Thực hiện Chương trình công tác đối ngoại năm 2025, Đoàn đại biểu Ủy ban Công tác đại biểu do Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Tuấn Anh làm Trưởng đoàn, đã có chuyến thăm và làm việc tại Ireland từ ngày 13 -15/7/2025.
Trong khuôn khổ chuyến công tác, Đoàn đã có các cuộc làm việc với đại diện các cơ quan chuyên môn của Quốc hội Ireland nhằm trao đổi kinh nghiệm về tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động của nghị viện và các vấn đề liên quan đến đại biểu dân cử.

Đoàn đại biểu Ủy ban Công tác đại biểu do Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Tuấn Anh làm Trưởng đoàn đã làm việc với ông Stephen Mooney, Trưởng ban phụ trách dịch vụ dành cho đại biểu Quốc hội Ireland
Tại buổi làm việc với ông Stephen Mooney, Trưởng ban phụ trách dịch vụ dành cho đại biểu Quốc hội Ireland, hai bên đã trao đổi về các chế độ đãi ngộ, phụ cấp và điều kiện đảm bảo hoạt động cho đại biểu.
Tại cuộc gặp với Thượng nghị sĩ Tom Clonan, Đoàn đã trao đổi về chức năng của Quốc hội Ireland và quan điểm của đại biểu đối với các hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội.
Đoàn cũng đã làm việc với bà Elaine Gunn, Phó Tổng Thư ký Hạ viện Ireland về công tác hành chính phục vụ hoạt động của Quốc hội và với ông Martin Hughes, cán bộ cấp cao Ban Thư ký Ủy ban Quốc hội về tổng quan tổ chức, chức năng và phương thức hoạt động của các Ủy ban trong Quốc hội Ireland.

Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Tuấn Anh trao quà lưu niệm tặng bà Elaine Gunn, Phó Tổng Thư ký Hạ viện Ireland
Tại các cuộc làm việc, hai bên cùng khẳng định mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Ireland đang không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp sau gần 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (từ năm 1996), trong đó có việc tăng cường trao đổi đoàn các cấp, giao lưu giữa các Ủy ban và Nhóm Nghị sĩ hữu nghị hai nước, cũng như tổ chức các hoạt động đối thoại chính sách, hội thảo lý luận và chia sẻ kinh nghiệm lập pháp.
Đặc biệt, việc Việt Nam quyết định mở Đại sứ quán Việt Nam tại Ireland được các bên đánh giá là bước đi có ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác hữu nghị, tăng cường hiểu biết và tin cậy chính trị giữa hai nước. Việc Quốc hội 2 nước Việt Nam và Ireland đã thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị với Ireland, thể hiện quyết tâm thúc đẩy quan hệ hợp tác nghị viện ngày càng thực chất và hiệu quả.


Thông qua các cuộc làm việc, Đoàn công tác đã thu nhận được nhiều thông tin chuyên môn hữu ích, thực tiễn sinh động và một số kinh nghiệm phù hợp, góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đại biểu dân cử và tổ chức hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong thời gian tới.

Đoàn đại biểu Ủy ban Công tác đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại trụ sở Quốc hội Ireland
Trong khuôn khổ chuyến công tác, Đoàn đã làm việc với Đại sứ quán Việt Nam tại Ireland. Đại biện Phạm Toàn Thắng đã báo cáo khái quát về tình hình Ireland, quan hệ Việt Nam – Ireland, cũng như đời sống của cộng đồng người Việt và lưu học sinh tại đây. Đồng chí Nguyễn Tuấn Anh đánh giá cao vai trò của Đại sứ quán trong việc làm cầu nối thúc đẩy quan hệ hai nước, đồng thời là chỗ dựa tinh thần gắn kết cộng đồng người Việt Nam tại Ireland và khu vực.
1. Kinh nghiệm của Nghị viện Algeria
Nghị viện Algeria đã tăng cường sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để tối ưu hóa hoạt động, cải thiện tính minh bạch và củng cố nền dân chủ nghị viện. Trong đó, trí tuệ nhân tạo được thực hiện trong các hoạt động như: (1) Phân tích dữ liệu và thông tin liên quan đến luật, văn bản pháp lý, các dự án của Nghị viện; (2) Phân tích “tình cảm” và ý kiến của công chúng về các vấn đề được tranh luận tại Nghị viện; các nghị sĩ thông qua theo dõi các nền tảng mạng xã hội có thể xác định rõ hơn các ưu tiên và điều chỉnh cách tiếp cận của mình; (3) Hỗ trợ ngôn ngữ và biên dịch nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp giữa các đại biểu Quốc hội với người giữ chức vụ, nghị sĩ của nước ngoài, cũng như hỗ trợ tìm hiểu luật, văn bản pháp luật của các quốc gia và thỏa thuận, điều ước tổ chức quốc tế; (4) Tương tác với công dân, thu thập ý kiến và đề xuất của cử tri, đặc biệt là thông qua các mạng xã hội và các ứng dụng chuyên dụng; (5) Chuyển đổi các bài phát biểu được ghi âm của các nghị sĩ ở định dạng âm thanh thành văn bản viết, giúp đơn giản hóa quá trình phiên âm; (6) Định hướng chính sách công thông qua việc phân tích dữ liệu và xây dựng các khuyến nghị cho các nghị sĩ về các chính sách công và các vấn đề lớn đối với xã hội; (7) Cải thiện việc quản lý phiên họp và tranh luận bằng việc xác định các chủ đề chính và phân bổ thời gian phát biểu giữa các nghị sĩ theo các ưu tiên của phiên họp; (8) Dự báo xu hướng chính trị trong tương lai và ý kiến của người dân, từ đó giúp các nghị sĩ lập kế hoạch tốt hơn cho việc xây dựng các chính sách và chuẩn bị để ứng phó với những thách thức trong tương lai.
2. Kinh nghiệm của Quốc hội Ai Cập
Chính phủ Ai Cập đã ban hành Hiến chương Ai Cập về Trí tuệ nhân tạo, trong đó, Chính phủ chịu trách nhiệm xây dựng khuôn khổ pháp lý cho việc sử dụng công nghệ thông minh một cách có đạo đức và có trách nhiệm; thiết lập một bộ nguyên tắc và tiêu chuẩn hướng dẫn phải tuân theo bảo đảm phù hợp với các nền tảng đạo đức, nguyên tắc tôn trọng nhân quyền, bản chất của xã hội Ai Cập. Qua đó, giúp quản lý, phát triển các hệ thống trí tuệ nhân tạo và bảo đảm người sử dụng chúng theo cách có đạo đức và có trách nhiệm. Quốc hội Ai Cập là một trong những cơ quan thụ hưởng và đã sử dụng công nghệ hiện đại để quản lý công tác lập pháp và hành chính trong một thời gian dài. Tất cả các công việc hành chính liên quan đến nhân viên Quốc hội đều được thực hiện bằng các phương tiện công nghệ thông tin mới nhất nhằm đảm bảo mọi công việc tại Quốc hội diễn ra suôn sẻ. Chính phủ Ai Cập còn đầu tư vào cập nhật cơ sở hạ tầng công nghệ để áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo tại trụ sở mới của Hạ viện ở Thủ đô Hành chính nhằm giúp quản lý và phát triển công tác nghị viện trong khuôn khổ. Quan trọng nhất trong số đó là xây dựng khuôn khổ pháp lý nội bộ để kiểm soát việc sử dụng trí tuệ nhân tạo và thiết lập các Trung tâm dữ liệu tiên tiến gắn với việc áp dụng các tiêu chuẩn bảo mật hiện đại để đảm bảo an toàn thông tin. Bên cạnh việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và nghị viện chuyên biệt cho các nghị sĩ và nhân viên của Hạ viện về cách sử dụng và khai thác thông tin, tiện ích từ công nghệ trí tuệ nhân tạo trong phân tích, ra quyết định, quản lý các hoạt động nghị viện hàng ngày, giải quyết với công dân và thiết lập các hệ thống cảnh báo sớm để đánh giá liên tục các rủi ro liên quan đến trí tuệ nhân tạo.
3. Kinh nghiệm của Quốc hội Iran
Bắt đầu từ nhiệm kỳ thứ 11, Quốc hội Cộng hòa Hồi giáo Iran đã chọn bốn phương pháp tiếp cận “hiệu quả”, “phổ biến”, “thông minh hóa” và “minh bạch” nhằm tạo ra sự chuyển đổi cơ bản và hiệu quả trong các hoạt động của mình.
- Cách tiếp cận “hiệu quả”: với mục tiêu đạt được hiệu quả thì đòi hỏi phải bảo đảm về cơ sở hạ tầng và thực hiện một số biện pháp chính để bộ máy hành chính, với tư cách là một cánh tay hỗ trợ của Quốc hội, có vận hành hiệu quả tối đa thông qua việc sử dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có. Các công cụ và cơ sở hạ tầng công nghệ là một trong những động lực quan trọng nhất trong việc đạt được mục tiêu hiệu quả này.
