 2024, Nghị quyết số 105/2023/QH15 về phân bổ ngân sách trung ương năm 2024, Thủ tướng Chính phủ đã giao kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2024 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương[1]; chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương, địa phương khẩn trương phân bố chi tiết kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2024 theo đúng nguyên tắc, thứ tự ưu tiên theo quy định, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, không để dàn trải, manh mún, kéo dài, phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 95% kế hoạch giao. Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ ban hành 03 chỉ thị, 05 công điện và nhiều văn bản chỉ đạo, đôn đốc giải ngân vốn đầu tư công; thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp hướng dẫn xử lý, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn một cách kịp thời, hiệu quả, để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; yêu cầu xác định giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu; xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, làm việc nào dứt việc đó, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong giải ngân vốn đầu tư công, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, chậm tiến độ giao vốn, thực hiện, giải ngân kế hoạch vốn, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng. Thực hiện “5 quyết tâm”, “5 đảm bảo” trong giải ngân kế hoạch đầu tư công; kiên quyết điều chuyển số vốn chưa được phân bổ, vốn của các dự án chậm giải ngân sang các dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, dự án có khả năng giải ngân tốt hơn và còn thiếu vốn[2]. Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ có quyết định giao kế hoạch vốn, Bộ Tài chính đã có văn bản đôn đốc các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đẩy nhanh việc triển khai phân bổ chi tiết kế hoạch vốn hằng năm và triển khai nhập dự toán trên hệ thống Tabmis để phê duyệt làm căn cứ thanh toán vốn. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương xác định việc giải ngân vốn đầu tư công là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm cần sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành ngay từ những tháng đầu năm để giải ngân đạt trên 95%, phấn đấu gải ngân 100% kế hoạch đầu tư công được Thủ tướng Chính phủ giao[3]. Một số đơn vị có kết quả giải ngân rất tốt, đạt mục tiêu giải ngân tối thiểu 95% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 05/01/2024 của Chính phủ như: Đài truyền hình Việt Nam (đạt 100%); Ngân hàng Chính sách xã hội (đạt 100%); Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật (đạt 98,22%); Văn phòng Quốc hội (đạt 97,56%); Bộ Giao thông vận tải (đạt 97,21%); Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (đạt 97,1%); Đài tiếng nói Việt Nam (đạt 96,62%); Bộ Quốc phòng (đạt 95,25%); Hải Phòng (đạt 99,83%); Sóc Trăng (đạt 99,67%); Đồng Tháp (đạt 99,4%); Hải Dương (đạt 99,4%); Hà Nam (đạt 98,28%); Bến Tre (đạt 98,13%);...
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mở ra không gian phát triển mới cho các địa phương và cả nước. Phát động phong trào thi đua 500 ngày đêm hoàn thành 3.000 km cao tốc trước ngày 31/12/2025. Chỉ đạo quyết liệt hoàn thành hệ thống đường dây truyền tải điện 500KV mạch 3 từ Quảng Trạch (Quảng Bình) đến Phố Nối (Hưng Yên) sau hơn 6 tháng thi công thần tốc; tích cực triển khai nhiều dự án, công trình năng lượng trọng điểm như: Khai thác mỏ khí Lô B, trung tâm nhiệt điện Ô Môn..., trình Quốc hội đồng ý thông qua chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì 07 phiên họp Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, đã tạo bước đột phá mới về phát triển hạ tầng giao thông trong năm 2024. Hoàn thành nâng tổng chiều dài đường cao tốc đưa vào khai thác đến nay là trên 2.000 km. Hoàn thành đưa vào khai thác Nhà ga hành khách T2, cảng hàng không Phú Bài, dự án mở rộng sân bay Điện Biên; xử lý quyết liệt, dứt điểm vướng mắc để khởi công nhà ga hành khách T3 - Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành[4]…Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; thúc đẩy triển khai các tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc[5]; cơ bản hoàn thành từng phần và bàn giao đưa vào khai thác sử dụng 02 dự án nâng cấp tuyến đường sắt quốc gia Bắc - Nam[6], khởi công 03 dự án[7], đưa vào khai thác thương mại phần trên cao tuyến đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh - Bến Thành - Suối Tiên và Nhổn - ga Hà Nội, đẩy nhanh tiến độ các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. Về hàng hải, đường thủy nội địa, đã khởi công 02 dự án[8], hoàn thành 01 dự án[9]; đang triển khai thi công 02 dự án[10]; hoàn thiện các thủ tục để khởi công 01 dự án[11]. Đến hết ngày 31/12/2024, tổng số vốn giải ngân của 09 dự án quan trọng quốc gia ngành giao thông vận tải là 70.743,08 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 72,9% kế hoạch năm 2024 được giao (96.991,66 tỷ đồng); trong đó dự án Cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020 giải ngân được 3.753 tỷ đồng (đạt 66,9%); dự án Cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 giải ngân được 32.540,84 tỷ đồng (đạt 86,7%); dự án Trụ sở cơ quan Hải quan Cảng hàng không quốc tế Long Thành giải ngân được 80,87 tỷ đồng (đạt 99,3%).
Năm 2024, các khó khăn vướng mắc chủ yếu ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân như: Nhiều bộ, ngành, địa phương chưa phân bổ chi tiết cho các dự án theo đúng thời gian quy định nên không thể giải ngân; vướng mắc về giải phóng mặt bằng, quy hoạch sử dụng đất và nguồn cung ứng nguyên vật liệu; vướng mắc ở các khâu hoàn thiện thủ tục đầu tư, quy trình giải ngân của các dự án ODA;... đối với vốn NSĐP, các khó khăn liên quan đến nguồn thu sử dụng đất do chưa đảm bảo so với dự toán được cấp thẩm quyền giao, dẫn đến chậm phân bổ nguồn thu sử dụng đất, ảnh hưởng việc triển khai thực hiện và giải ngân các dự án sử dụng nguồn vốn này. Còn 30/46 bộ, cơ quan trung ương, và 26/63 địa phương có có tỷ lệ ước giải ngân thấp hơn bình quân chung của cả nước. Một số cơ quan giải ngân bằng 0% như: Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; hoặc giải ngân rất thấp như: Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam (đạt 10,85%), Ủy ban Dân tộc (đạt 11,42%), Đại học quốc gia Hà Nội (đạt 26,55%), Bộ Y tế (đạt 28,36%), Viện Khoa học xã hội Việt Nam (đạt 31,76%) ... Một số địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 65% như: Quảng Ngãi (đạt 57,41%), Lâm Đồng (đạt 60,49%), Kiên Giang (đạt 63,27%), Bình Phước (đạt 64,16%), Quảng Ninh (đạt 64,19%). Trong quá trình triển khai thực hiện, một số dự án quan trọng quốc gia vẫn còn ghi nhận một số các khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục nỗ lực để tháo gỡ như sau: (1) Công tác GPMB tại nhiều địa phương vẫn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu về tiến độ. (2) Về nguồn nguyên vật liệu: các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Nai triển khai thủ tục cấp phép để khai thác mỏ cho các nhà thầu chưa đáp ứng tiến độ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự án khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; một số địa phương đã bố trí tối đa các mỏ để cung cấp cho dự án nhưng công suất vẫn chưa đáp ứng kế hoạch. (3) Về thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư: tỉnh Đồng Nai chậm xác định giá trị GPMB dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu ảnh hưởng tiến độ điều chỉnh chủ trương; cần triển khai nhiều thủ tục điều chỉnh chủ trương dự án cao tốc Bến Lức – Long Thành; ... Trong quá trình triển khai các công trình, dự án phòng, chống thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu gặp một số khó khăn vướng mắc như: Nguồn nguyên vật liệu khan hiếm, hiện nay vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang được đầu tư nhiều dự án đường cao tốc, do vậy nguồn vật liệu cát, sỏi, đá để san lập, thực hiện công trình này thường xuyên khan hiếm, giá cả tăng cao ảnh hưởng tới việc thực hiện các dự án phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển; Yếu tố thời tiết, thời gian thi công; Các dự án được Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ để xử lý khẩn cấp, phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển, tuy nhiên vẫn còn địa phương chậm hoàn thiện thủ tục đầu tư, chậm giải ngân.