- Cách tiếp cận “phổ biến”: Việc tiếp nhận phản hồi từ các luật đã được phê duyệt và nắm rõ thông tin, nội dung các cuộc thảo luận của Quốc hội cũng như vai trò giám sát của người dân trong nhiều lĩnh vực khác nhau giúp cho công tác hành chính, quy trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội dễ tiếp cận; tạo điều kiện thuận lợi cho việc “giao tiếp”, tương tác hiệu quả giữa người dân và Quốc hội bằng cách sử dụng công nghệ thông tin có cung cấp cho từng cá nhân trong xã hội quyền truy cập dễ dàng vào các thủ tục phê duyệt và thảo luận của Quốc hội. Ngoài ra, Quốc hội, với tư cách là cơ quan có thẩm quyền chính, đã thực hiện các biện pháp quan trọng như sau: (i) Tăng cường thông tin xã hội thông qua việc hoạt động giám sát của Quốc hội; (ii) Tham vấn ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, các học giả và tổ chức nghiên cứu thông qua chất vấn và cho ý kiến vào các dự luật tại Ủy ban; (iii) Tạo điều kiện để người dân theo dõi, đăng ký dự thính phiên họp của Quốc hội, của các Ủy ban và tại các văn phòng của đại biểu Quốc hội; (iv) Tạo điều kiện để người dân tham dự các cuộc tiếp xúc cử tri tại các đơn vị bầu cử của các đại biểu Quốc hội.
- Cách tiếp cận “thông minh hóa” nhằm tạo ra giá trị từ dữ liệu sẵn có và giúp cho các hoạt động và quy trình quản lý Quốc hội được thuận lợi hơn. Cụ thể: (1) Tiến hành tất cả các quy trình bỏ phiếu bắt buộc bằng điện tử tại hội trường chính của Quốc hội; (2) Thúc đẩy phát triển các công cụ công nghệ trong lĩnh vực sửa đổi luật bằng cách sử dụng hệ thống thông minh dựa trên trí tuệ nhân tạo có tên là Hệ thống “Trợ lý luật” dựa trên việc “số hóa tất cả dữ liệu và siêu dữ liệu của luật” và “tổng hợp, tổ chức, phân tích và phê duyệt luật”. Hệ thống Trợ lý luật đã sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu khác nhau trong các giai đoạn soạn thảo và sửa đổi luật; (3) Phát huy vai trò chính của nhánh lập pháp trong việc xem xét và phê duyệt dự luật ngân sách của quốc gia và giám sát việc thực hiện dự luật, Quốc hội đã cho thiết kế hệ thống ngân sách hàng năm của quốc gia với mục tiêu số hóa quy trình xem xét ngân sách và ngăn chặn sự can thiệp có yếu tố con người, cũng như giảm thời gian xử lý.
- Cách tiếp cận “minh bạch” tạo điều kiện cho công chúng và giới tinh hoa tiếp cận các hoạt động của các vị đại biểu Quốc hội; công dân thực hiện quyền giám sát các hoạt động của đại biểu Quốc hội như một trong những quyền bất khả xâm phạm. Việc tiếp cận “minh bạch” được thực hiện thông qua: (1) Thiết kế và thiết lập hệ thống minh bạch cho các cuộc bỏ phiếu của các đại biểu quốc hội trong các cuộc họp công khai tại hội trường chính của Quốc hội; (2) Thiết lập hệ thống bản tin trực tuyến; (3) Phát sóng trực tiếp các phiên họp công khai của Quốc hội trên nền tảng web của cơ quan thông tấn của Quốc hội và trang web chính của các tổ chức; (4) Cung cấp quyền truy cập vào thông tin chi tiết về các phiên thảo luận và thông qua của Quốc hội; (5) Cung cấp cho công chúng quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu luật.
Kết luận: Qua nghiên cứu kinh nghiệm tại nghị viện một số nước, trước hết, chuyển đổi số trong các hoạt động nghị viện cũng không tách rời xu thế chung của quá trình chuyển đổi số trong các lĩnh vực. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Quốc hội được coi là nhiệm vụ thường xuyên nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động của Quốc hội; xây dựng, phát triển các nền tảng số, công cụ số nhằm hỗ trợ toàn diện hoạt động nghị viện; tăng cường, nâng cao nhận thức của các nghị sỹ về lợi ích và tác động của các công nghệ mới đối với mọi mặt của đời sống: kinh tế, chính trị, xã hội. Tùy thuộc vào thể chế chính trị, nguồn lực tài chính, cơ cấu tổ chức và tình hình thực tiễn, mô hình chiến lược chuyển đổi số của mỗi quốc gia mà công cuộc số hóa hoạt động của nghị viện được xây dựng theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên hầu như đều dựa trên một khung cấu trúc cơ bản, gồm: tầm nhìn, các mục tiêu chiến lược cụ thể, các giải pháp, các hành động cụ thể.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3. https://www.ipu.org/digital-stories/how-worlds-parliaments-are-moving-online
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu?
Trả lời:
Căn cứ Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu được quy định như sau:
1. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 khi nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;
- Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có từ đủ 15 năm trở lên làm công việc khai thác than trong hầm lò theo quy định của Chính phủ;
- Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
2. Đối tượng quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 khi nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động, trừ trường hợp Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân, Luật Cơ yếu, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng có quy định khác;
b) Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;
c) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
3. Chính phủ quy định việc hưởng lương hưu đối với trường hợp không xác định được ngày, tháng sinh hoặc mất hồ sơ và các trường hợp đặc biệt khác.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động?
Trả lời:
Căn cứ Điều 65 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động được quy định như sau:
1. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 khi nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 20 năm trở lên thì được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 64 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi quy định tại điểm a khoản 1 Điều 64 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%;
b) Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi quy định tại điểm a khoản 1 Điều 64 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
c) Có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
2. Đối tượng quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 khi nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 64 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi quy định tại điểm a khoản 1 Điều 64 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
b) Có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
3. Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người sử dụng lao động, 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Điều chỉnh lương hưu?
Trả lời:
Căn cứ Điều 67 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, điều chỉnh lương hưu được quy định như sau:
1. Lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội.
2. Điều chỉnh mức tăng lương hưu thỏa đáng đối với đối tượng có mức lương hưu thấp và nghỉ hưu trước năm 1995 bảo đảm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người nghỉ hưu ở các thời kỳ.
3. Chính phủ quy định thời điểm, đối tượng, mức điều chỉnh lương hưu quy định tại Điều 67 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV (tháng 10, 11/2024), Chính phủ đã trình Quốc hội Báo cáo số 40/BC-CP ngày 16/10/2024 về đánh giá tình hình thực hiện NSNN năm 2024 và dự toán NSNN năm 2025, trong đó đã đánh giá khả năng thực hiện thu, chi và bội chi NSNN năm 2024, với: tổng thu NSNN ước đạt 1.873,3 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so dự toán; tổng chi NSNN ước đạt 2.281,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,7% so dự toán (không kể 172,3 nghìn tỷ đồng chi từ nguồn tăng thu NSNN, chi NSNN theo dự toán ước đạt 99,5% dự toán); bội chi NSNN ước đạt khoảng 389,4 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 3,4%GDP ước thực hiện, giảm 10 nghìn tỷ đồng so dự toán do giảm bội chi của ngân sách địa phương (NSĐP).
Những tháng cuối năm 2024, trong bối cảnh môi trường quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen. Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm, nhiều rủi ro; xung đột vũ trang, bất ổn chính trị, xã hội tại một số quốc gia, khu vực còn diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, nhất là trong việc phát triển và ứng dụng công nghệ mới (chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo,...) để tạo động lực bứt phá cho phát triển kinh tế, thu hút đầu tư. Ở trong nước, tổng cầu tiêu dùng phục hồi còn chậm; sản xuất kinh doanh của một số ngành, lĩnh vực còn nhiều khó khăn; biến đổi khí hậu diễn biến bất thường, mưa bão, sạt lở đất nghiêm trọng diễn ra ở nhiều địa phương, đặc biệt là cơn bão số 3 (Yagi) gây thiệt hại lớn về hạ tầng kinh tế - xã hội và ảnh hưởng đến đời sống người dân.
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo sát sao, điều hành linh hoạt, quyết liệt, kịp thời với nhiều phương châm và hành động cụ thể; các bộ, ngành, địa phương phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong điều hành, tham mưu đề xuất ban hành kịp thời và triển khai có hiệu quả các chính sách tài khóa, đồng bộ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; cùng với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, nền kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ, kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn được đảm bảo (đạt và vượt 15/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 đã đề ra). Tăng trưởng GDP đạt 7,09%[1], tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 15,4%, xuất siêu 24,77 tỷ USD, cán cân thương mại tiếp tục được cải thiện; dư nợ công cuối năm 2024 khoảng 34,7% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 32,2% GDP, dư nợ vay nước ngoài của quốc gia khoảng 31,8%GDP, giảm so với năm trước, thấp hơn mức trần và ngưỡng cảnh báo được Quốc hội cho phép, góp phần củng cố nền tảng vĩ mô, an ninh tài chính và tín nhiệm quốc gia; quốc phòng, an ninh được giữ vững; các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chăm lo cho các đối tượng chính sách, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe người dân được quan tâm thực hiện tốt.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế, chính trị thế giới được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Kinh tế nước ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ môi trường quốc tế, nhất là chính sách áp thuế đối ứng của Mỹ, cũng như những vấn đề nội tại của nền kinh tế; ảnh hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và tài chính – NSNN năm 2025. Việc tiếp tục đề xuất, ban hành các chính sách giảm, gia hạn thuế, tiền thuê đất phát sinh ngoài dự toán tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, nhất là các đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp của chính sách áp thuế đối ứng của Mỹ, sẽ tác động đến thu NSNN năm 2025[2].
Để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu dự toán NSNN năm 2025, huy động đảm bảo nguồn lực đầu tư tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt 8% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần đoàn kết, tự lực, tự cường, chủ động, linh hoạt, đổi mới, sáng tạo trong việc triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp, nhiệm vụ chủ yếu, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2025 tại Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 25/NQ-CP của Chính phủ. Trong đó, tập trung thực hiện các giải pháp sau:
Một là, tăng cường theo dõi, bám sát tình hình chính trị - kinh tế thế giới và trong nước, nhất là động thái chính sách của Mỹ và các nền kinh tế lớn, các đối tác kinh tế, thương mại lớn của Việt Nam, không để bị động, bất ngờ, từ đó chủ động đề xuất các biện pháp chính sách tài khóa, tiền tệ và chính sách vĩ mô khác để ứng phó, xử lý kịp thời.
Hai là, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các chính sách tài khóa hỗ trợ nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, nhất là các đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp của chính sách áp thuế đối ứng của Mỹ. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về thu NSNN, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế; có giải pháp quản lý chặt chẽ nguồn thu, chống thất thu; phấn đấu thu NSNN năm 2025 tăng 10% so ước thực hiện năm 2024, đảm bảo tỷ lệ động viên thu NSNN đạt trên 16%GDP, góp phần tạo nguồn lực cho cân đối NSNN, tạo thêm nguồn tăng thu bổ sung cho chi đầu tư phát triển.
Ba là, tổ chức điều hành chi NSNN chặt chẽ, hiệu quả, trong phạm vi dự toán Quốc hội quyết định. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, chủ động rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ chi; tiết kiệm 10% chi thường xuyên tăng thêm dự toán năm 2025 so với dự toán năm 2024 để tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên tăng thêm dự toán năm 2025 so với dự toán năm 2024 để bổ sung đầu tư cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng theo Nghị quyết số 192/2025/QH15 của Quốc hội; đảm bảo nguồn lực cho đầu tư công theo Kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt 8% trở lên, nguồn lực thực hiện chế độ đối với cán bộ, công chức khi sắp xếp bộ máy, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương tập trung thực hiện giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các công trình, dự án trọng điểm quan trọng quốc gia, đường cao tốc, liên vùng, ven biển và các Chương trình mục tiêu quốc gia. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong giải ngân đầu tư công (nhất là về đất đai, giải phóng mặt bằng). Phấn đấu giải ngân 95% kế hoạch vốn được giao để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Các địa phương chủ động sử dụng dự phòng, dự trữ và các nguồn lực hợp pháp của địa phương để xử lý các nhiệm vụ chi phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh; các nhiệm vụ chi đột xuất, cấp bách phát sinh theo quy định.
Bốn là, quản lý, kiểm soát chủ động, linh hoạt và hiệu quả bội chi ngân sách nhà nước, nợ công, các nghĩa vụ nợ dự phòng của NSNN, nợ chính quyền địa phương; tận dụng dư địa bội chi NSNN và nợ công để huy động thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển. Thanh toán trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn. Tiếp tục thực hiện các giải pháp cơ cấu lại danh mục nợ công theo hướng an toàn, bền vững.
Năm là, hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế kiểm tra, giám sát giá cả, thị trường. Đảm bảo sự vận hành ổn định, an toàn của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Quyết liệt thực hiện các giải pháp, nhiệm vụ để nâng hạng thị trường chứng khoán năm 2025.
Sáu là, tập trung triển khai tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; đẩy nhanh tiến độ thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm dự toán thu NSNN. Các bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai các nhiệm vụ tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2022-2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1479/QĐ-TTg ngày 29/11/2022 và Quyết định số 184/QĐ-TTg ngày 20/2/2024 nhưng chưa có doanh nghiệp nào được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa.
Tham khảo:
1. Báo cáo số 221/BC-CP ngày 17 tháng 4 năm 2025 Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2024, tình hình triển khai thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2025.
[1] Trong đó, GDP quý I tăng 5,98%, quý II tăng 7,25%, quý III tăng 7,43%, quý IV tăng 7,55% so cùng kỳ năm 2023.
[2] Gồm: (i) giảm thuế suất thuế GTGT từ 10% xuống 8% theo quy định tại Nghị định số 180/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ, áp dụng từ ngày 01/01/2025 đến hết ngày 31/06/2025; (ii) giảm mức thuế BVMT đối với xăng, dầu, mỡ nhờn theo Nghị quyết số 60/2024/UBTVQH15 ngày 24/12/2024 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, áp dụng cả năm 2025; (iii) giảm thuế theo Nghị định số 73/2025/NĐ-CP ngày 31/3/2025 sửa đổi, bổ sung mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi của một số mặt hàng theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP; (iv) ưu đãi lệ phí trước bạ đối với ô tô điện chạy pin theo Nghị định số 51/2025/NĐ-CP ngày 01/3/2025,….
Tại Việt Nam, tiến trình tiếp cận với chuyển đổi số tương đối chậm nhưng đến nay cũng đang diễn ra rất mạnh mẽ, sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm hướng tới kinh tế số, xã hội số. Đối với Quốc hội, chuyển đổi số là cơ hội để giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội hoạt động hiệu quả hơn, cởi mở, minh bạch hơn và tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động của Quốc hội, từ đó tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
Những thách thức tiềm ẩn
Kinh nghiệm thực tiễn về chuyển đổi số trong hoạt động của Quốc hội một số nước cho thấy, mặc dù việc ứng dụng công nghệ, kỹ thuật nhằm thực hiện chuyển đổi số trong hầu hết các hoạt động của Quốc hội để hiện đại hóa, hợp lý hóa và cải tiến hoạt động của Quốc hội, mang lại khả năng quản lý dữ liệu tốt hơn, ra quyết định nhanh hơn và hiệu quả hơn, nhưng việc tích hợp các công nghệ kỹ thuật số vào hoạt động của Quốc hội cũng đặt ra những thách thức. Trong đó, đảm bảo tính bảo mật và tính toàn vẹn của các nền tảng kỹ thuật số là tối quan trọng, vì các mối đe dọa an ninh mạng có thể gây ra rủi ro cho thông tin nhạy cảm của Quốc hội.
Bên cạnh đó, việc triển khai công nghệ số có trách nhiệm đòi hỏi phải cân nhắc thận trọng đối với các tác động về mặt đạo đức và pháp lý. Khi các công nghệ thông tin, công nghệ tiên tiến ngày càng được tích hợp vào các hoạt động của Quốc hội, điều quan trọng là phải giải quyết các mối lo ngại liên quan đến quyền riêng tư dữ liệu, sự “thiên vị” của thuật toán và tác động tiềm ẩn đến việc làm và các quy trình lập pháp.
Ngoài ra, việc sử dụng công nghệ của Trí tuệ nhân tạo AI đặt ra một loạt rủi ro cần được xem xét nghiêm túc và quản lý hiệu quả như:
- Mất việc làm: việc triển khai AI và chuyển đổi kỹ thuật số trên diện rộng trong nhiều lĩnh vực có thể làm giảm nhu cầu về nguồn nhân lực trong nhiều công việc, dẫn đến mất việc làm và thay đổi cấu trúc trên thị trường lao động. Nếu khía cạnh này không được giải quyết trong chiến lược số hóa quốc gia, nó có thể dẫn đến các hiện tượng xã hội tiêu cực.
- Không bảo vệ đầy đủ Dữ liệu cá nhân: Việc thu thập và phân tích lượng lớn dữ liệu bằng AI có thể tiềm ẩn nguy cơ vi phạm quyền riêng tư.
- Phân biệt đối xử và bất bình đẳng xã hội: Các hệ thống AI có thể bị ảnh hưởng bởi những thành kiến dẫn đến phân biệt đối xử với một số nhóm công dân nhất định. Các hệ thống AI có thể được lập trình để phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, giới tính hoặc giai cấp xã hội.
- Mối đe dọa mạng: Hệ thống AI có thể bị tin tặc tấn công và khai thác cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm tấn công mạng và thao túng dữ liệu.