2. THTK, CLP trong quản lý, sử dụng trụ sở làm việc
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị được ban hành đầy đủ. Công tác sắp xếp trụ sở, nhà, đất công tiếp tục được các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện, nhiều bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt việc rà soát, sắp xếp và bố trí lại hệ thống trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của các cơ quan, tổ chức, đơn vị phù hợp với tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản và quy hoạch sử dụng đất của địa phương. Qua hơn 20 năm triển khai, việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã đạt được những kết quả quan trọng, cơ bản nắm được tổng thể nhà, đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc trung ương và địa phương đang quản lý; việc thực hiện các quy định đã góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp trong việc quản lý, sử dụng nhà, đất hiệu quả; tạo quỹ đất để xây dựng các công trình công cộng, đầu tư, phát triển các dự án nhà ở xã hội, nhà ở thương mại, khách sạn, dịch vụ,... góp phần chỉnh trang đô thị, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, tạo nguồn lực để đầu tư cải tạo, nâng cấp, đầu tư xây dựng mới theo hướng hiện đại hóa một số trụ sở của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp.
Kết quả thực hiện sắp xếp, xử lý nhà đất của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước, tính đến ngày 26/12/2024 số cơ sở nhà, đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án sắp xếp lại, xử lý trong phạm vi cả nước 205.862 cơ sở; số cơ sở nhà, đất chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án sắp xếp lại, xử lý theo quy định là 62.739 cơ sở[12].
Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn phát sinh vướng mắc, bất cập ảnh hưởng đến tiến độ sắp xếp lại, xử lý nhà, đất dẫn đến tiến độ sắp xếp còn chậm, kéo dài thời gian, số lượng các cơ sở nhà, đất của một số Bộ, ngành, địa phương chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án xắp xếp lại, xử lý nhà đất tương đối lớn. Còn một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp chưa quan tâm, chỉ đạo quyết liệt việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất; nguồn gốc nhà đất đa dạng, hồ sơ pháp lý về nhà, đất phức tạp hoặc thiếu/thất lạc hồ sơ; thẩm quyền trong phê duyệt và quyết định xử lý nhà, đất chưa được phân cấp triệt để; việc kiểm tra hiện trạng nhà, đất chưa quy định rõ được phân cấp hay không được phân cấp,...
Tham khảo:
Báo cáo số 218/BC-CP ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2024.
[1] Quyết định số 1603/QĐ-TTg ngày 11/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2024. Kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2024 giao cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 682.950,7 tỷ đồng, bao gồm: Vốn NSTW 250.647,6 tỷ đồng, vốn NSĐP 432.303,1 tỷ đồng; trong đó vốn NSTW bố trí cho dự án, nhiệm vụ thuộch 03 CTMTQG là 27.220 tỷ đồng.
[2] Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 08/8/2024.
[3] Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/01/2025 là 635.579,9 tỷ đồng, đạt 93,06% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (cùng kỳ năm 2023 đạt 93,12% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao). Trong đó, CTMTQG là 23.321,2 tỷ đồng (đạt 85,68% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).
[4] Công điện số 271/CĐ-TTg ngày 18/4/2023; Quyết định số 401/QĐ-TTg ngày 18/4/2023.
[5] Các tuyến: Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Đồng Đăng, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng.