- Hậu quả kinh tế và xã hội: Việc sử dụng AI có thể làm trầm trọng thêm bất bình đẳng kinh tế và xã hội giữa các nước phát triển và đang phát triển.
- Mối quan hệ thay đổi giữa cá nhân và công nghệ: Sự tiến hóa của công nghệ có thể thay đổi hoàn toàn mối quan hệ giữa cá nhân và công nghệ, làm dấy lên mối lo ngại về việc mất kiểm soát hoặc hậu quả về mặt tâm lý và xã hội của sự thay đổi này. Việc quá phụ thuộc vào AI có thể dẫn đến mất đi các kỹ năng của con người và làm tăng rủi ro bảo mật.
- Tác động tiêu cực đến môi trường do tiêu thụ năng lượng cần thiết để vận hành AI.
Một số khuyến nghị cho Quốc hội Việt Nam
Hành lang chính trị, pháp lý về chuyển đổi số tại Việt Nam thời gian qua đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt chú trọng, cụ thể:
- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế”; “thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”; “chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”.
- Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã nêu mục tiêu đến năm 2025 cơ bản hoàn thành chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, trong đó tiên phong thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong các cơ quan đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm thống nhất, kết nối liên thông và đồng bộ.
- Luật Dữ liệu năm 2024 là công cụ pháp lý, cơ sở pháp lý quan trọng cho thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, góp phần nâng tầm xếp hạng chuyển đổi số quốc gia, giúp chuyển đổi số các ngành, các cấp, các địa phương.
- Nghị quyết số 1343/NQ-UBTVQH15 ngày 31/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xây dựng và phát triển Quốc hội số giai đoạn 2024-2026, tầm nhìn đến năm 2030.
- Nghị quyết số 1637/NQ-UBTVQH15 ngày 13/5/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phê duyệt Đề án Chuyển đổi số của Quốc hội giai đoạn 2025-2030.
Tuy nhiên, chuyển đổi số không phải là thêm một nhiệm vụ mới, mà là thêm một cách làm mới, là thay đổi về phương thức hoạt động, cách thức triển khai công việc. Chuyển đổi số chính là dựa trên dữ liệu lớn, sử dụng dữ liệu để ra các quyết định. Do vậy, khi triển khai chuyển đổi số cần tập trung vào ba vấn đề: Nhận thức, Công cụ và Kỹ năng và Quốc hội cũng không phải là ngoại lệ. Theo đó, giải pháp cần hướng đến là:
- Quá trình xây dựng và phát triển quốc gia nói chung, của khu vực công nói riêng, đặc biệt là của Quốc hội sẽ không thể thiếu được vai trò của “người tiên phong”. Để thực hiện thành công vai trò dẫn dắt trong chuyển đổi số thì Quốc hội phải là một trong những cơ quan thực hiện chuyển đổi số trước. Hay nói cách khác, phải thực hiện chính quyền số, tạo nên các nền tảng dữ liệu số để thực hiện công vụ, phục vụ Nhân dân. Sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo Quốc hội, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sự nỗ lực của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và sự quyết tâm của Văn phòng Quốc hội với vai trò là cơ quan được giao nhiệm vụ bảo đảm điều kiện hoạt động của Quốc hội là những nhân tố quyết định cho sự thành công của chuyển đổi số.
- Điều kiện quan trọng tiếp theo cho sự phát triển kỹ thuật số là sự sẵn sàng và khả năng thích ứng của các cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện những thay đổi cần thiết. Do đó, cần các công cụ, cụ thể là các nền tảng số Việt Nam để cán bộ, công chức, viên chức công tác tại Quốc hội sử dụng trong phục vụ công việc. Đồng thời, cần định kỳ tổ chức các lớp tập huấn giúp cho các cán bộ, công chức, viên chức sử dụng các công cụ, nền tảng ấy một cách thành thục, hiệu quả.
- Cần bắt đầu việc chuyển đổi số bằng phương pháp với quy mô nhỏ - chuyển đổi từng phần. Quá trình chuyển đổi số là quá trình liên tục: thu thập dữ liệu, thay đổi cải tiến dựa trên dữ liệu này, tiếp tục thu thập dữ liệu từ sự thay đổi, tiếp tục chuyển đổi… và có thể áp dụng trong từng bộ phận nhỏ của tổ chức hoặc chỉ trong một số quy trình, thủ tục nhằm hạn chế thiệt hại khi mắc sai lầm. Việc thường xuyên cập nhật, nắm bắt sự ra đời các công nghệ, dịch vụ mới sẽ hỗ trợ thực hiện các giải pháp ngắn hạn này.
- Thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động Quốc hội bao gồm các quy định và cách thức làm việc của Quốc hội để các đại biểu Quốc hội có thể tham gia và ứng dụng trực tuyến, chuyển đổi số nhiều hơn, tận dụng các nền tảng tương tác nhằm hỗ trợ đối thoại trực tiếp giữa cử tri và đại biểu Quốc hội, thúc đẩy sự tham gia của các nhóm, đặc biệt là giới trẻ vào các hoạt động Quốc hội. Đồng thời, bảo đảm tất cả các đại biểu Quốc hội được trang bị kiến thức cần thiết và được hỗ trợ kỹ thuật, trang thiết bị… để tham gia đầy đủ vào các quy trình thủ tục lập pháp trực tuyến; phát triển nền tảng trợ lý ảo hỗ trợ các đại biểu Quốc hội; sử dụng công cụ AI để nâng cao chất lượng lập pháp và xây dựng thư viện số về hệ thống pháp luật của các quốc gia và công cụ tìm kiếm.
- Đặc biệt, xây dựng khung pháp lý phù hợp và tăng cường hợp tác quốc tế để thúc đẩy chuyển đổi số, bảo vệ chủ quyền số của các quốc gia; ban hành các chính sách và thủ tục phù hợp để ngăn chặn và ứng phó với các hình thức quấy rối và bạo lực trên mạng đối với các đại biểu Quốc hội, bao gồm cả bạo lực với các nữ đại biểu Quốc hội[1].
- Chia sẻ thông tin, dữ liệu số và cộng tác cùng doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp khai thác các giá trị dữ liệu số của cơ quan nhà nước, làm nền tảng thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số. Chuyển đổi số không ai có thể làm riêng lẻ mà phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội, của từng cá nhân và tập thể.
- Ngoài ra, việc tối ưu hóa các quy trình hành chính trong quản lý nhà nước phải được thực hiện vì lợi ích của người tiêu dùng cuối cùng - xã hội. Do đó, cần tạo sự sẵn sàng của người dân để tương tác với các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, bao gồm cả thông qua công nghệ thông tin, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tốc độ chuyển đổi đang được thực hiện.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cần tăng cường chuyển đổi số trong hoạt động nghị viện (Phiên thảo luận chuyên đề về Chuyển đổi số của Hội nghị Nghị sỹ trẻ toàn cầu lần thứ 9, năm 2023 tại Hà Nội). Nguồn: https://quochoi.vn/pages/tim-kiem.aspx?ItemID=80156
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản?
Trả lời:
Căn cứ Điều 61 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản được quy định như sau:
1. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con hoặc lao động nữ mang thai hộ sinh con hoặc lao động nữ nhờ mang thai hộ là bản sao giấy khai sinh hoặc trích lục khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con và giấy tờ khác trong các trường hợp sau đây:
- Giấy tờ chứng minh quá trình điều trị vô sinh của lao động nữ trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
- Bản sao giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử của lao động nữ sinh con, lao động nữ nhờ mang thai hộ trong trường hợp chết sau khi sinh con;
- Bản chính hoặc bản sao văn bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về tình trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con hoặc lao động nữ nhờ mang thai hộ sau khi nhận con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con;
- Bản chính hoặc bản sao giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về việc lao động nữ phải nghỉ việc để dưỡng thai trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
- Bản sao bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 96 của Luật Hôn nhân và gia đình và bản sao văn bản xác nhận thời điểm giao nhận con giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ trong trường hợp lao động nữ mang thai hộ sinh con hoặc lao động nữ nhờ mang thai hộ nhận con.
2. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con và lao động nữ mang thai hộ sinh con trong trường hợp con chết ngay sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh, lao động nữ mang thai từ 22 tuần tuổi trở lên đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 là một trong các giấy tờ sau đây:
- Bản chính hoặc bản sao bản tóm tắt hồ sơ bệnh án có thể hiện thông tin con chết, thai chết;
- Bản chính hoặc bản sao giấy ra viện của lao động nữ sinh con hoặc của lao động nữ mang thai hộ sinh con có thể hiện thông tin con chết, thai chết;
- Bản sao giấy báo tử của con;
- Văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp con chết trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
3. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ khi khám thai theo quy định tại Điều 51 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024; lao động nữ sảy thai, phá thai hoặc có thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ, thai ngoài tử cung theo quy định tại Điều 52 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024; người lao động thực hiện biện pháp tránh thai theo quy định tại Điều 57 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 là một trong các giấy tờ sau đây:
- Bản chính hoặc bản sao giấy ra viện hoặc bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy tờ chứng minh quá trình điều trị nội trú của người lao động trong trường hợp điều trị nội trú;
- Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội trong trường hợp điều trị ngoại trú;
- Bản chính hoặc bản sao giấy ra viện có thể hiện thông tin chỉ định về thời gian cần điều trị ngoại trú sau thời gian điều trị nội trú.
4. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản đối với người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi bao gồm bản sao giấy chứng nhận nuôi con nuôi và biên bản giao nhận con.
5. Hồ sơ đề nghị nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc hưởng trợ cấp một lần đối với lao động nam khi vợ sinh con là bản sao giấy khai sinh hoặc trích lục khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con; trường hợp giấy chứng sinh không thể hiện thông tin về việc sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi thì cần thêm bản chính hoặc bản sao văn bản của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thể hiện thông tin về việc sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi.
Trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh thì hồ sơ là bản chính hoặc bản sao bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ có thể hiện thông tin về con chết.
6. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản đối với người chồng của lao động nữ nhờ mang thai hộ hưởng trợ cấp một lần khi nhận con phải có bản sao giấy khai sinh hoặc trích lục khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con. Trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh thì hồ sơ là bản sao bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc bản chính hoặc bản sao giấy ra viện của người mang thai hộ có thể hiện thông tin về con chết hoặc văn bản khác của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thể hiện thông tin về con chết sau khi sinh.
7. Hồ sơ đề nghị nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc hưởng trợ cấp một lần đối với người chồng của lao động nữ mang thai hộ khi vợ sinh con bao gồm các giấy tờ sau đây:
- Bản sao giấy chứng sinh hoặc trích lục khai sinh hoặc bản sao giấy khai sinh; trường hợp giấy chứng sinh không thể hiện thông tin về việc sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi thì cần thêm bản chính hoặc bản sao văn bản của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thể hiện thông tin về việc sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi;
- Bản sao bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 96 của Luật Hôn nhân và gia đình.
8. Trường hợp các giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 61 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hoặc các giấy tờ có nội dung tương tự do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền của nước ngoài cấp thì phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
- Có bản dịch tiếng Việt được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực;
- Được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
9. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mẫu, trình tự, thẩm quyền cấp các giấy tờ trong hồ sơ quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 61 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 do các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp và quy định giấy tờ thay thế trong trường hợp bất khả kháng do thiên tai, thảm họa, dịch bệnh.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Giải quyết hưởng chế độ thai sản đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc?
Trả lời:
Căn cứ Điều 62 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, giải quyết hưởng chế độ thai sản đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
1. Người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại Điều 61 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho người sử dụng lao động. Thời hạn nộp hồ sơ chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập danh sách người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản kèm theo hồ sơ quy định tại Điều 61 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
2. Người lao động nộp hồ sơ quy định tại Điều 61 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong trường hợp thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi hoặc không còn người sử dụng lao động.
3. Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người sử dụng lao động, 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Năm 2024 là năm thứ tư thực hiện Kế hoạch 05 năm 2021 - 2025, năm quyết liệt, tăng tốc, bứt phá để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) 05 năm 2021 - 2025. Cả nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển KTXH trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp với nhiều yếu tố bất định và rủi ro khó lường. Bất ổn địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; thị trường tài chính, tiền tệ, giá vàng, xăng dầu, nguyên vật liệu, hàng hóa, vận tải thế giới biến động mạnh. Trong nước, tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, độ mở cao, quy mô còn khiêm tốn, khả năng cạnh tranh, sức chống chịu bên ngoài còn hạn chế; cần dành thời gian, nguồn lực để khắc phục những hạn chế, bất cập, tồn đọng từ nhiều năm và giải quyết những vấn đề đột xuất, phát sinh, ứng phó, khắc phục hậu quả của thiên tai.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng mà thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự đồng hành, phối hợp của Quốc hội; sự tham gia toàn hệ thống chính trị; sự chung sức, đồng lòng, ủng hộ của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương tiếp tục phát huy đoàn kết, coi trọng thời gian, trí tuệ; bám sát tình hình thực tiễn, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách, có phản ứng chính sách đúng, trúng, kịp thời; tập trung chỉ đạo điều hành chủ động, quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, làm việc nào dứt việc đó, khẩn trương triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trên tất cả các lĩnh vực. Nhờ đó, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi, toàn diện các mục tiêu phát triển KTXH; đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu phát triển KTXH đã đề ra; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế cao hơn mục tiêu đề ra, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm và có thặng dư cao, an sinh xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên; tạo nền tảng, tạo đà, khí thế mới, tâm thế mới, tạo hi vọng, tạo động lực mạnh mẽ để đất nước ta bước vào năm 2025 với niềm tin hoàn thành và đạt kết quả cao nhất các nhiệm vụ, chỉ tiêu của cả giai đoạn 2020 - 2025, hướng tới kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc. Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) được đẩy mạnh và phát huy trên nhiều lĩnh vực, góp phần huy động, quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất nước.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quán triệt, chấp hành nghiêm, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội; tiếp tục phát huy kết quả đạt được, kiên quyết, kiên trì, bản lĩnh vững vàng, không lùi bước trước khó khăn, thách thức; quyết tâm xây dựng tổ chức bộ máy trong sạch, vững mạnh toàn diện, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đổi mới tư duy trong chỉ đạo, điều hành; đột phá, tự tin, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; nỗ lực cao nhất để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; thực hiện nghiêm các quy định của Luật THTK, CLP. Một số kết quả nổi bật trong công tác chỉ đạo, điều hành như sau:
1. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 05/01/2024 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH và dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2024, yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, vượt qua mọi thách thức, giữ vững tinh thần vượt khó, đoàn kết, tự lực, tự cường, chủ động thích ứng, linh hoạt, hành động quyết liệt, khoa học, hiệu quả, tích cực đổi mới, sáng tạo theo chủ đề “Kỷ cương trách nhiệm; chủ động kịp thời; tăng tốc sáng tạo; hiệu quả bền vững” với 6 quan điểm, trọng tâm chỉ đạo, điều hành, 12 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1764/QĐ-TTg ngày 31/12/2023 về việc ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về THTK, CLP năm 2024, đề ra 09 nhiệm vụ trọng tâm, 05 nhóm giải pháp chủ yếu về THTK, CLP trong các lĩnh vực, nhằm thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, thực chất các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp THTK, CLP trong các lĩnh vực, góp phần huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tạo nguồn cải cách tiền lượng, đảm bảo giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm cân đối lớn của nền kinh tế; tạo chuyển biến thực chất hơn trong nhận thức và hành động của các CBCCVC, người lao động và nhân dân về THTK, CLP. Các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã ban hành và thực hiện tốt chương trình, kế hoạch hành động thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình THTK, CLP năm 2024 của bộ, ngành, địa phương mình, theo quy định của Luật THTK, CLP.
Xác định phòng, chống lãng phí là nhiệm vụ cấp bách, ưu tiên phải làm ngay; triển khai kịp thời hiệu quả công tác phòng, chống lãng phí theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong năm 2024, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống lãng phí của Chính phủ[1]; ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống lãng phí, điển hình như:
(1) Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 04/01/2024 về tăng cường tiết kiệm chi NSNN; Công điện số 125/CĐ-TTg ngày 01/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí;
(2) Công điện số 112/CĐ-TTg ngày 6/11/2024 và Công điện số 13/CĐ- TTg ngày 08/02/2025 về tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng, dừng thi công, khẩn trương triển khai, hoàn thành, đưa vào sử dụng chống lãng phí, thất thoát.
(3) Công điện số 131/CĐ-TTg ngày 11/12/2024 về việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm phiền hà, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp ngay từ khâu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
(4) Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 17/3/2025 về đẩy mạnh phòng, chống lãng phí, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 26/6/2024 Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chương trình đưa ra 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: Quán triệt, nâng cao nhận thức, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác THTK, CLP; tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động về THTK, CLP; tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật THTK, CLP; xây dựng và tổ chức triển khai có hiệu quả chiến lược và chương trình quốc gia về THTK, CLP 05 năm, hằng năm; tăng cường công tác quản lý nhà nước, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực quốc gia.
3. Ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, công khai chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế; hướng tín dụng vào sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Ban hành nhiều giải pháp chính sách tài khóa, miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và các khoản thu ngân sách. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách nhà nước; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; kiểm soát chặt chẽ bội chi, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia. Quản lý thị trường bảo hiểm, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, thị trường vàng lành mạnh, an toàn, hiệu quả, bền vững. Chú trọng công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, gian lận xuất xứ hàng hóa.
4. Thực hiện “5 quyết tâm”, “5 đảm bảo” trong giải ngân vốn đầu tư công; tăng cường hoạt động của các tổ công tác đôn đốc giải ngân vốn đầu tư công. Kiên quyết điều chuyển số vốn chưa phân bổ, chậm giải ngân sang các dự án quan trọng, trọng điểm có khả năng giải ngân tốt hơn và thiếu vốn. Thường xuyên đôn đốc, tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy tiến độ các dự án quan trọng, trọng điểm. Kịp thời tháo gỡ vướng mắc; đẩy mạnh triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia.
5. Thực hiện quyết liệt cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng truyền thống, thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới (kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các ngành, các lĩnh vực mới nổi). Tập trung hoàn thành sắp xếp lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy nguồn lực đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đầu đàn, doanh nghiệp dân tộc; triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.
6. Triển khai hiệu quả Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển các vùng KTXH; ban hành Kế hoạch thực hiện quy hoạch 06 vùng KTXH thời kỳ 2021 2030, tầm nhìn 2050, khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế của từng vùng. Tiếp tục rà soát quy hoạch tình phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch kỹ thuật, chuyên ngành. Trình Quốc hội thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi); chỉ đạo xây dựng triển khai nhiều dự án lớn, trọng điểm có tính lan tỏa tại nhiều vùng, địa phương để thúc đẩy phát triển KTXH.
7. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, đột phá của đột phá trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo Nghị quyết số 27-NQ/TW. Thành lập Ban Chỉ đạo rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật với nhiều hoạt động khẩn trương, tích cực. Tổ chức quán triệt, triển khai các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua. Khẩn trương xây dựng, ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Tích cực sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; thành lập Ban Chỉ đạo của Chính phủ tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, kiện toàn cơ cấu tổ chức của Chính phủ trên cơ sở tổ chức hợp lý các bộ đa ngành, đa lĩnh vực; tổng kết, xây dựng dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi). Thực hiện chính sách cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo Nghị quyết số 27-NQ/TW theo lộ trình phù hợp, từng bước thận trọng, chắc chắn, hiệu quả.
8. Tập trung chỉ đạo, điều hành chủ động, kịp thời, toàn diện các chính sách, giải pháp an sinh xã hội, cải thiện đời sống của Nhân dân. Triển khai điều chỉnh mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động; lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và mức chuẩn trợ giúp xã hội,... Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, bền vững và hội nhập, kết nối cung - cầu lao động;...
9. Quyết liệt triển khai Chương trình công tác năm 2024 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các kết luận, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư - Trưởng Ban Chỉ đạo với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, ban hành chương trình hành động thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác THTK, CLP; Tập trung phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, THTK, CLP trong các lĩnh vực: Quản lý NSNN, sử dụng vốn đầu tư, tài sản công, tài nguyên, khoáng sản, tài sản nhà nước,...
Tham khảo:
Báo cáo số 218/BC-CP ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2024.
[1] Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 17/12/2024 về việc thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống lãng phí và Quyết định số 145/QĐ-BCĐ ngày 17/12/2024 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống lãng phí.
Chuyển đổi số là xu thế tất yếu và đòi hỏi khách quan của sự phát triển trong thời đại ngày nay, mở ra cơ hội cho các quốc gia bứt phá vươn lên. Bước vào thế kỷ XXI, hầu hết Quốc hội của các quốc gia đều đã sử dụng công cụ kỹ thuật số ở những mức độ nhất định khác nhau. Tầm quan trọng và tác động chiến lược của chuyển đổi số đã được thúc đẩy và thể hiện bởi các sự kiện làm thay đổi thế giới như Đại dịch COVID-19.
1. Kinh nghiệm của Nghị viện Vương quốc Anh
Trong những năm gần đây, Nghị viện Anh đã có những bước tiến đáng kể trong việc hiện đại hóa các quy trình lập pháp thông qua việc triển khai các công nghệ số.
Trung tâm lập pháp: ra mắt vào ngày 27/02/2021, Trung tâm lập pháp được xem là một trong những cải tiến quan trọng nhất. Hệ thống mới này thay thế Cơ sở kiến thức về dự luật đã lỗi thời, cung cấp nền tảng hiệu quả và đáng tin cậy hơn để quản lý, chỉnh sửa dữ liệu lập pháp tại cả Thượng viện và Hạ viện. Trung tâm lập pháp bao gồm một số thành phần như: ứng dụng quản trị nội bộ mới, một loạt API[1] cho người dùng nội bộ và bên ngoài; trang cải tiến kỹ thuật số về dự luật trên web của Nghị viện.
Ứng dụng quản trị nội bộ được phát triển bằng các công nghệ web mới nhất, giúp dễ dàng bảo trì và điều chỉnh khi nhu cầu của Nghị viện thay đổi theo thời gian. Các API giúp dữ liệu lập pháp dễ tiếp cận hơn với nhiều bên liên quan, trong khi trang dự luật mới cung cấp giao diện được cập nhật, thân thiện với người dùng cho công chúng.
Cải tiến kỹ thuật số này đối với quy trình lập pháp chỉ là bước khởi đầu. Các tích hợp sâu hơn với các hệ thống nghị viện khác và hệ thống Nhà lập pháp mới để soạn thảo luật đang được tiến hành, điều này sẽ bảo đảm hiệu quả và tính minh bạch cao hơn nữa trong quy trình lập pháp.
Member Hub và Peer Hub: Một chuyển đổi số quan trọng khác trong Nghị viện Anh là sự phát triển của Member Hub và Peer Hub, đóng vai trò là nền tảng an toàn cho các thành viên của Hạ viện và Thượng viện. Member Hub cho phép các thành viên đặt câu hỏi cho Chính phủ, phân công nhiệm vụ một cách an toàn cho nhân viên của họ và nhận thông báo về các vấn đề quan trọng của Nghị viện.
Khi đại dịch COVID-19 bùng phát, Member Hub đã đóng vai trò quan trọng trong việc cho phép các thành viên của Hạ viện bỏ phiếu điện tử từ xa. Bằng việc sử dụng cơ sở mã an toàn và ổn định của Member Hub, một hệ thống bỏ phiếu từ xa mới để thay thế đã nhanh chóng được phát triển, cho phép các thành viên bỏ phiếu bằng cách xác thực đa yếu tố.
Tại Hạ viện, do không có nền tảng kỹ thuật số nào hiện có cho các tương tác thủ tục nên Peer Hub đã được nhanh chóng tạo ra chỉ trong năm tuần. Peer Hub được xây dựng dựa trên nền tảng của Member Hub, đồng thời điều chỉnh để phù hợp với các quy tắc và quy trình độc đáo của Thượng viện. Peer Hub cũng có các sáng kiến kỹ thuật số bổ sung, chẳng hạn như thông tin về các phiên họp hàng ngày, danh sách nghị sĩ phát biểu. Bên cạnh đó, Hạ viện còn phát triển tính năng mới có tên My Attendance, cho phép các thành viên theo dõi sự tham gia và thực hiện điểm danh để tính toán các khoản như lương, phụ cấp.
2. Kinh nghiệm của Nghị viện Malaysia
Trong những năm gần đây, Nghị viện Malaysia đã bắt đầu hành trình đầy tham vọng về chuyển đổi số và đổi mới, phản ánh cam kết rộng rãi hơn trong việc hiện đại hóa các quy trình lập pháp và nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự chuyển đổi này không chỉ đơn thuần là việc áp dụng các công nghệ mới mà còn là điển hình cho một cuộc đại tu chiến lược về các hoạt động của Nghị viện nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của một môi trường chính trị năng động và một xã hội ngày càng số hóa.
Chuyển đổi số của Nghị viện Malaysia tập trung vào việc triển khai một số nền tảng số nhằm hợp lý hóa các hoạt động của Nghị viện. Một trong những phát triển quan trọng nhất là việc phát triển Cổng thông tin Quốc hội và Ứng dụng di động, đã thay đổi cơ bản cách thức phổ biến thông tin. Cổng thông tin này đóng vai trò là trung tâm để truy cập các tài liệu của Nghị viện, lịch trình phiên họp và cập nhật về luật. Nghị viện Malaysia đã số hóa các quy trình này nhằm giúp cho cả các nhà lập pháp và công chúng dễ dàng hơn trong tiếp cận thông tin, tăng cường tính minh bạch và tạo điều kiện cho công chúng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động của Nghị viện. Trong đó:
- Cổng thông tin Parlimen cung cấp quyền truy cập toàn diện vào nhiều tài liệu của Nghị viện, bao gồm các dự luật, sửa đổi và báo cáo theo định dạng thân thiện với người dùng. Sáng kiến kỹ thuật số này không chỉ giúp đơn giản hóa việc truy xuất thông tin Nghị viện mà còn thúc đẩy sự tham gia lớn hơn của công chúng bằng cách làm cho các quy trình lập pháp trở nên cởi mở và minh bạch hơn. Ứng dụng di động đi kèm mở rộng khả năng truy cập cho phép người dùng luôn cập nhật về các hoạt động và thông tin cập nhật của Nghị viện.