[6] Dự án cải tạo, nâng cấp các công trình thiết yếu đoạn Hà Nội - Vinh; Dự án gia cố các hầm yếu kết hợp mở mới các ga và cải tạo kiến trúc tầng trên đoạn Vinh - Nha Trang.
[7] Cải tạo nâng cấp đường sắt trên tuyến Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh (đoạn Hà Nội - Vinh, Vinh - Nha Trang) và cải tạo các ga trên các tuyến đường sắt phía Bắc.
[8] Dự án nâng cấp luồng Cái Mép - Thị Vải, luồng hàng hải vào các bến cảng khu vực Nam Nghi Sơn.
[9] Dự án kênh nối Đáy - Ninh Cơ.
[10] Các Dự án: luồng cho tàu biển tải trọng lớn vào sông Hậu, nâng cấp tuyến kênh Chợ Gạo
[11] Dự án nâng tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia - giai đoạn 1 (khu vực phía Nam)...
[12] Số liệu được tổng hợp trên cơ sở báo cáo gửi về Bộ Tài chính của các Bộ, ngành, địa phương và theo dõi tại Bộ Tài chính về số lượng nhà, đất của khối trung ương được Bộ Tài chính phê duyệt trong năm 2024.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng pháp luật. Hệ thống pháp luật nước ta từng bước được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, cơ bản bao quát đầy đủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho sự phát triền kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế của đất nước. Tuy nhiên, thể chế, pháp luật vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, trở thành lực cản đối với yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Hệ thống pháp luật chưa đủ linh hoạt để tháo gỡ các vướng mắc từ thực tiễn. Tư duy xây dựng pháp luật chậm được đổi mới, không theo kịp với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình mới. Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ. Chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Vẫn còn quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu rõ ràng, cản trở việc thực thi, không thuận lợi cho việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút và khơi thông nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước. Việc phân quyển, phân cấp chưa triệt để, thủ tục hành chính còn rườm rà. Chậm nghiên cứu, ban hành chính sách, pháp luật điều chỉnh đối với những vấn đề mới phát sinh, chưa tạo khung khổ pháp lý thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.
Để triển khai thực hiện việc rà soát, xử lý các vướng mắc trong hệ thống pháp luật, trong thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo và tổ chức triển khai các nhiệm vụ liên quan đến rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ về phiên họp thường kỳ tháng 5 năm 2024, Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thúc đẩy tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, Nghị quyết số 97/NQ-CР ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ về Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 6 năm 2024, Công điện của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch hoạt động và Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp của Ban Chỉ đạo rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật (Ban Chỉ đạo). Bộ Tư pháp là cơ quan thường trực, giúp việc Ban Chỉ đạo rà soát, xử lý vướng mắc trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tham mưu, tổ chức thực hiện các hoạt động rà soát, xác định và đề xuất phương án xử lý các vướng mắc có tính chất cấp bách tại các văn bản quy phạm pháp luật. Từ năm 2024 đến nay, Bộ Tư pháp đã có 13 Báo cáo phục vụ 05 Phiên họp của Ban Chỉ đạo, tập trung vào rà soát, xác định điểm nghẽn trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến: (1) Sắp xếp tổ chức bộ máy, định hướng sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và sắp xếp, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; phân cấp, phân quyền; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; các quy định có tính chất hạn chế quyền, cơ chế “xin – cho”, tạo thành “rào cản”, gây phiền hà, sách nhiễu, khó khăn, tăng chi phí cho người dân và doanh nghiệp; (2) Tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn để thúc đẩy tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, khơi thông, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, lấy đầu tư công, nguồn lực Nhà nước dẫn dắt và kích hoạt mọi nguồn lực hợp pháp khác, trong đó, cả vốn đầu tư nước ngoài; (3) Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia; (4) Các vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật liên quan đến chuyển đổi xanh, kinh tế xanh... với nhiều giải pháp, đề xuất trực tiếp liên quan đến việc tháo gỡ các điểm