- Hệ thống e-Parlimen đã cách mạng hóa việc quản lý lịch trình của Nghị viện, lệnh giấy tờ và cơ sở dữ liệu của các nghị sĩ. Nền tảng e-Parlimen tự động hóa việc tạo và quản lý các tài liệu quan trọng này, qua đó, giảm gánh nặng hành chính và thường xuyên cải thiện độ chính xác của lịch làm việc. Hệ thống e-Parlimen hợp lý hóa quy trình làm việc và đảm bảo rằng các hoạt động lập pháp được quản lý hiệu quả hơn bằng cách tích hợp nhiều chức năng khác nhau vào một nền tảng kỹ thuật số duy nhất.
- Hệ thống Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội Điện tử (e-PRS) hỗ trợ thêm cho quá trình lập pháp. Nền tảng này cho phép các nghị sĩ, quan chức và viên chức phục vụ Nghị viện yêu cầu các sản phẩm nghiên cứu và truy cập vào kho lưu trữ thông tin kỹ thuật số, nâng cao khả năng đưa ra quyết định sáng suốt của họ.
- Hệ thống e-Latihan cho phép theo dõi và quản lý các hoạt động đào tạo cho viên chức phục vụ nghị sĩ, đảm bảo rằng sự phát triển của nhân viên phù hợp với nhu cầu và ưu tiên của tổ chức. Hệ thống e-Latihan giúp hợp lý hóa sự phát triển của nhân viên và nâng cao năng lực chung trong cơ quan của Nghị viện bằng cách số hóa quy trình đào tạo.
Quá trình số hóa các thủ tục của Nghị viện đã tiến triển đáng kể thông qua Hệ thống e-Hantar, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gửi các câu hỏi của nghị sĩ cho các phiên họp của Nghị viện. Nền tảng kỹ thuật số này thay thế quy trình gửi hồ sơ giấy truyền thống, cung cấp một cách tiếp cận hiệu quả và có tổ chức hơn để xử lý các câu hỏi của Nghị viện. Hiện tại, các nghị sĩ có thể gửi câu hỏi qua phương tiện điện tử, theo dõi trạng thái của các câu hỏi và nhận phản hồi theo cách hợp lý. Sự đổi mới này không chỉ đẩy nhanh quá trình mà còn giảm thiểu khả năng xảy ra các lỗi hành chính và nâng cao hiệu quả chung của các phiên họp Nghị viện.
- Hệ thống quản lý khách tham quan (VMS) là một cải tiến quan trọng khác giúp nâng cao việc quản lý khách tham quan vào Khu phức hợp Nghị viện Malaysia. Hệ thống kỹ thuật số này hợp lý hóa quy trình đăng ký và theo dõi khách tham quan, cải thiện tính bảo mật và hiệu quả hành chính. VMS cung cấp phương pháp tiếp cận có tổ chức hơn để quản lý quyền truy cập của khách tham quan, đảm bảo rằng tất cả khách tham quan đều được đăng ký và theo dõi đúng cách trong thời gian ở khu vực xung quanh Nghị viện.
- Hệ thống lập chỉ mục đa phương tiện biên bản (MIM) là một bước phát triển mang tính đột phá giúp tăng khả năng ghi lại và truy xuất các phiên họp của Nghị viện, cung cấp các bản ghi đa phương tiện của các phiên họp với khả năng lập chỉ mục và tìm kiếm nâng cao, cho phép truy cập hiệu quả hơn vào các biên bản đã ghi. Nghị viện Malaysia đã cải thiện khả năng tiếp cận và khả năng sử dụng của các hồ sơ Nghị viện, giúp người dùng dễ dàng tìm thấy thông tin cụ thể trong các phiên họp đã ghi bằng cách kết hợp các yếu tố đa phương tiện vào quy trình lập chỉ mục.
Ngoài ra, hệ thống e-Kenderaan đã hiện đại hóa quy trình yêu cầu và quản lý xe. Nền tảng kỹ thuật số này đơn giản hóa các yêu cầu, theo dõi và quản lý xe, giảm quy trình hành chính và cải thiện hiệu quả của hậu cần vận chuyển. Bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin, Nghị viện Malaysia có thể cải thiện sự phối hợp và phân bổ nguồn lực, đảm bảo rằng nhu cầu vận chuyển được đáp ứng một cách kịp thời và hiệu quả bằng cách tích hợp quản lý phương tiện giao thông vào một hệ thống kỹ thuật số.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Hệ thống phổ biến thông tin của Nghị viện (PIDS) là một bước tiến đáng kể trong việc tích hợp thông tin trong phòng họp Nghị viện (Dewan Negara và Dewan Rakyat). Hệ thống phổ biến thông tin của Nghị viện cung cấp màn hình hiển thị thông tin nghị viện tích hợp, cung cấp góc nhìn toàn diện và gắn kết về các hoạt động và thủ tục lập pháp. Hệ thống này hỗ trợ chia sẻ và trực quan hóa thông tin theo thời gian thực, nâng cao khả năng của các nghị sĩ và nhân viên trong việc truy cập và sử dụng dữ liệu có liên quan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3. https://www.ipu.org/digital-stories/how-worlds-parliaments-are-moving-online
[1] API là một tập hợp các chức năng thiết kế trong một chương trình phần mềm cung cấp giao diện, cho phép các chương trình bên ngoài kết nối và tương tác với phần mềm đó. Một API có thể chứa: (i) giao thức kết nối; (ii) quy định về trao đổi dữ liệu; (iii) các chính sách tiếp cận và sử dụng; (iv) quy định về an toàn và bảo mật. Theo đó, dữ liệu sẽ phải trải qua quá trình chuyển/tuần tự hóa (serialisation), tức là có thể được thay từ một định dạng dữ liệu này sang một định dạng dữ liệu khác và/hoặc được chuyển tiếp nhưng không bị thay đổi, tức là bên chia sẻ và bên được chia sẻ vẫn truy cập vào cùng một dữ liệu.
1. Công tác quản lý, sử dụng đất đai
Ngay sau khi Luật Đất đai được Quốc hội thông qua tại kỳ họp bất thường lần thứ 5 ngày 18/01/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 222/QĐ- TTg ngày 05/3/2024 về Kế hoạch tổ chức thi hành Luật Đất đai; Chính phủ ban hành 05 Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai[1], Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành 08 Thông tư trong lĩnh vực đất đai[2] và Quyết định số 2124/QĐ- BTNMT ngày 01/8/2024 về công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Thủ tướng Chính phủ ban hành các công điện về việc tổ chức thi hành Luật Đất đai (53/CĐ-TTg ngày 26/5/2024, số 63/CĐ-TTg ngày 26/6/2024, số 79/CĐ- TTg ngày 13/8/2024, số 105/CĐ-TTg ngày 10/10/2024, số 109/CĐ-TTg ngày 22/10/2024...); tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai thi hành Luật Đất đai và các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai. Quá trình phổ biến Luật Đất đai và các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đã kết hợp với giải đáp các vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành Luật để tạo cách hiểu thống nhất khi áp dụng. Qua đó góp phần đẩy nhanh tiến độ triển khai thi hành Luật, tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện tại các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như người dân, doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất đai mà Luật Đất đai năm 2024 đã đề ra.
Kịp thời trình Quốc hội thông qua Luật số 43/2024/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Các tổ chức tín dụng, theo đó đề xuất Luật Đất đai có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2024 (sớm hơn 5 tháng so với đề xuất ban đầu) và trình Quốc hội thông qua 02 Nghị quyết (Nghị quyết số 170/2024/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại TP Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa và Nghị quyết số 171/2024/QH15 về thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất).
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2024/NĐ-CP ngày 05/02/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất và Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 23/7/2024 về việc kiểm kê đất đai năm 2024 và Quyết định số 817/QĐ-TTg ngày 09/8/2024 về việc phê duyệt Đề án Kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2024.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và đưa vào quản lý, vận hành và khai thác sử dụng 04 khối dữ liệu đất đai do Trung ương quản lý gồm cơ sở dữ liệu về thống kê, kiểm kê đất đai; cơ sở dữ liệu về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cơ sở dữ liệu về giá đất; cơ sở dữ liệu về điều tra, đánh giá đất đai. Đã hoàn thành tái cấu trúc quy trình, thực hiện kết nối, tích hợp, công bố, cung cấp DVCTT “Đăng ký biến động đối với trường hợp đổi tên hoặc thay đổi thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất; thay đổi hạn chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc có thay đổi quyền đối với thửa đất liền kề; giảm diện tích thửa đất do sạt lở tự nhiên” trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, kết nối với CSDLQG về dân cư.