nghẽn, hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 40/NQ-CP, Kế hoạch hoạt động năm 2025 của Ban Chỉ đạo (ban hành kèm theo Quyết định số 47/QĐ-BCĐRSTCTHXLVMHTPL ngày 29 tháng 4 năm 2025), hiện nay, các bộ, ngành, địa phương đang tiếp tục rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc, tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có các quy định cụ thể về việc rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, đề xuất sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện các khó khăn, vướng mắc; đồng thời, quy định cơ chế sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản trong trường hợp cấp bách để giải quyết vấn đề phát sinh trong thực tiễn có thể thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn hoặc trình tự, thủ tục đặc biệt khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền. Tuy nhiên, các quy định này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết khó khăn, vướng mắc phát sinh nhanh, cấp bách từ thực tiễn, đặc biệt là trong một số lĩnh vực quan trọng để phát triển kinh tế và tăng trưởng như đầu tư công, xây dựng, đất đai, môi trường, tài chính, ngân sách...; khi có sự chồng chéo, xung đột pháp luật hoặc khi chưa có quy định hoặc quy định không rõ ràng. Chính phủ đã có nhiều biện pháp nhằm tháo gỡ những tồn tại, hạn chế nêu trên, tuy nhiên, thẩm quyền chi giới hạn trong việc xử lý các văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, đối với các vướng mắc do quy định của luật, nghị quyết, pháp luật thì chỉ Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi hoặc cho phép áp dụng cơ chế đặc biệt.
Để kịp thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, tại một số luật, nghị quyết của Quốc hội được ban hành trong thời gian vừa qua và một số dự án luật đang được trình Quốc hội khóa XV xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 9 đã bước đầu quy định theo hướng mở về cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật trong một số lĩnh vực như tổ chức bộ máy, phân quyền, phân cấp, khoa học công nghệ, năng lượng nguyên tử. Cụ thể, tại Điều 32 Luật Tổ chức Chính phủ, Điều 50 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Điều 74 của dự thảo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Điều 72 của dự thảo Luật Năng lượng nguyên từ quy định cho phép Chính phủ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh một số quy định có liên quan tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa được sửa đổi, bổ sung nhằm giải quyết việc phân quyền, phân cấp đối với một số lĩnh vực ưu tiên, cấp bách, giải quyết vấn đề phát sinh khi sắp xếp tổ chức bộ máy, xử lý khó khăn, vướng mắc về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, năng lượng nguyên tử. Mặc dù trong thời gian thực hiện rất ngắn, nhưng các quy định nêu trên của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Nghị quyết số 190/2025/QH15 đã phát huy hiệu quả trong thực tiễn, nhất là việc Chính phủ ban hành 28 nghị định để thực hiện phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền gắn với việc thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
Xuất phát từ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật là rất cần thiết, nhằm thiết lập cơ chế chính thức để xử lý các vướng mắc đang “không thể hoặc chưa thể” sửa bằng quy trình xây dựng pháp luật thông thường theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Tham khảo:
Tờ trình số 526/TTr-CP ngày 17/6/2025 của Chính phủ về cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
Trải qua gần bốn thập niên đổi mới, công tác lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, hệ thống pháp luật nước ta ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, bao quát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Công tác tổ chức thi hành pháp luật ngày càng được chú trọng, từng bước khắc phục tình trạng “pháp luật trên giấy”, hướng tới việc pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, trở thành công cụ quản lý hiệu quả và phương tiện bảo vệ công lý, kỷ cương, trật tự xã hội.
Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật” là một trong những nhiệm vụ để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiếp sau đó, Kết luận số 71-KL/TW ngày 04/5/2010 về kết quả kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, Đảng ta đề ra chủ trương “Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, ổn định và thống nhất để sớm khắc phục sự vênh nhau giữa các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật”.
Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI năm 2011, Đảng điều chỉnh Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, trong đó nhấn mạnh: “…ban hành pháp luật, tổ chức và quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”[1]. Trên cơ sở đó, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đề ra nhiệm vụ: “Trong những năm tới, đẩy mạnh hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Để bảo đảm công tác xây dựng pháp luật thể chế hóa đầy đủ và kịp thời các đường lối, chủ trương của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Thông báo số 26 TB/TW ngày 19/4/2017 đề ra nhiệm vụ: “nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy trình xây dựng pháp luật…thống nhất đề xuất cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng pháp luật”. Đặc biệt, sau đó Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đề ra 5 quan điểm mang tính chỉ đạo, định hướng về nội dung cho công tác xây dựng pháp luật về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cũng trong nhiệm kỳ này, để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 đề ra một số chủ trương, chính sách định hướng đối với công tác lập pháp của Quốc hội nói riêng và công tác xây dựng pháp luật nói chung như “Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật để tạo thuận lợi cho tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư”.
Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác định một trong ba đột phá chiến lược đó là: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo…”[2]. Để bảo đảm quán triệt đầy đủ nội dung nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, trong đó nêu rõ yêu cầu: “Việc xây dựng, ban hành luật phải thận trọng, chắc chắn, làm tốt từng khâu, đặt yêu cầu cao về chất lượng, không chạy theo số lượng, phải bám sát và kịp thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Những vấn đề cấp bách, đã chín, đã rõ, được thực tiễn chứng minh, có sự thống nhất cao thì mới xây dựng, ban hành luật; những vấn đề tuy cấp bách, cần thiết, nhưng là vấn đề mới, chưa đạt đồng thuận cao thì có thể quy định thực hiện thí điểm. Trước mắt, chưa triển khai xây dựng những dự án luật có nội dung phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, cần có thêm thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng; Chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch, có sức cạnh tranh quốc tế; lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm; tăng cường giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước; thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Khắc phục ngay tình trạng văn bản luật thiếu tính ổn định, “luật khung, luật ống”, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Đồng thời, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong xây dựng pháp luật; chống tiêu cực ngay trong công tác xây dựng pháp luật, không bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào, không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật”[3].
Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Nghị quyết số 27) đề ra mục tiêu tổng quát là hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 đó là có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán. Đặc biệt, tại nhiệm vụ thứ 3 của Nghị quyết số 27 xác định: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả. Quy định rõ hơn quy trình xây dựng chính sách, phân định rõ quy trình lập pháp và quy trình xây dựng văn bản dưới luật. Phát huy tính năng động, sáng tạo, tích cực, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là Chính phủ trong quy trình lập pháp”; “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và Nhân dân, chuyên gia, nhà khoa học tham gia xây dựng pháp luật. Hoàn thiện cơ chế phản biện xã hội, giải trình và tiếp thu ý kiến của Nhân dân đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Bảo đảm đồng bộ, kịp thời trong xây dựng chính sách, pháp luật giữa Quốc hội với Chính phủ, giữa các bộ, giữa Trung ương và địa phương”[4].
Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định đẻ tạo lập nền tảng cho hệ thống quản lý, quản trị phát triển hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các lĩnh vực mới, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc… Tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, hiệu quả, chú trọng công tác giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật, bảo đảm việc hiểu, áp dụng pháp luật một cách thống nhất”[5].
Bên cạnh những kết quả nổi bật, Đảng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, bất cập trong quá trình xây dựng và thi hành pháp luật, như: chất lượng một số văn bản pháp luật chưa cao, tính ổn định và khả thi còn hạn chế; việc tổ chức thực thi pháp luật ở một số lĩnh vực chưa đồng bộ, còn chồng chéo, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả. Chính vì vậy, trong giai đoạn phát triển mới - đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh. Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu phải đổi mới toàn diện tư duy pháp lý, nâng cao chất lượng lập pháp, hoàn thiện thể chế, đồng thời gắn chặt việc xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật.
Có thể khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực này là nhân tố quyết định bảo đảm cho hệ thống pháp luật luôn phản ánh đúng đường lối, chủ trương của Đảng, ý chí và nguyện vọng của nhân dân; là cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc để đất nước phát triển nhanh, bền vững và hội nhập thành công. Trong thời gian tới, việc tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật sẽ không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ chiến lược, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - một Nhà nước pháp quyền thực sự của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
[1] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/cuong-linh xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-bo-sung-phat-trien-nam-2011-1528, truy cập ngày 16/3/2024.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 53.
[3] Kết luận 19-KL/TW 2021 Chương trình xây dựng pháp luật Quốc hội khóa XV, https://thuvienphapluat.vn/van ban/Bo-may-hanh-chinh/Ket-luan-19-KL-TW-2021-Chuong-trinh-xay-dung-phap-luat-Quoc-hoi-khoa-XV 491465.aspx, truy cập ngày 07/01/2025.
[4] Nghị quyết 27-NQ/TW 2022 tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-27-NQ-TW-2022-tiep-tuc-xay-dung-Nha nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-giai-doan-moi-541092.aspx, truy cập ngày 07/01/2025.
[5] Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 14/10/2025, tr.41
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Mức lương hưu hằng tháng?
Trả lời:
Căn cứ Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức lương hưu hằng tháng được quy định như sau:
1. Mức lương hưu hằng tháng của đối tượng đủ điều kiện quy định tại Điều 64 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được tính như sau:
- Đối với lao động nữ bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%;
- Đối với lao động nam bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tương ứng 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.
Trường hợp lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm, mức lương hưu hằng tháng bằng 40% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 1%.
2. Mức lương hưu hằng tháng của đối tượng là người lao động thuộc một số nghề, công việc đặc biệt đặc thù trong lực lượng vũ trang nhân dân do Chính phủ quy định. Nguồn kinh phí thực hiện từ ngân sách nhà nước.
3. Mức lương hưu hằng tháng của đối tượng đủ điều kiện quy định tại Điều 65 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được tính như quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.
Trường hợp thời gian nghỉ hưu trước tuổi dưới 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu, từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng thì giảm 1%.
4. Việc tính mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu mà có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên nhưng có thời gian đóng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam dưới 15 năm thì mỗi năm đóng trong thời gian này được tính bằng 2,25% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
5. Chính phủ quy định chi tiết về mức hưởng và điều kiện hưởng lương hưu.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu?
Trả lời:
Căn cứ Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được quy định như sau:
1. Lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm, lao động nữ có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 30 năm thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
2. Mức hưởng trợ cấp một lần cho mỗi năm đóng cao hơn quy định tại khoản 1 Điều này bằng 0,5 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho mỗi năm đóng cao hơn đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mà tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội thì mức trợ cấp bằng 02 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho mỗi năm đóng cao hơn số năm quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 kể từ sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật đến thời điểm nghỉ hưu.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Thời điểm hưởng lương hưu?
Trả lời:
Căn cứ Điều 69 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, thời điểm hưởng lương hưu được quy định như sau:
1. Thời điểm hưởng lương hưu đối với đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, i, k và l khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định và được ghi trong văn bản của người sử dụng lao động xác định việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xác định việc chấm dứt làm việc.
2. Thời điểm hưởng lương hưu đối với đối tượng quy định tại các điểm g, h, m và n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội là thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định và được ghi trong văn bản đề nghị của người lao động.
3. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết Điều 69 Luật Bảo hiểm xã hội 2024; quy định thời điểm hưởng lương hưu đối với trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 33 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024; quy định về việc tính, việc xác định điều kiện đối với từng trường hợp để giải quyết chế độ hưu trí.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc?
Trả lời:
Căn cứ Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để tính mức bình quân quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 của người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được điều chỉnh như sau:
- Đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 2016, được điều chỉnh theo mức tham chiếu tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí;
- Đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi, được điều chỉnh như quy định tại khoản 2 Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
2. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để tính mức bình quân quy định tại Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 của người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.
Tiếp nối chương trình công tác đối ngoại năm 2025, Đoàn đại biểu Ủy ban Công tác đại biểu do Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Nguyễn Tuấn Anh làm Trưởng đoàn, đã có các buổi làm việc với Quốc hội Tây Ban Nha tại Thủ đô Madrid và Nghị viện vùng Catalonia tại thành phố Barcelona, Vương quốc Tây Ban Nha từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 7 năm 2025.

Đoàn đại biểu Uỷ ban Công tác đại biểu làm việc với ông Enrique Santiago Romero, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện Tây Ban Nha
Tại Quốc hội Tây Ban Nha, Đoàn đã có buổi làm việc với ông Enrique Santiago Romero, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Hạ viện. Hai bên đã trao đổi về mô hình tổ chức và hoạt động của Quốc hội Tây Ban Nha. Ông Enrique Santiago Romero đã chia sẻ kinh nghiệm hoạt động của các nghị sĩ cánh tả và thúc đẩy hợp tác quốc tế trên nền tảng tiến bộ, hòa bình.

Đoàn đại biểu Uỷ ban Công tác đại biểu chụp ảnh lưu niệm với ông Enrique Santiago Romero
Cũng trong thời gian làm việc tại thành phố Madrid, Đoàn đã đến thăm và làm việc với Đại sứ quán Việt Nam tại Tây Ban Nha. Đại sứ Đoàn Thanh Song đã báo cáo với Đoàn về tình hình nước sở tại, quan hệ Việt Nam – Tây Ban Nha và đời sống cộng đồng người Việt tại địa phương. Đồng chí Nguyễn Tuấn Anh đánh giá cao vai trò của ngài Đại sứ nói riêng và cán bộ nhân viên sứ quán nói chung trong việc thúc đẩy hợp tác song phương, đồng thời là điểm tựa vững chắc cho cộng đồng người Việt tại Tây Ban Nha và khu vực Nam Âu.

Đoàn đại biểu Ủy ban Công tác đại biểu chào xã giao ông Josep Rull, Chủ tịch Nghị viện vùng Catalonia
Tại thành phố Barcelona là thủ phủ của vùng tự trị Catalonia, Đoàn đã chào xã giao với ông Josep Rull, Chủ tịch Nghị viện vùng tự trị Catalonia. Tại buổi gặp, hai bên đã trao đổi về mô hình tổ chức, quyền hạn và hoạt động của Nghị viện vùng Catalonia, theo chế độ đơn viện với 135 đại biểu. Đoàn đặc biệt quan tâm đến kinh nghiệm lập pháp ở cấp vùng, cơ chế giám sát chính quyền tự trị, vai trò của đại biểu dân cử trong tiếp xúc cử tri và các chính sách hỗ trợ hoạt động của nghị viện vùng với 4 tỉnh, 43 quận và 947 đô thị. Ông Josep Rull đánh giá cao chuyến thăm của Đoàn, khẳng định rất mong muốn tăng cường hợp tác nghị viện với Việt Nam.

Đoàn đại biểu Ủy ban Công tác đại biểu chụp hình lưu niệm với ông Josep Rull
Thông qua các cuộc làm việc tại Quốc hội Tây Ban Nha và Nghị viện vùng Catalonia cùng với tài liệu mà chính quyền bạn cung cấp, Đoàn công tác đã tiếp thu được nhiều kinh nghiệm hữu ích phục vụ cho công tác nghiên cứu, tham mưu xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách về đại biểu dân cử, tổ chức bộ máy, cũng như thúc đẩy quan hệ hợp tác nghị viện nói riêng và mong muốn của chính quyền của nước bạn về việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội giữa Việt Nam - Tây Ban Nha và vùng tự trị Catalonia với các địa phương của Việt Nam ngày càng hiệu quả, thực chất.