Tham mưu trình Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1216/NQ-UBTVQH15 ngày 09/10/2024 về điều chỉnh chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng, đất rừng và đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên của Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh một số chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2025[3]. Tham mưu trình Chính phủ để trình Quốc hội phê duyệt chủ trương điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Qua 03 năm thực hiện Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Kế hoạch sử dụng đất quốc gia 5 năm 2021 - 2025, được cụ thể hóa bằng các quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, quy hoạch tỉnh, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, đã phát huy hiệu quả tích cực, là căn cứ để các Bộ, ngành, địa phương thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, công nhận quyền sử dụng đất, góp phần đáp ứng các mục tiêu phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh của các địa phương và của cả nước”[4]. Bên cạnh đó, khiếu kiện liên quan đến đất đai có xu hướng giảm so với trước đây nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai còn xảy ra ở nhiều nơi.
2. Quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Thực hiện Luật Tài nguyên nước (sửa đổi), Chính phủ đã ban hành 02 Nghị định[5] hướng dẫn thực hiện luật. Triển khai thực hiện Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050, Chiến lược phát triển ngành thủy lợi đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Kế hoạch hành động của Chính phủ về bảo đảm An ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước giai đoạn 2022-2030, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các quy hoạch tổng hợp một số lưu vực sông[6]; tăng cường thực hiện công tác quản lý, thẩm định và hậu kiểm hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước.
Đến nay 100% hồ chứa thủy điện lớn, quan trọng trên phạm vi cả nước đã được kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu hàng ngày; khoảng 850 công trình Bộ cấp phép và hàng nghìn công trình ở địa phương được giám sát thông qua Hệ thống giám sát. Thực hiện công bố giá trị dòng chảy tối thiểu hạ lưu 725 hồ chứa, đập dâng của 644 công trình thủy lợi, thủy điện. Chỉ đạo các địa phương ban hành danh mục hồ, ao không được san lấp, lấn chiếm nhằm giảm thiểu ngập úng các đô thị và nhiều nhiệm vụ khác để cụ thể hóa Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Công bố kịch bản nguồn nước trên 02 lưu vực sông lớn quan trọng là sông Hồng - Thái Bình và sông Cửu Long. Các kịch bản được công bố sẽ phục vụ công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân. Đồng thời, làm căn cứ để các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với Kịch bản nguồn nước[7].
Tình trạng thiếu nước, hạn hán, thiên tai sẽ còn tiếp diễn nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến phát triển KTXH và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Tình trạng vi phạm quy định của pháp luật trong quản lý, sử dụng tài nguyên nước vẫn còn xảy ra (năm 2024, các cơ quan chức năng của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 30 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt hơn 5,2 tỷ đồng; chuyển 01 hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự sang bên công an xử lý).
3. Quản lý, khai thác, sử dụng khoáng sản
Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024, hoàn thiện các dự thảo Nghị định, dự thảo Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Địa chất và Khoáng sản về khoáng sản nhóm IV để bảo đảm hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2025 đồng bộ cùng với Luật.
Chỉ đạo các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản nhất là đối với công tác thống kê, kiểm kê trữ lượng. Thực hiện phê duyệt theo thẩm quyền và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt khu vực cấm, khu vực tạm thời cấm hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông trên địa bàn các địa phương. Rà soát, thẩm định các hồ sơ đề nghị cấp phép thăm dò khoáng sản, cấp phép khai thác khoáng sản, đóng cửa mỏ khoáng sản.
Chủ động hướng dẫn, thành lập Đoàn công tác liên ngành làm việc với các địa phương tháo gỡ vướng mắc, tập trung cấp phép các mỏ vật liệu san lấp để cung cấp cho các dự án đường cao tốc, các dự án giao thông trọng điểm phía Nam theo chỉ đạo của Chính phủ. Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Giao thông vận tải tham mưu Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long phân bổ, điều phối nguồn cát đắp cho các dự án trong khu vực đáp ứng tiến độ thi công và hoàn thành các dự án.
Tham khảo:
Báo cáo số 218/BC-CP ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2024.
[1] (1) Nghị định số 71/2024/NĐ-CP ngày 27/6/2014 quy định về giá đất; (2) Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; (3) Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai; (4) Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; (5) Nghị định số 123/NĐ-CP ngày 04/10/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
[2] (1) Thông tư số 08/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; (2) Thông tư số 09/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 quy định về nội dung, cấu trúc, kiểu thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và yêu cầu kỹ thuật đối với phần mềm ứng dụng của Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai; (3) Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 quy định về hồ sơ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; (4) Thông tư số 11/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá đất đai; kỹ thuật bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất. (5) Thông tư số 12/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá đất đai; kỹ thuật bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất (6) Thông tư số 20/2024/TT-BTNMT ngày 16/11/2024 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, liên tịch ban hành. (7) Thông tư số 25/2024/TT-BTNMT ngày 26/11/2024 quy định về quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. (8) Thông tư số 29/2024/TT-BTNMT ngày 12/12/2024 quy định kỹ thuật về lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
[3] Quyết định số 227/QĐ-TTg ngày 12/3/2024 của Thủ tướng Chính phủ.
[4] Kết quả thực hiện các chi tiêu sử dụng đất cho thấy quy hoạch sử dụng đất đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất cho phát triển công nghiệp (210,93 nghìn ha), xây dựng kết cấu hạ tầng (1.754,61 nghìn ha), phát triển đô thị (2.953,85 nghìn ha), từng bước đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhu cầu đô thị hóa. Diện tích đất chưa sử dụng đã được khai thác đưa đưa vào sử dụng đáp ứng các mục tiêu phát triển (61,17 nghìn ha). Đóng góp tích cực và hiệu quả trong việc giữ diện tích đất trồng lúa (3.568,48 nghìn ha) nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; đã hạn chế được tình trạng suy thoái rừng, khôi phục và bảo vệ rừng phòng hộ (5.229,59 nghìn ha), rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng (2.455,54 nghìn ha), khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng kinh tế, nâng tỷ lệ che phủ của rừng;
[5] (1) Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày 16/5/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước. (2) Nghị định số 54/2024/NĐ-CP ngày 16/5/2024 của Chính phủ quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
[6] 03 Quyết định của Thủ trướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Mã, Hương, Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (số 20/QĐ-TTg, số 21/QĐ-TTg và số 22/QĐ-TTg ngày 08/1/2024 của Thủ tướng Chính phủ)
[7] Theo quy định tại khoản 1, khoản 5 và khoản 6 Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023 và khoản 2 Điều 43 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về trợ cấp một lần khi sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi đối với lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội?
Trả lời:
Căn cứ Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trợ cấp một lần khi sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được quy định như sau:
1. Lao động nữ sinh con có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần khi sinh con.
Lao động nữ sinh con nhưng không đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mà người chồng có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì người chồng được trợ cấp một lần.
2. Lao động nữ mang thai hộ có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần khi sinh con.
Trường hợp người mang thai hộ không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con được trợ cấp một lần.
Trường hợp người mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con được trợ cấp một lần.
Trường hợp người mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ và người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người chồng của người mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm người mang thai hộ sinh con được trợ cấp một lần.
3. Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần.
4. Mức trợ cấp một lần cho mỗi con quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng 02 lần mức tham chiếu tại tháng lao động nữ sinh con, nhận con do nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Trợ cấp thai sản?
Trả lời:
Căn cứ Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trợ cấp thai sản được quy định như sau:
1. Trợ cấp thai sản một tháng của người lao động quy định tại các điều 51, 52, 53, 54, 55, 56 và 57 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa đủ 06 tháng thì trợ cấp thai sản của người lao động quy định tại Điều 51, Điều 52, các khoản 2, 5, 6 và 7 Điều 53, các khoản 1, 2 và 4 Điều 54, khoản 2 Điều 55 và Điều 57 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 là mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của các tháng đã đóng.
2. Trợ cấp thai sản một ngày đối với trường hợp quy định tại Điều 51 và khoản 2 Điều 53 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được tính bằng trợ cấp thai sản một tháng chia cho 24 ngày.
3. Trợ cấp thai sản khi sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được tính theo mức trợ cấp thai sản quy định tại khoản 1 Điều này, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 52 và Điều 57 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì mức trợ cấp mỗi ngày được tính bằng mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 30 ngày.
4. Trợ cấp thai sản của lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều này trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ.
5. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định việc tính, việc xác định điều kiện đối với từng trường hợp hưởng chế độ thai sản.
Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản?
Trả lời:
Căn cứ Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản được quy định như sau:
1. Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 52, khoản 1 hoặc khoản 4 Điều 53, điểm a khoản 3 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nữ chưa phục hồi sức khỏe thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe liên tục bao gồm cả ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.
2. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định; trường hợp hai bên có ý kiến khác nhau thì người sử dụng lao động quyết định số ngày nghỉ trên cơ sở đề nghị của Ban Chấp hành công đoàn cơ sở, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tối đa được quy định như sau:
a) 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên;
b) 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;
c) 05 ngày đối với trường hợp khác.
3. Mức hưởng cho một ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản bằng 30% mức tham chiếu.
4. Không áp dụng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 trong trường hợp lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
5. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định việc tính, việc xác định điều kiện đối với từng trường hợp được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản.