Cosodulieu

Cosodulieu

Chiều 1/6, tại trụ sở các cơ quan của Quốc hội - 22 Hùng Vương, Hà Nội, Chi bộ Vụ Công tác đại biểu tiến hành Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2025 - 2027.

Dự Đại hội có: Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Quốc hội, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Tạ Thị Yên; Phó Bí thư Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu Trần Văn Lâm và các đảng viên đang sinh hoạt tại Chi bộ.

Các đại biểu thực hiện nghi lễ chào cờ

Chi bộ Vụ Công tác đại biểu được thành lập theo Quyết định số 03-QĐ/ĐU ngày 6/3/2025 của Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu trên cơ sở sáp nhập Chi bộ Công tác đại biểu và Chi bộ Bồi dưỡng đại biểu dân cử.

Báo cáo tại Đại hội cho thấy, thời gian qua, được sự chỉ đạo của Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu, Chi bộ đã tập trung lãnh đạo đảng viên nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, triển khai hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị mà Đảng bộ cơ quan cũng như Chi bộ đã đề ra.

Bí thư Chi bộ, Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu Nguyễn Hải Long phát biểu

Tập thể Chi bộ luôn giữ vững và duy trì được sự đoàn kết, nhất trí, thống nhất trong nhận thức và hành động. Đảng viên trong Chi bộ có lập trường vững vàng, trung thành và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, chấp hành nghiêm sự phân công của cấp trên.

Chi bộ đã tích cực, nghiêm túc trong việc quán triệt, triển khai và học tập Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp. Hình thức, nội dung sinh hoạt Chi bộ, nhất là sinh hoạt chuyên đề ngày càng được đổi mới theo hướng thiết thực gắn với các hoạt động chuyên môn của đơn vị. Công tác quy hoạch Lãnh đạo Vụ được Chi bộ chỉ đạo thực hiện đúng quy trình, kế hoạch và chỉ tiêu được giao. Tính chuyên nghiệp của đảng viên và hiệu quả công việc ngày càng được nâng cao.

Phó Bí thư Chi bộ, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu Giàng Thị Cúc phát biểu

Nhiệm kỳ 2025 - 2027, Chi bộ Vụ Công tác đại biểu xác định, tiếp tục tăng cường đoàn kết nhất trí, phát huy dân chủ, nỗ lực sáng tạo, đổi mới; nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; xây dựng Chi bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Bên cạnh đó, lãnh đạo đảng viên trong Chi bộ đoàn kết, nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của đơn vị. Tổ chức quán triệt và thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng các cấp và Nghị quyết của Chi bộ nhiệm kỳ 2025 - 2027. Phấn đấu 100% cán bộ, đảng viên thực hiện tốt công tác bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên đối với 100% đảng viên trong Chi bộ.

Phó Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Tạ Thị Yên phát biểu chỉ đạo Đại hội

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, Phó Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Tạ Thị Yên ghi nhận và biểu dương Chi bộ Vụ Công tác đại biểu luôn nêu cao tinh thần chủ động, trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị cũng như nhiệm vụ chuyên môn được giao.

Nhấn mạnh nhiệm vụ đặt ra cho Chi bộ Vụ Công tác đại biểu nhiệm kỳ 2025 - 2027 là rất quan trọng, Phó Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu đề nghị, Chi bộ cần nhận thức giáo dục chính trị tư tưởng là hoạt động quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và năng lực hành động của cán bộ, đảng viên, đồng thời đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Chi ủy viên, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu Lê Phương Nga phát biểu

Chi bộ cần nắm bắt các vấn đề tư tưởng phát sinh; tiếp tục nâng cao tinh thần phê bình và tự phê bình, giữ gìn sự đoàn kết nội bộ, phát huy dân chủ đi đôi với kỷ cương, nêu gương của từng đảng viên, nhất là người đứng đầu. Sớm ổn định tổ chức bộ máy; các bộ phận cần sớm đi vào hoạt động nền nếp, phối hợp tốt giữa các nhóm công tác trong Vụ Công tác đại biểu để bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban, Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu.

Cùng với đó, tập trung tham mưu các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2025 và năm 2026. Trong thời gian tới, nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của Ủy ban cũng như Vụ Công tác đại biểu là tham mưu về: tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, hướng dẫn hoạt động của HĐND trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; về các hoạt động chuẩn bị cho cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; về chuẩn bị cho tổ chức Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI; về công tác bồi dưỡng kỹ năng cho ĐBQH, đại biểu HĐND khóa mới.

Phó Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu cũng đề nghị Chi bộ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong công tác chuyên môn; tích cực tham mưu triển khai xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cuộc bầu cử sắp tới; hệ thống cơ sở dữ liệu hồ sơ ĐBQH, hệ thống cơ sở dữ liệu bồi dưỡng đại biểu dân cử trong công cuộc xây dựng Quốc hội số.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Tạ Thị Yên trao hoa và Quyết định cho Chi bộ Vụ Công tác đại biểu nhiệm kỳ 2025-2027

 

Theo Quyết định chỉ định Chi ủy, Bí thư, Phó Bí thư, Chi ủy viên Chi bộ Vụ Công tác đại biểu nhiệm kỳ 2025 - 2027 công bố tại Đại hội, Chi ủy nhiệm kỳ mới gồm 5 đồng chí. Trong đó, đồng chí Nguyễn Hải Long, Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu giữ chức Bí thư Chi bộ; đồng chí Giàng Thị Cúc, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu giữ chức Phó Bí thư Chi bộ.

Sáng 1/6, Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu tiến hành Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2025 - 2027.

Dự Đại hội có: đồng chí Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Bí thư Đảng ủy Ủy ban, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; các đảng viên đang sinh hoạt tại Chi bộ.

 

Các đại biểu thực hiện nghi thức chào cờ

Báo cáo tại Đại hội, đồng chí Nguyễn Đại Thắng, Bí thư Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu cho biết, Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu trực thuộc Đảng bộ Ủy ban Công tác đại biểu được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 5/3/2025 theo Nghị quyết số 01-QĐ/ĐU của Đảng bộ Ủy ban Công tác đại biểu. Dù mới được kiện toàn tổ chức và đi vào hoạt động trong thời gian chưa lâu, nhưng Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu đã nhanh chóng xây dựng quy chế làm việc; phân công nhiệm vụ đảng viên; duy trì nề nếp, chất lượng sinh hoạt chi bộ và các mặt công tác xây dựng Đảng. Trọng tâm là làm tốt công tác chính trị tư tưởng; triển khai đồng bộ công tác tổ chức; thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra giám sát; tăng cường hiệu quả công tác dân vận, đoàn thể; tiếp tục duy trì nghiêm kỷ luật kỷ cương nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động; làm việc theo quy chế, chương trình công tác bảo đảm khoa học, chặt chẽ.

Bí thư Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Đại Thắng phát biểu

Bên cạnh đó, không ngừng tăng cường, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Chi bộ, Chi ủy; phát huy bản lĩnh chính trị vững vàng tính tiền phong, gương mẫu, trách nhiệm đi đầu của mỗi đảng viên, lãnh đạo thực hiện thắng lợi toàn diện các nhiệm vụ chính trị của Chi bộ, góp phần cùng Đảng bộ Ủy ban Công tác đại biểu lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ của Ủy ban, cả thường xuyên và đột xuất, bảo đảm chất lượng, tiến độ; từng bước khẳng định, nâng cao vị thế, vai trò của Ủy ban Công tác đại biểu đóng góp vào các hoạt động chung của Quốc hội.

Nhiệm kỳ 2025 - 2027 tới, Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu xác định, tiếp tục tăng cường đoàn kết nhất trí, phát huy dân chủ, nỗ lực sáng tạo, đổi mới; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; xây dựng Chi bộ, cơ quan trong sạch, vững mạnh toàn diện để tổ chức quán triệt và thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng các cấp và Nghị quyết của Chi bộ nhiệm kỳ 2025 - 2027.

Phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo Vụ chuyên môn và Chi bộ Vụ Công tác đại biểu để lãnh đạo thực hiện toàn diện các nhiệm vụ chuyên môn và các nhiệm vụ chính trị khác thuộc phạm vi trách nhiệm của Ủy ban Công tác đại biểu. Phấn đấu xây dựng tổ chức cơ sở đảng với 100% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó 20% đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, đồng chí Nguyễn Thanh Hải, Bí thư Đảng ủy Ủy ban, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu cho biểu dương tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết, đổi mới và những nỗ lực của toàn thể cán bộ, đảng viên trong Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu.

Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải phát biểu chỉ đạo Đại hội

Trong bối cảnh yêu cầu ngày càng cao của Đảng, Quốc hội và nhân dân đối với hoạt động của Quốc hội nói chung, Ủy ban Công tác đại biểu nói riêng, Chi bộ Thường trực Ủy ban nói riêng đã luôn nêu cao tinh thần chủ động, trách nhiệm, sáng tạo, hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn được giao. Đặc biệt là trong công tác tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, và công tác chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật - những nhiệm vụ rất khó, rất nặng nề, nhưng cũng rất vẻ vang.

Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải cũng chỉ rõ, Chi bộ cần nghiêm túc kiểm điểm những mặt còn hạn chế trong công tác sinh hoạt đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đảng viên; chú trọng hơn đến công tác xây dựng đội ngũ kế cận, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, bảo đảm sự đồng thuận, thống nhất trong toàn Chi bộ.

Bước vào nhiệm kỳ 2025 - 2027, nhiệm vụ của Chi bộ đặt ra rất quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước ta đang thực hiện cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Trung ương và các yêu cầu mới về công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội.

Phó Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Tạ Thị Yên công bố Quyết định chỉ định Ban Chấp hành, Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu nhiệm kỳ 2025 - 2027

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ tới, Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải đề nghị Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu tập trung triển khai tốt 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị và đạo đức công vụ cho cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, đặc biệt coi trọng công tác tham mưu về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ; bảo đảm công tác tổ chức bộ máy và công tác cán bộ chặt chẽ, dân chủ, khách quan nhưng vẫn giữ được sự linh hoạt, hiệu quả trong thực tiễn. Bởi, công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, là yếu tố quyết định đến chất lượng hoạt động của Quốc hội trong cả nhiệm kỳ.

Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải trao hoa và Quyết định cho Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu nhiệm kỳ 2025-2027

Thứ ba, tham mưu tổ chức hiệu quả các hoạt động chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. “Đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng trong nhiệm kỳ này. Chi bộ cần xác định rõ vai trò tham mưu trung tâm trong công tác bầu cử. Mỗi đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm, không để xảy ra sơ suất, sai sót dù nhỏ, bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Đây là niềm tin của nhân dân gửi gắm vào Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”, Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh.

Thứ tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong công việc chuyên môn. Chi bộ cần nắm bắt xu thế công nghệ, tận dụng tối đa các công cụ số để nâng cao hiệu quả công tác tham mưu, quản lý.

Thứ năm, tăng cường xây dựng Chi bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng. Chi bộ cần tổ chức sinh hoạt định kỳ nghiêm túc, gắn với nhiệm vụ chuyên môn và tình hình thời sự. Cùng với đó là công tác phát hiện, bồi dưỡng nguồn, tạo điều kiện để cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có năng lực, bảo đảm sự kế thừa, phát triển liên tục cho tổ chức đảng.

Phó Bí thư Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu Trần Văn Lâm phát biểu

 

Đảng viên của Chi bộ Thường trực Ủy ban, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu Bế Trung Anh trình bày tham luận tại Đại hội

Bí thư Đảng ủy Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải tin tưởng, với truyền thống đoàn kết, tinh thần trách nhiệm cao và quyết tâm đổi mới, sáng tạo, Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu sẽ tiếp tục phát huy vai trò trung tâm trong công tác tổ chức cán bộ, phục vụ đắc lực cho hoạt động của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Mỗi đảng viên cần thực sự là tấm gương sáng, là nhân tố thúc đẩy sự đổi mới trong tư duy và hành động, góp phần xây dựng Chi bộ mẫu mực, gương mẫu trong toàn Đảng bộ.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Theo Quyết định chỉ định Ban Chấp hành, Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu nhiệm kỳ 2025 - 2027 công bố tại Đại hội, Chi ủy nhiệm kỳ mới gồm 3 đồng chí: đồng chí Nguyễn Đại Thắng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu là Bí thư Chi bộ; đồng chí Trần Văn Lâm, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu là Phó Bí thư Chi bộ; đồng chí Phạm Thị Bảo Hà, Chuyên viên chính Vụ Công tác đại biểu là Chi ủy viên.

 

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 34-NQ/TW, ngày 9-1-2023, của Bộ Chính trị, “Về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII”, thời gian qua, quan hệ đối ngoại nói chung, quan hệ đối ngoại quốc hội nói riêng đạt nhiều thành tựu, “góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước”[1].

Tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ, hoạt động đối ngoại của Quốc hội ngày càng được đẩy mạnh và mở rộng trên cả bình diện song phương và đa phương, đưa ngoại giao nghị viện đi vào chiều sâu, góp phần làm cho nhân dân thế giới và bạn bè quốc tế ngày càng hiểu biết rõ hơn về đất nước, con người và nền văn hóa Việt Nam; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và bạn bè quốc tế; nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam nói chung, của Quốc hội Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế. Đánh giá về ngoại giao Việt Nam nói chung, đối ngoại Quốc hội nói riêng, trong cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh các kênh đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại Quốc hội và đối ngoại nhân dân đều hết sức khởi sắc[2].

Trên cơ sở tiếp tục kế thừa và phát huy kết quả đạt được trong thời gian qua, bám sát nội dung chỉ đạo xuyên suốt của đường lối đối ngoại của Đảng, để tăng cường hiệu quả công tác đối ngoại của Quốc hội trong thời gian tới, cần tập trung vào một số định hướng sau đây:

Một là, xác định rõ vị thế, tầm quan trọng của công tác đối ngoại Quốc hội trong tổng thể công tác đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy lợi thế của ngoại giao nghị viện trong xây dựng nền ngoại giao hiện đại và toàn diện. Triển khai thực hiện Kết luận của Đảng đoàn Quốc hội về Định hướng hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa XV và đến năm 2030, trong đó chú trọng thúc đẩy hợp tác nghị viện song phương và đa phương, chia sẻ kinh nghiệm trong thực thi và phát huy vai trò của Quốc hội trong các vấn đề về lập pháp, giám sát tối cao, quyết định ngân sách, các vấn đề quan trọng và phê chuẩn, quyết định gia nhập các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Hai là, tiếp tục tăng cường công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý và điều kiện thuận lợi cho triển khai đường lối, chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế; xem xét thông qua các dự án luật, pháp lệnh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam và giám sát sâu sát hơn việc đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế, thúc đẩy giám sát triển khai công tác biên giới lãnh thổ, công tác người Việt Nam ở nước ngoài; rà soát hệ thống các văn bản đã ký kết để có những đánh giá kết quả tổ chức thực hiện, qua đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; hoàn thiện cơ sở dữ liệu về pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế, thỏa thuận và cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia và là thành viên.

Ba là, quán triệt việc thực hiện Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị, “Về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”, cùng các văn bản hướng dẫn kèm theo và Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các kênh và các cơ quan, đơn vị làm công tác đối ngoại; các cơ quan đầu mối quản lý về đối ngoại tiếp tục tăng cường tính chủ động và thực hiện có hiệu quả cơ chế phối hợp, trao đổi ý kiến với các cơ quan, tổ chức hữu quan, bảo đảm công tác nghiên cứu dự báo, xử lý, tham mưu chiến lược đúng, trúng, kịp thời, thống nhất, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả về các vấn đề liên quan đến công tác đối ngoại.

Bốn là, các ngành, các cấp, các cơ quan cần phối hợp chặt chẽ, bảo đảm Quốc hội Việt Nam tham gia đảm nhiệm vai trò Ban Chấp hành APPF thành công; triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác với IPU; chuẩn bị tốt sự tham gia tại AIPA, APF, ASEP nhằm phát huy vị thế mà Việt Nam đã gây dựng tại các diễn đàn đa phương trong những năm qua, đa dạng hóa hình thức và nội dung tham gia ngoại giao nghị viện, nhất là ứng dụng đổi mới công nghệ số - một trong những xu hướng lớn của tương lai.

Năm là, tăng cường hiệu quả thông tin, tuyên truyền đối ngoại của Quốc hội, chủ động gắn kết và thống nhất giữa thông tin đối ngoại của Quốc hội với thông tin đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trong đó có đối ngoại quốc phòng, phối hợp chặt chẽ giữa thông tin đối nội và thông tin đối ngoại, truyền tải thông điệp về Quốc hội Việt Nam đổi mới, đất nước Việt Nam hội nhập.

Sáu là, đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ làm công tác đối ngoại của Quốc hội, chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của một nền ngoại giao toàn diện và hiện đại.

Những kết quả quan trọng của ngoại giao nghị viện Quốc hội Việt Nam trong những năm qua đã góp phần thiết thực vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo dựng môi trường hòa bình và bổ sung nguồn lực cho công cuộc hội nhập quốc tế của nước ta. Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, cơ hội và thách thức đan xen, tác động toàn diện tới an ninh, ổn định và phát triển của đất nước. Cùng với đó, sự phát triển của thể chế đại nghị, ngoại giao nghị viện tiếp tục được minh chứng là một kênh ngoại giao hiệu quả, là xu thế bền vững trong dài hạn, góp phần bổ sung cho ngoại giao truyền thống. Hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế là ưu tiên hàng đầu quan trọng trong chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển đất nước.

Với tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, quyết liệt, sự chỉ đạo điều hành và trực tiếp tham gia của Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; sự thống nhất trong quản lý các hoạt động đối ngoại, hoạt động đối ngoại của Quốc hội được triển khai toàn diện, thông suốt, nhất quán theo chương trình đã được phê duyệt; phát huy tính đặc thù, “sức mạnh mềm” của ngoại giao nghị viện, kết hợp hài hòa với đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần truyền tải thông điệp mạnh mẽ về hình ảnh một Quốc hội Việt Nam đổi mới, năng động và hành động, tăng cường sự hiểu biết của chính giới và nhân dân các nước, tạo dấu ấn Việt Nam; góp phần vào thành công chung của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước; khẳng định vị thế của ngoại giao nghị viện trong nền ngoại giao toàn diện, hiện đại của đất nước, cũng như ngoại giao nghị viện khu vực và thế giới.

 


[1] Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 158

[2] Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 31

 

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội, với đặc thù vừa mang tính nhà nước, vừa mang tính nhân dân sâu sắc, đã được triển khai cụ thể thông qua việc thực hiện các chức năng cơ bản của Quốc hội là lập pháp, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, trong đó có việc quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại, phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội.

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội được triển khai toàn diện, chủ động, tích cực trên tất cả lĩnh vực hoạt động gắn với Chương trình hành động của Đảng đoàn Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong đó tập trung nâng cao chất lượng quyết định chính sách cơ bản của Nhà nước về đối ngoại; tiếp tục tăng cường hoạt động đối ngoại của Quốc hội gắn với hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; xây dựng các đề án mang tính chiến lược, toàn khóa và kế hoạch hằng năm về ngoại giao nghị viện; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với quốc hội/nghị viện các nước và các đối tác quan trọng; nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia và phát huy vai trò của Quốc hội Việt Nam tại các cơ chế liên nghị viện khu vực và quốc tế then chốt, quan trọng có tầm chiến lược trên cơ sở phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện thực tế cụ thể; tăng cường phối hợp và đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược trong lĩnh vực đối ngoại; đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại nhằm kịp thời phản ánh chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; truyền tải thông tin hoạt động của Quốc hội tới công chúng và bạn bè quốc tế.

Trong công tác xây dựng pháp luật, Quốc hội tiếp tục dành ưu tiên cho việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để triển khai hiệu quả các hoạt động đối ngoại theo Kế hoạch 81/KH-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW, ngày 14-10-2021, của Bộ Chính trị, “Về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV”. Theo đó, từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến, xem xét thông qua nhiều luật quan trọng trực tiếp và gián tiếp liên quan đến đối ngoại và hội nhập quốc tế nhằm phát triển kinh tế. Đồng thời, Quốc hội chú trọng việc nội luật hóa, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan để bảo đảm hệ thống pháp luật quốc gia tương thích với các điều ước quốc tế, nhất là các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên, như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Kinh doanh bảo hiểm; Luật Điện ảnh; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Luật Phòng, chống rửa tiền; Luật Viễn thông; Luật Giao dịch điện tử; Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Đất đai; Luật Nhà ở...

Trong công tác giám sát, Quốc hội đã đẩy mạnh giám sát việc triển khai chính sách, pháp luật về đối ngoại và hội nhập quốc tế; phối hợp với nghị viện một số nước triển khai các cơ chế giám sát, khảo sát như thành lập Ủy ban hợp tác liên nghị viện với Duma Quốc gia Nga (tổ chức các phiên họp trong các năm 2020, năm 2023) nhằm rà soát việc thực hiện các thỏa thuận giữa hai nước, qua đó thúc đẩy, hỗ trợ để quan hệ hợp tác giữa hai nước đạt kết quả cao nhất; tổ chức đoàn khảo sát thực địa chung tại khu vực tam giác phát triển Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam (CLV) với Quốc hội Lào và Quốc hội Cam-pu-chia (năm 2023). Đồng thời, hằng năm, Quốc hội xem xét báo cáo của Chính phủ về tình hình thế giới, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước để đánh giá và làm sâu sắc hơn những nhận định của Chính phủ về tình hình thế giới và khu vực, kết quả công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhấn mạnh vai trò và hiệu quả của hoạt động đối ngoại của Quốc hội trong công tác đối ngoại chung của đất nước.

Bên cạnh đó, Quốc hội cũng giao các cơ quan chủ trì và tham gia các chuyên đề giám sát, như “Việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia”; “Việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với người Việt Nam ở nước ngoài”; “Việc thực hiện Pháp lệnh về hàm, cấp ngoại giao và Luật cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài”; khảo sát chung với Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Lào về “Tình hình triển khai thực hiện Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào về hợp tác đầu tư phát triển bến cảng 1, 2, 3 của cảng Vũng Áng”...

Về thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội đã phê chuẩn, quyết định gia nhập nhiều điều ước quan trọng liên quan đến chủ quyền quốc gia, biên giới, lãnh thổ, tư cách thành viên của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đóng góp quan trọng phục vụ công tác hội nhập quốc tế và quản lý các hoạt động đối ngoại của quốc gia, nội luật hóa cam kết quốc tế. Đặc biệt, Quốc hội tập trung xem xét, thảo luận và thông qua với tỷ lệ cao các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA), Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVIPA)…; khẳng định trách nhiệm và quyết tâm của Việt Nam trong hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế, giúp đa dạng hóa thị trường của Việt Nam, tạo đà cho hội nhập kinh tế quốc tế và phục hồi kinh tế trong nước sau đại dịch COVID-19.

Đặc biệt, trong hoạt động ngoại giao nghị viện, Quốc hội đã để lại nhiều dấu ấn nổi bật, chủ động, tích cực, thích ứng linh hoạt trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Bước vào đầu nhiệm kỳ, trước những thách thức chưa từng có của đại dịch COVID-19, hoạt động đối ngoại Quốc hội được duy trì thường xuyên, diễn ra hết sức sôi động trên cả bình diện song phương, đa phương. Nếu mục tiêu chính trong hoạt động đối ngoại năm 2021 là ngoại giao vắc-xin thì trọng tâm của công tác đối ngoại năm 2022, năm 2023 là hỗ trợ công tác phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc giải quyết vướng mắc trong quan hệ kinh tế với các đối tác phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, hài hòa với lợi ích hợp pháp, chính đáng của các đối tác, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, phát huy hiệu quả kênh ngoại giao nghị viện, đẩy nhanh quá trình các nước phê chuẩn các hiệp định thương mại và đầu tư, mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp tiếp cận, chiếm lĩnh thị trường quốc tế.

Hoạt động đối ngoại song phương của Quốc hội được triển khai tích cực, hiệu quả, chú trọng quan hệ với các nước láng giềng; đưa quan hệ với các nước đối tác chiến lược đi vào chiều sâu, ổn định; thúc đẩy thực chất quan hệ với các đối tác hợp tác và bạn bè truyền thống; gia tăng sự tin cậy với các đối tác khác. Thông qua các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Quốc hội, các chuyến thăm chính thức tới nhiều nước trên thế giới, cùng các hoạt động trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp ủy ban, các nhóm nghị sĩ hữu nghị, nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội trẻ diễn ra hết sức sôi động. Có thể thấy, hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã được triển khai với nhiều nội dung bao quát trên các lĩnh vực gắn với chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội; với nhiều hình thức phong phú, trực tiếp kết hợp trực tuyến, song phương kết hợp đa phương; với nhiều chủ thể, đối tác đa dạng không chỉ giữa các cơ quan lập pháp, mà còn cả cơ quan hành pháp, tư pháp và địa phương; theo hướng mở rộng và thúc đẩy quan hệ hợp tác nghị viện với các nước đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, ưu tiên các đối tác có quan hệ đặc biệt, đối tác chiến lược, bạn bè truyền thống, trong đó hợp tác nghị viện với nhiều đối tác, như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia, Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Cu-ba, Pháp... được đánh giá là điểm sáng, hình mẫu trong quan hệ song phương; đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích cốt lõi của Việt Nam; phát huy vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện thể chế, cụ thể hóa các cam kết quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, hỗ trợ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Nhân dịp các chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam tại các nước, cùng lãnh đạo nghị viện các nước thăm Việt Nam, các thỏa thuận quốc tế được ký mới/ký lại giữa Quốc hội Việt Nam với nghị viện các nước. Trong đó, thỏa thuận hợp tác được ký kết đồng thời với cả Thượng viện và Hạ viện của nhiều nước là cơ sở quan trọng tiếp tục thúc đẩy hợp tác hiệu quả và thiết thực giữa Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội Việt Nam với nghị viện/quốc hội các nước; đồng thời, thúc đẩy tăng cường trao đổi, hợp tác trên các diễn đàn nghị viện khu vực và thế giới. Ngoại giao nghị viện cũng thúc đẩy ngoại giao kinh tế theo tinh thần Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 10-8-2022, của Ban Bí thư, “Về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030”, góp phần thúc đẩy tăng trưởng thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài, thể hiện qua các diễn đàn về pháp luật và chính sách thúc đẩy thương mại, đầu tư.

Hoạt động ngoại giao nghị viện đa phương của Quốc hội được triển khai tích cực theo tinh thần Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”. Trong khuôn khổ cơ chế hợp tác nghị viện đa phương như Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Hội đồng liên nghị viện ASEAN (AIPA), Diễn đàn nghị viện châu Á - Thái Bình Dương (APPF), Liên minh nghị viện Pháp ngữ (APF), Hội nghị Đối tác Nghị viện Á - Âu (ASEP), Quốc hội Việt Nam đã tham gia tích cực, có trách nhiệm, đóng góp nhiều sáng kiến chủ động, quan trọng, tạo sự chuyển biến thực chất trong hoạt động của các tổ chức này, nâng tầm Việt Nam từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng và định hình luật chơi chung”, góp phần bảo vệ và thúc đẩy hiệu quả các lợi ích chiến lược về an ninh, phát triển của Việt Nam. Sự tham gia tích cực tại các diễn đàn liên nghị viện song hành với các diễn đàn quốc tế của Chính phủ, như IPU - Liên hợp quốc, AIPA - ASEAN, APPF - APEC, APF - OIF thể hiện rõ nét sự đồng hành của Quốc hội Việt Nam trong các vấn đề khu vực và toàn cầu. Việc Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội tham dự trực tiếp, trực tuyến nhiều hội nghị đa phương quan trọng thể hiện sự nỗ lực vượt bậc của Quốc hội Việt Nam trong đổi mới nội dung, phương thức hoạt động đối ngoại.

Điểm nhấn quan trọng thể hiện sự chủ động, tích cực, tinh thần trách nhiệm của Quốc hội Việt Nam trong nhiệm kỳ này là Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Nhóm tư vấn AIPA lần thứ 14 với chủ đề “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ phục vụ tăng trưởng và phát triển bền vững”, Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9 của IPU với chủ đề “Vai trò của giới trẻ trong việc thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, thông qua chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo”. Lần đầu tiên, Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu thông qua Tuyên bố sau 8 kỳ hội nghị, là lời hiệu triệu mang tính chính trị cao và là cam kết mạnh mẽ của các nghị sĩ trẻ thúc đẩy vai trò của giới trẻ trong thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc. Thành công của hội nghị cũng góp phần khẳng định sự tham gia tích cực, có trách nhiệm và chủ động của Việt Nam trong IPU; đồng thời, cho thấy sự ưu tiên của Việt Nam đối với thanh niên và các vấn đề chung toàn cầu của giới trẻ hiện nay; thúc đẩy các lợi ích của Việt Nam qua kênh nghị viện, đáp ứng yêu cầu phát triển và xu thế phát triển trong giai đoạn mới, trong đó có chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Hội nghị cũng là dịp để tuyên truyền, quảng bá rộng rãi với bạn bè quốc tế về truyền thống văn hóa, đất nước, con người, chính sách đối ngoại và thành quả công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; đồng thời, là cơ hội để tăng cường quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với nhiều đối tác quan trọng, nhất là các nghị sĩ, thế hệ lãnh đạo trẻ của các quốc gia; tranh thủ sự ủng hộ của IPU, các nghị viện thành viên đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Tháng 12-2023, Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam (CLV) lần thứ nhất tại Lào với chủ đề chính “Tăng cường vai trò của Nghị viện trong việc thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa Cam-pu-chia, Lào, Việt Nam” là dấu mốc quan trọng trong lịch sử hợp tác giữa các Quốc hội Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam, đánh dấu sự nâng tầm hợp tác giữa cơ quan lập pháp ba nước lên cấp cao nhất. Việc thành lập cơ chế hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước là bước hiện thực hóa kết quả đạt được tại Cuộc gặp cấp cao Người đứng đầu ba Đảng ba nước Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam vào tháng 9-2021. Điều này cũng khẳng định quyết tâm của ba cơ quan lập pháp trong việc làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác và đối tác nghị viện của ba nước, góp phần mang lại lợi ích thiết thực cho người dân mỗi nước.

Với sự chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng về nội dung, sự tham gia tích cực, có trách nhiệm, chủ động đề xuất sáng kiến, khuyến nghị mang tính xây dựng, sự đóng góp của Quốc hội Việt Nam tại các diễn đàn liên nghị viện khu vực và quốc tế góp phần quan trọng thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các diễn đàn này, được nghị viện các nước đánh giá cao. Sự tham gia của Đoàn Việt Nam đã bảo đảm thực hiện các yêu cầu chính trị đề ra với phương châm thiết thực, hiệu quả, bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững lập trường, nguyên tắc của Việt Nam, đồng thời linh hoạt, hài hòa với lợi ích chung của khu vực, nhờ đó đã đạt được sự ủng hộ cao của các nước. Các hoạt động ngoại giao nghị viện đa phương của Quốc hội Việt Nam góp phần khẳng định bước tiến mới quan trọng của ngoại giao nghị viện Việt Nam và quá trình thực hiện chủ trương chủ động hội nhập quốc tế và khu vực của Việt Nam, đóng góp tích cực vào việc triển khai thực hiện thắng lợi đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Phụ nữ tham gia cấp các cấp  

Phụ nữ tham gia Ban chấp hành Trung ương lần đầu tiên là từ Đại hội VIII của Đảng. Con số này có xu hướng tăng liên tiếp trong 3 khóa X, XI, XII với tỷ lệ tương ứng là 7,5%, 8,13% và 10%. Người đứng đầu nhiệm kỳ Khóa XIII có 19 Ủy viên Trung Quốc là nữ (18 Ủy viên chính thức và 01 Ủy viên dự luật), sử dụng 9,5%. Vào thời điểm tháng 10/2024, có 1 Ủy viên Bộ Chính trị là nữ (1/15, sử dụng 6,7%).

Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ tham gia cấm hành hành tỉnh, thành phố qua các nhiệm kỳ gần đây tăng từ 11,23% (Nhiệm kỳ 2000 - 2005) đến 15,7% (nhiệm kỳ 2020-2025). Nhiệm vụ kỳ 2020-2025, Ủy viên thường vụ là nữ sử dụng 10,97% (nhiệm kỳ 2015-2020 là 7,85%), Bí thư và Phó bí thư sử dụng tỷ lệ tương ứng là 9,5% (nhiệm kỳ 2015-2020 là 6,3%) và 10,97% (nhiệm kỳ 2015-2020 là 4,14%).

Ở cấp huyện, tỷ lệ nữ tham gia cấm hành vi bộ huyện và tương đương năm nhiệm kỳ gần đây đều tăng, từ 11,68% (nhiệm kỳ 2000-2005) lên 17,3% (nhiệm kỳ 2020-2025). Ở cấp xã, tỷ lệ nữ tham gia cấp cơ sở hạ tầng gần đây tăng nhanh, từ 11,88% (nhiệm kỳ 2000-2005) lên 20,8% (nhiệm kỳ 2020-2025).

Phụ nữ tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

Số lượng nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam tăng lên qua từng nhiệm kỳ Quốc hội. Trong Quốc hội khóa I (1946 – 1960), số đại biểu nữ chỉ sử dụng 2,5% với 10 đại biểu, đến Quốc hội khóa XIV (2016 – 2021) đã có 133 đại biểu quốc hội là nữ, sử dụng 26,8% và đây cũng là nhiệm vụ đầu tiên có nữ Chủ tịch Quốc hội (bà Nguyễn Thị Kim Ngân). Quốc hội khóa XV, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội là 30,26% so với 151 nữ đại biểu, lần đầu tiên vượt qua 30% kể từ khi đất nước thực hiện cuộc đổi mới. Trong số 151 đại biểu nữ có 44 đại biểu nữ là người dân tộc thiểu số (chiếm 29,14% tổng số đại biểu nữ), 27 nữ đại biểu trẻ (dưới 40 tuổi, đại biểu trẻ tuổi nhất là đại biểu nữ sinh năm 1997); 100% đại biểu nữ có trình độ đại học trở lên, trong đó 78,8% số nữ đại biểu có trình độ đại học; 18 nữ đại biểu là lãnh đạo Hội đồng Dân tộc, các quận của Quốc hội (chiếm 40% tổng số lãnh đạo các cơ quan này). Có 12/63 Tỉnh, thành phố có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt từ 50% đến 66,7%.

Theo dữ liệu toàn cầu về Nghị viện quốc gia Đại hội đồng Liên minh Quốc hội thế giới (IPU) năm 2023, Quốc hội Việt Nam xếp hạng 64 về tỷ lệ nữ đại biểu (chiếm 30,26%), cao hơn tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội châu Á (21%) và thế giới (26,7%), đứng đầu trong các quốc gia thuộc Hội đồng liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPA).

Tỷ lệ (%) nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cũng tăng dần qua các nhiệm kỳ, cụ thể là:

NK 2011 – 2016 NK 2016 – 2021 NK 2021 – 2026
Cấp tỉnh 25,7 26,5 29
Cấp huyện 24,62 27,5 29,2
Cấp xã 27,71 26,59 28,98

Cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cấp

Theo thống kê, từ khóa IX (1992-1997) đến khóa XV (2021-2026), số lượng bộ trưởng nữ luôn được duy trì ở mức từ 1 đến 3 người (Khóa XIV và khóa XV: 3/22 Bộ trưởng, chiếm 13,64%).

Theo số liệu báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (tháng đến 31/12/2024:

- 14/30 các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ, đạt 46,67% (bằng năm 2023). Trong đó:

+ Tỷ lệ các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ 13/22 và không thay đổi so với 2023

+ Tỷ lệ các cơ quan thuộc chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ là 1/8 cơ quan (đạt 12,5% và bằng năm 2023)

- 48/63 chính quyền địa phương cấp tỉnh (76%) có lãnh đạo chủ chốt là nữ (tăng 2% so với năm 2023)

- 44,56% chính quyền địa phương cấp huyện có lãnh đạo chủ chốt là nữ

- 46,58% chính quyền địa phương cấp xã có lãnh đạo chủ chốt là nữ

Từ kết quả thực tiễn, có thể rút ra một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, phụ nữ tham gia cấp ủy các cấp đã có sự chuyển biến, một số mục tiêu về công tác cán bộ nữ chưa đạt được, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra. Còn nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị tỷ lệ cán bộ nữ chưa đạt yêu cầu; càng lên cấp cao thì tỷ lệ nữ cấp ủy càng có xu hướng giảm.

Thứ hai, mặc dù tỷ lệ nữ Quốc hội ở Việt Nam cao hơn so với tỷ lệ chung của thế giới và của châu Á nhưng đang có chiều hướng giảm dần khoảng cách và bị tụt hạng. Tại thời điểm công bố kết quả bầu cử (tháng 6/2021), Việt Nam đứng thứ 53 về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội trong số 193 quốc gia theo bảng xếp hạng của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU); Năm 2022, Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam xếp thứ 59/180 quốc gia. Đến tháng 6/2024, Việt Nam đứng thứ 65/193 quốc gia[1].

Bên cạnh đó, vẫn còn có địa phương không có đại biểu nữ: Quốc hội khóa XIV có 3 địa phương không có nữ đại biểu Quốc hội: Quảng Nam, Tây Ninh, Thừa Thiên – Huế; Quốc hội khóa XV có 2 địa phương không có nữ đại biểu Quốc hội: Tp.Hải Phòng, Cà Mau. Có địa phương không tuân thủ tỷ lệ nữ trong danh sách ứng cử theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân (ví dụ như Trà Vinh, tỷ lệ này chỉ đạt 33,73%). Một số địa phương có tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân còn thấp, đối với cấp tỉnh: tỉnh Thừa Thiên – Huế đạt 13,75%, tỉnh Long An (15%), tỉnh An Giang (18,03%); tỉnh Vĩnh Long đạt tỷ lệ nữ Hội đồng nhân dân cấp huyện là 19,31% và cấp xã là 19,54%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình chung của cả nước.

Phân tích số liệu về đại biểu Quốc hội đầu khóa XV cho thấy: số lượng đại biểu quốc hội chuyên nghiệp làm việc tại Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội còn có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ (92 đại biểu chuyên nghiệp là nam giới, 36 đại biểu là phụ nữ). Trở thành thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội phản ánh tỷ lệ cân bằng cân bằng giữa đại biểu nam và nữ ở các Ủy ban Xã hội, Ủy ban văn hóa, giáo dục, Hội đồng dân tộc; Thấp nhất là số lượng thành viên nữ của Quận ban Quốc phòng và An ninh (7 nữ đại biểu), tại các Ủy ban Kinh tế, Tài chính – Ngân sách, Tư pháp và Pháp luật, tỷ lệ thành viên ủy quyền là nữ đều thấp hơn 30%.

Thứ ba, về phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, t heo Diễn đàn Kinh tế thế giới, c vui số khoảng giới (xem xét trên 4 khía cạnh chính: kinh tế, giáo dục, y tế và chính trị) : năm 2024 của Việt Nam xếp thứ 72/ 146 quốc gia gia tham gia xếp hạng (WEF, 202 4 ) - hạng tương đương với năm 2023, tăng 11 bậc so với năm 2022 và tăng 15 bậc so với năm 2021 (xếp thứ 87/146 quốc gia). Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ ở vị trí bộ trưởng có hạng thấp hơn – xếp hạng thứ 114/146 quốc gia (năm 2023). Cuối năm 2024, Chính phủ mới chỉ đạt được 1 trong 4 chỉ tiêu liên quan đến phụ nữ tham chính trong chiến lược quốc gia về bình đẳng giai đoạn 2021 -2030 - đó là chỉ tiêu chính quyền cấp Tỉnh có đạo chủ chốt là nữ.

 


[1] https://data.ipu.org/women-ranking/?date_year=2024&date_month=06 (bảng xếp hạng tháng 6 của IPU)

Ngày 27/11/2024, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 162/2024/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá giai đoạn 2025 – 2035. Để Chương trình thực hiện được hiệu quả, cần tập trung vào một số giải pháp:

1. Nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đồng thời phổ biến, truyền thông về Chương trình

Thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức chính trị xã hội và cộng đồng cần xác định xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Toàn bộ hệ thống chính trị tập trung đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền phổ biến sâu rộng về mục tiêu của Chương trình đến các cấp, các ngành, các tầng lớp dân cư, đội ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật nhằm làm thay đổi và chuyển biến nhận thức, xác định vai trò của từng chủ thể trong thực hiện Chương trình một cách hiệu quả. Trên nền tảng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, triển khai trên cả nước phong trào thi đua phát triển văn hóa toàn diện do Thủ tướng Chính phủ phát động. Trong đó, có các giải pháp khen thưởng các địa phương được công nhận đạt chuẩn.

Đa dạng hóa các hình thức truyền thông (như ấn phẩm tuyên truyền, sinh hoạt cộng đồng, thông qua người có uy tín, ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội,...), tuyên truyền với nội dung phù hợp đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán và năng lực, nhu cầu tiếp nhận thông tin, chú trọng sự tham gia của cộng đồng dân cư tại cơ sở. Có kế hoạch truyền thông, tuyên truyền cụ thể, tập trung vào truyền thông, tuyên truyền về các quy định pháp luật, tài liệu, sổ tay hướng dẫn liên quan đến Chương trình, về cách làm hay, gương điển hình, tiêu biểu, kết quả đạt được, khó khăn vướng mắc phát sinh trong quản lý và thực hiện Chương trình. Thường xuyên tổ chức đối thoại chính sách trong Chương trình, các cuộc thi báo chí, văn hóa, nghệ thuật tuyên truyền về Chương trình.

2. Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để phát huy hiệu quả các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, các thiết chế văn hóa, khích lệ khát vọng sáng tạo và tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân

Chủ động triển khai Chương trình từ năm 2025 với các hoạt động xây dựng cơ chế chính sách, hệ thống các văn bản, tài liệu hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình, hệ thống giám sát, đánh giá việc thực hiện Chương trình, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ quản lý Chương trình xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi, chuẩn bị đầu tư các nhiệm vụ và các nội dung quản lý khác. Việc dành sớm khoảng 12 tháng để thực hiện các hoạt động trên sẽ tạo tiền đề quan trọng để tăng tốc triển khai Chương trình thuận lợi, hiệu quả trong giai đoạn trung hạn mới 2026-2030.

Giải pháp hoàn thiện các cơ chế chính sách, sửa đổi, bổ sung, xây dựng các văn bản pháp luật, quản lý hiện hành có liên quan đến phát triển văn hóa nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế văn hóa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, tạo môi trường, khuôn khổ thuận lợi, khuyến khích sáng tạo, quản lý hiệu quả, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế và phù hợp với cam kết quốc tế gồm:

a) Hoàn thiện khung khổ pháp lý về huy động nguồn lực, sự tham gia của khu vực ngoài Nhà nước hỗ trợ thực hiện Chương trình, phù hợp với điều kiện thực tế; chỉ đạo các địa phương chủ động ban hành các cơ chế, đặc thù hỗ trợ thực hiện Chương trình theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động

b) Hoàn thiện cơ chế chính sách về phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa

c) Hoàn thiện hệ thống chính sách về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật

d) Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển thị trường công nghiệp văn hóa

e) Đối với các nội dung nhiệm vụ, hướng tới xây dựng hệ thống sổ tay hướng dẫn thực hiện, phổ biến công khai, đảm bảo tính dễ sử dụng, dễ tiếp cận, phù hợp với từng đối tượng triển khai thực hiện Chương trình, có tính mở, linh hoạt để đáp ứng nhu cầu cụ thể của mỗi địa phương. Khuyến khích vận động các đối tác, nhà tài trợ nước ngoài, các tổ chức trong nước có kinh nghiệm tham gia hỗ trợ xây dựng hệ thống số tay hướng dẫn để Chương trình có thể triển khai nhanh nhất, hiệu quả nhất.

3. Tập trung nguồn lực và có cơ chế huy động nguồn lực thực hiện Chương trình

Thực hiện đồng bộ các giải pháp về huy động vốn, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời theo quy định; Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chương trình. Các tỉnh, thành phố ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước được phân bổ đầu tư cho các địa bàn khó khăn để góp phần thu hẹp khoảng cách về phát triển văn hóa giữa các vùng, miền, đặc biệt là giữa nông thôn và đô thị.

Thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng đầu tư cho các ngành công nghiệp văn hóa; nghiên cứu, phát triển đa dạng các sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng cho lĩnh vực công nghiệp văn hóa, chương trình phát triển thương hiệu văn hóa Việt Nam, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, đầu tư công trình văn hóa… phù hợp với quy mô, đặc thù và khả năng của từng tổ chức cho vay;

Tăng cường vận động các tổ chức kinh tế đăng ký hỗ trợ các địa phương (cấp huyện, xã) thực hiện phát triển văn hóa toàn diện; vận động người dân tiếp tục tham gia đóng góp phát triển văn hóa toàn diện theo nguyên tắc tự nguyện cho từng dự án, nội dung cụ thể, do Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua.

Đa dạng hóa các nguồn vốn để thực hiện Chương trình, trong đó ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định. Tăng cường huy động các nguồn lực khác như nguồn lực đất đai, nguồn nhân lực. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài (từ các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài…) và các nhà đầu tư tiềm năng trong nước, đặc biệt trong việc đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng các khu trung tâm văn hóa, tổ hợp trung tâm biểu diễn nghệ thuật, trung tâm chiếu phim, dịch vụ giải trí văn hóa… để gia tăng nguồn kinh phí thực hiện, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.

4. Xây dựng cơ chế, phân cấp, phân quyền, trao quyền cụ thể trong triển khai Chương trình

Thực hiện cơ chế hỗ trợ, phân cấp, phân quyền cho địa phương, cơ sở trong xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện Chương trình phù hợp với điều kiện của từng địa phương gắn với lợi thế, bản sắc văn hóa, đảm bảo hiệu quả của Chương trình.

Áp dụng cách phát triển văn hóa dựa vào cộng đồng; mở rộng và tạo điều kiện để thu hút sự tham gia của người dân trong các hoạt động của Chương trình; bảo đảm công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện Chương trình. Trong quá trình tổ chức triển khai các nội dung, hoạt động của Chương trình cần có quy định, cơ chế cụ thể về việc tham vấn ý kiến của cộng đồng địa phương, đối tượng thụ hưởng, sử dụng của công trình, thiết chế.

Áp dụng thống nhất các cơ chế, quy trình trong thực hiện nội dung thành phần của Chương trình; có cơ chế chi tiêu đặc thù đối với một số nhiệm vụ, hoạt động của Chương trình, ưu tiên lựa chọn các nội dung hỗ trợ có định mức cao hơn; đảm bảo nguyên tắc không trùng lặp giữa các hoạt động, nội dung hỗ trợ đầu tư của nội dung thành phần thuộc Chương trình trên cùng một địa bàn, cùng một đối tượng thụ hưởng.

5. Tăng cường phối hợp, kết nối giữa văn hóa và các ngành, lĩnh vực khác

Tăng cường các biện pháp phát huy tính mở, tính kết nối của văn hóa với các ngành, lĩnh vực khác để tạo ra các giá trị gia tăng cho các hoạt động kinh tế, xã hội khác. Phát huy các giá trị văn hóa tích cực để xây dựng xã hội, phát triển các mối quan hệ lao động dựa trên niềm tin, đạo đức, tinh thần bác ái, hướng tới giảm thiểu các chi phí, thời gian không cần thiết, tăng hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

a) Đẩy mạnh việc tích hợp các nội dung hoạt động của Chương trình vào môi trường sản xuất kinh doanh, nhằm nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần làm việc của người lao động hướng tới tăng năng suất lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

b) Đối với các cơ quan và đơn vị nhà nước, cần chủ động nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong tổ chức, nhằm tối ưu hóa hiệu lực và hiệu quả hoạt động của Nhà nước.

c) Khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc tích hợp các giá trị văn hóa, đặc biệt là giá trị văn hóa truyền thống và nghệ thuật, vào các sản phẩm và hàng hoá trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và các ngành, lĩnh vực khác để tạo ra giá trị gia tăng, đặc biệt hướng tới tăng xuất khẩu.

6. Tổ chức hiệu quả bộ máy thực hiện Chương trình, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát

a) Xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình phù hợp với các quy định hiện hành, đảm bảo Chương trình được triển khai phù hợp, hiệu quả và thống nhất, đồng bộ trong toàn hệ thống. Giao một cơ quan đầu mối chung, điều phối thực hiện Chương trình nhằm tạo ra sự chủ động ở cấp thực hiện và thống nhất trong quá trình triển khai đạt được mục tiêu đề ra của Chương trình.

b) Nâng cao năng lực tổ chức quản lý, thực hiện Chương trình. Xây dựng chương trình, giáo trình, tài liệu; tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình. Đào tạo, tập huấn cho cộng đồng dân cư về nghiệp vụ quản lý, kỹ thuật thực hiện các hoạt động thuộc Chương trình, kỹ năng thực hiện hoạt động giám sát cộng đồng.

c) Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá tiến độ, hiệu quả việc thực hiện Chương trình ở các cấp, các ngành. Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chương trình để điều chỉnh, bổ sung kịp thời nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả thực hiện Chương trình.

d) Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phù hợp hướng dẫn tổ chức thực hiện, triển khai Chương trình theo quy định trình tự, thủ tục rút gọn của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo kịp thời giao nhiệm vụ cho các Bộ, ngành triển khai ngay sau khi Chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi, theo đầu mối tinh gọn, rõ ràng, không chồng chéo, tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp cơ sở triển khai.

Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về PCTNTC, trọng tâm là giáo dục đạo đức cách mạng, xây dựng văn hoá liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân[1]; thường xuyên nắm bắt tình hình, tư tưởng, dư luận xã hội, kịp thời định hướng thông tin tuyên truyền về công tác PCTNTC, nhất là liên quan đến việc Trung ương cho thôi giữ chức vụ đối với các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Đồng thời tăng cường đấu tranh, phản bác, xử lý các trường hợp thông tin vu cáo, xuyên tạc về công tác PCTNTC để chống phá Đảng và Nhà nước.

Trong năm 2024, hơn 18,7 triệu lượt cán bộ, công chức, viên chức, người dân được phổ biến, giới thiệu, giáo dục pháp luật về PCTNTC, với hơn 568 nghìn lớp tuyên truyền, quán triệt pháp luật về PCTNTC được tổ chức và trên 1.224 nghìn cuốn sách, tài liệu về PCTNTC được phát hành. Nhiều hình thức tuyên truyền phong phú được triển khai bám sát Quy định số 116-QĐ/TW ngày 28/7/2023 của Ban Bí thư về chỉ đạo, định hướng và cung cấp thông tin, tuyên truyền PCTNTC. Trong đó, tập trung thông tin, tuyên truyền về kết quả phiên họp, cuộc họp của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo, các kỳ họp của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; kết quả thanh tra, kiểm toán, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp; gương người tốt, việc tốt trong đấu tranh PCTNTC. Đặc biệt đã tuyên truyền đậm nét về tấm gương đạo đức cách mạng, lối sống giản dị, liêm khiết, phong cách làm việc và những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với công tác PCTNTC và khẳng định sự quyết tâm tiếp nối, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai, truy tố một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh PCTNTC của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tạo sự lan toả sâu rộng trong xã hội, tăng cường niềm tin của Nhân dân vào quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của xã hội trong PCTNTC

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tích cực phối hợp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc giám sát việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cử tri và Nhân dân; góp ý, phản biện xã hội đối với các dự án luật, trong đó có nội dung liên quan đến công tác PCTNTC; nâng cao vai trò, trách nhiệm của công dân, Ban Thanh tra Nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng ở cơ sở trong PCTNTC. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ trì, phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức lễ trao Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ tư (tổ chức ngày 05/11/2023); phát động Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ 5 nhằm phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tiếp tục khẳng định vai trò của báo chí đối với công tác thông tin, tuyên truyền về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, lợi ích nhóm; phòng, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần vào công tác xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Hợp tác quốc tế trong PCTN

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về PCTN, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác đối ngoại và phòng, chống tham nhũng, thể hiện rõ thiện chí hợp tác và hội nhập, mặt khác luôn giữ vững lập trường chính trị, khẳng định độc lập và chủ quyền của Việt Nam, cụ thể như: Tham dự các cuộc họp trong khuôn khổ Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC); Tham dự Cuộc họp Mạng lưới các Cơ quan Chống tham nhũng và Thực thi pháp luật của APEC (ACT-NET) lần thứ 11, Cuộc họp Nhóm công tác về chống tham nhũng và bảo đảm minh bạch (ACTWG) lần thứ 38 và Hội thảo APEC về trao đổi kinh nghiệm và thực tiễn tốt nhằm tăng cường liêm chính trong khu vực công trong khuôn khổ các cuộc họp APEC SOM1; Tham dự Hội nghị “Tăng cường chính sách liêm chính và thúc đẩy khuôn khổ phòng, chống tham nhũng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương” và Diễn đàn Chống tham nhũng và Liêm chính Toàn cầu 2024; Tham dự Hội nghị Nhóm các Cơ quan Phòng, Chống tham nhũng ASEAN lần thứ 19; Tổ chức Hội nghị tổng kết công tác đánh giá thực thi Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng (UNCAC);Việt Nam - Pháp ký kết nâng cấp bản ghi nhớ hợp tác về phòng, chống tham nhũng… góp phần nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

 


[1] Tiếp tục quán triệt, triển khai Luật Phòng, chống tham nhũng, các quy định hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thanh tra; Thông báo Kết luận số 12-TB/TW ngày 06/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTNTC; Quy định 139-QĐ/TW ngày 04/01/2024 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy trình kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành, tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và PCTNTC trong công tác cán bộ; Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và PCTNTC trong hoạt động kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về viểm soát quyền lực, PCTNTC trong công tác xây dựng pháp luật; Quy định số 142-QĐ/TW ngày 23/4/2024 của Bộ Chính trị thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ; Quy định số 148-QĐ/TW ngày 23/5/5024 của Bộ Chính trị về thẩm quyền của người đầu trong việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới trong trường hợp cần thiết hoặc khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 11/10/2023 của Chính phủ về Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030; hoàn thành tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TTg ngày 12/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đưa nội dung PCTN vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng…

Về nghệ thuật biểu diễn

Cả nước có 130 nhà hát, đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, trong đó, có 12 đơn vị nghệ thuật Trung ương, 18 đơn vị nghệ thuật do các Bộ ngành khác quản lý. Hoạt động nghệ thuật biểu diễn từng bước được đổi mới, đáp ứng được một phần nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân, có một số chương trình giới thiệu được nhiều giá trị văn hoá truyền thống của Việt Nam đến với thế giới; nghệ thuật biểu diễn truyền thống đang từng bước được bảo tồn ở nhiều vùng miền. Nghệ thuật biểu diễn hiện đại bước đầu có dấu ấn từ sự nỗ lực của các cá nhân, tập thể có tố chất xuất sắc và luôn khát khao mang nghệ thuật Việt Nam đến với công chúng quốc tế. Đây là những hoạt động cần tiếp tục đầu tư khuyến khích phát triển để tạo ra các giá trị nghệ thuật mới, các sản phẩm văn hóa có chất lượng cao hơn, có sức cạnh tranh và phổ biến ra thị trường khu vực và quốc tế.

Về điện ảnh

Điện ảnh nước nhà có những bước tiến đáng kể, hiện đã và đang tiệm cận với quy mô của một ngành công nghiệp văn hóa. Trung bình mỗi năm số lượng phim điện ảnh Việt Nam được sản xuất và cấp phép phổ biến từ 35 đến 40 phim; từ 20 đến 45 phim tài liệu, khoa học và từ 10 đến 20 phim hoạt hình. Số lượng các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào hoạt động sản xuất, phát hành và phổ biến phim tăng dần theo từng năm. Tính đến năm 2022[1], cả nước có 05 cơ sở phát hành và phổ biến phim trong nước; 07 cơ sở phát hành và phổ biến phim có vốn nước ngoài. Công tác quảng bá điện ảnh Việt Nam tại nước ngoài được mở rộng hơn trước thông qua việc gửi phim tham gia các Tuần phim, Liên hoan phim quốc tế... Tại các địa phương, việc đầu tư phương tiện, trang thiết bị và xây dựng chế độ khuyến khích các đội chiếu bóng lưu động đi phục vụ ở khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo bước đầu đạt được hiệu quả tích cực. Đến năm 2022, cả nước có 205 đội chiếu phim lưu động, trung bình mỗi năm phục vụ được gần 30 nghìn buổi chiếu với khoảng gần 5 triệu lượt người xem.

Về đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học ngành văn hóa

Cả nước đã xây dựng được nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, bảo tàng, mỹ thuật, thư viện, quản lý văn hóa,… Mô hình tổ chức đào tạo lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật trong nước được hình thành theo hướng chuyên nghiệp, bài bản hơn và đã xác định được mô hình đào tạo phù hợp, phát huy được hiệu quả trong đào tạo tài năng nghệ thuật. Chương trình, giáo trình cũng vì thế nên được thay đổi, cập nhật thường xuyên; các tài năng trẻ được phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, phát huy năng lực sáng tạo, tạo nên nguồn nhân lực chất lượng, đã và đang khẳng định được vị thế, chỗ đứng của nghệ thuật nước nhà trong khu vực và trên thế giới. Chính sách đối với giảng viên, nhà giáo tham gia đào tạo các ngành nghệ thuật đặc thù đã phần nào được quan tâm. Nhà nước đã có chính sách thiết thực hỗ trợ miễn giảm học phí, bồi dưỡng nghề và hỗ trợ trang thiết bị cho học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Chất lượng nghiên cứu khoa học từng bước được nâng cao, nội dung ngày càng phong phú, đa dạng kết quả nghiên cứu góp phần vào giải quyết được một số vấn đề mang tính cấp bách về quản lý được đặt ra trong các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch, trong đó nhiều nội dung nghiên cứu được bổ sung vào giáo trình giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng, góp phần nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan, đơn vị. Các dự án xây dựng Tiêu chuẩn Việt Nam đã bổ sung thêm đối tượng tiêu chuẩn hóa như mỹ thuật, âm nhạc...; Hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học và công nghệ, hợp tác đào tạo nhân lực, phối hợp tổ chức hội thảo quốc tế... ngày càng được mở rộng.

Về hợp tác quốc tế về văn hóa

Công tác quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra nước ngoài được triển khai hiệu quả, có chất lượng. Các hoạt động văn hóa đối ngoại với quy mô, hình thức đa dạng, phong phú được tổ chức trong và ngoài nước, trên khắp các châu lục; quảng bá được các giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới; tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, biến văn hóa thành sức mạnh nội sinh của toàn dân tộc; tăng cường tình đoàn kết giữa người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế; làm cho thế giới hiểu biết hơn về đất nước, con người, văn hóa Việt Nam, tạo lòng tin và sự yêu mến đối với Việt Nam.

Có thể nói, các chính sách phát triển văn hóa trên đã được thực hiện bám sát với thực tiễn phát triển của các lĩnh vực văn hóa, thực trạng phát triển văn hóa của ngành, địa phương nên đã mang lại những kết quả tích cực: nhận thức của cán bộ và nhân dân về việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc được nâng cao; nhiều cơ sở văn hóa đã được hoàn thành đầu tư xây dựng mới, nâng cấp phát huy hiệu quả hoạt động trong thực tiễn; phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng thu hút sự hưởng ứng tham gia và tạo được sự lan tỏa tích cực trong các tầng lớp nhân dân; việc đầu tư phát triển văn hóa đã góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật cho nhân dân, công chúng khán giả, phát triển môi trường học tập và hoạt động giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế.

Công tác xây dựng môi trường văn hóa và bảo vệ môi trường ở các cơ sở văn hóa đã bước đầu được chú ý hơn. Chính sách và giải pháp về thu hút đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học và công nghệ nhằm phát triển ngành văn hóa ngày càng được triển khai đồng bộ, đem lại hiệu quả nhất định về mặt kinh tế, xã hội. Những chính sách đầu tư công cho lĩnh vực văn hóa[2] đã tạo ra những bước phát triển tích cực của ngành văn hóa trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Về phân bố không gian phát triển văn hóa, ngoài 2 địa bàn tập trung cơ sở văn hóa quốc gia lớn nhất cả nước là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, một số tỉnh, thành phố đóng vai trò trung tâm vùng đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở văn hóa như các bảo tàng, rạp chiếu phim, nhà hát, thư viện, trung tâm văn hóa, nghệ thuật đa năng, nhà sáng tác văn học nghệ thuật... và thực hiện tu bổ, tôn tạo di sản văn hóa thế giới được UNESCO ghi danh, các di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia.

Việc xây dựng văn hóa trong chính trị và văn hóa trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả, tích cực. Công tác bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đạt được những kết quả tích cực trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tác giả, chủ sở hữu, góp phần động viên, khích lệ, tạo động lực cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đổi mới, sáng tạo văn hóa, nghệ thuật. Công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa có bước khởi sắc. Hoạt động xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Việc đấu tranh, phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, chống các quan điểm, hành vi sai trái gây tác hại đến văn hóa, lối sống được chú trọng. Nhiều tấm gương sáng trong phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã được biểu dương, lan tỏa vào đời sống xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa nói riêng, xây dựng và phát triển đất nước nói chung.


[1] Theo thống kê của Cục Điện ảnh, Bộ VHTTDL

[2] Chính sách đầu tư công thể hiện qua: giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, xã hội hóa, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ tại các cơ sở văn hóa...

Năm 2025, dự báo tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các thế lực thù địch, phản động gia tăng hoạt động chống phá, triệt để lợi dụng những vấn đề bức xúc trong xã hội để kích động tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự, công khai chống chính quyền... Tình hình tội phạm có xu hướng phức tạp, nhất là nhóm tội phạm do nguyên nhân xã hội (giết người, cố ý gây thương tích...), tội phạm sử dụng công nghệ cao, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm buôn lậu, tội phạm trong lứa tuổi thanh, thiếu niên, xâm hại trẻ em, chống người thi hành công vụ, buôn bán, vận chuyển ma túy, tệ nạn xã hội... Vi phạm pháp luật sẽ còn tiếp tục xảy ra nhiều tại các lĩnh vực xã hội nếu không có giải pháp quyết liệt, nhất là trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, khoáng sản; sản xuất công nghiệp; kinh doanh nhập khẩu; lĩnh vực quản lý, xây dựng đô thị vấn đề xử lý chất thải công nghiệp; vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế, thuốc bảo vệ thực vật, trật tự an toàn giao thông,...

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, Chính phủ tập trung chỉ đạo, thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2025, như sau:

1. Chủ động nâng cao chất lượng công tác nắm, phân tích, dự báo tình hình, tham mưu chiến lược từ sớm, từ xa, nhất là sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn tác động đến lợi ích, an ninh quốc gia Việt Nam... để kịp thời báo cáo, tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách phù hợp nhằm giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước.

2. Triển khai thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, phương án bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các mục tiêu, công trình trọng điểm, các sự kiện chính trị, văn hoá, xã hội quan trọng của đất nước, các hội nghị quốc tế lớn ở Việt Nam. Tiếp tục thúc đẩy quan hệ song phương; chủ động tham gia, củng cố quan hệ hợp tác với các đối tác, các tổ chức quốc tế và khu vực. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để tạo sự đồng thuận trong dư luận xã hội và quốc tế về chủ trương hội nhập quốc tế trong lĩnh vực an ninh, trật tự và dân chủ, nhân quyền.

3. Tập trung phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động khủng bố, phá hoại, kích động biểu tình gây rối an ninh, trật tự của các thế lực thù địch, phản động, số đối tượng chống đối. Làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường bảo đảm an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng, an ninh kinh tế; chủ động phát hiện, ngăn chặn hoạt động lợi dụng không gian mạng chống phá Đảng, Nhà nước. Chỉ đạo chính quyền các cấp giải quyết có hiệu quả các vụ tranh chấp, khiếu kiện, nhất là các vụ việc liên quan đến đất đai, tôn giáo, dân tộc.

4. Tập trung nhận diện và chủ động triển khai các giải pháp kiềm chế tội phạm bền vững, phấn đấu theo chỉ tiêu đã đề ra. Tấn công trấn áp mạnh, quyết liệt với các loại tội phạm, nhất là tội phạm giết người, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; cướp ngân hàng, tiệm vàng; tội phạm đánh bạc; hoạt động “tín dụng đen”, đòi nợ, siết nợ, bảo kê, cưỡng đoạt tài sản, “tội phạm đường phố”, tội phạm mua bán người; các đường dây mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia, các tụ điểm phức tạp về ma túy trong nước; xử lý nghiêm tội phạm và các vi phạm pháp luật về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao, đặc biệt là các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra, xử lý tội phạm; khẩn trương khắc phục dứt điểm các hạn chế, vi phạm đã được chỉ ra. Đẩy nhanh tiến độ điều tra các vụ án, bảo đảm thời hạn đề nghị truy tố đối với các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Tổ chức sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về tăng cường nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy.

5. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. Quyết liệt, đột phá triển khai thực hiện Đề án 06 của Chính phủ; tiếp tục rà soát, triển khai dịch vụ công toàn trình, bám sát tiêu chí phục vụ nhân dân, công tác quản lý xã hội và quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, thúc đẩy tiến độ thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi trạng thái các mặt công tác từ “truyền thống” sang ứng dụng công nghệ “hiện đại”, nâng cao tính nghiệp vụ trong công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội; quản lý, vận động thu hồi, phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật về vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo. Đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông và phòng, chống cháy, nổ. Bảo đảm an ninh, an toàn cơ sở giam, giữ. Ban hành Nghị quyết về Chiến lược tổng thể quốc gia phòng ngừa, ứng phó các mối đe dọa an ninh phi truyền thống đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

6. Thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về an ninh, trật tự, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu theo Kết luận số 19-KL/TW ngày 14 tháng 10 năm 2021 của Bộ Chính trị về định hướng chương trình xây dựng pháp luật, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và các chỉ tiêu Quốc hội giao. Tiếp tục hoàn thiện hồ sơ các dự án: Luật phòng, chống mua bán người, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; xây dựng hồ sơ các dự án Luật: Luật Dẫn độ, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Hoàn thiện hồ sơ báo cáo cấp có thẩm quyền bổ sung vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội: Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thi hành để đề xuất sửa đổi, bổ sung đối với Luật Thi hành án hình sự và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.

7. Tập trung thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16 tháng 3 năm 2022 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới” và các Đề án thành phần. Tập trung triển khai thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tiếp tục thực hiện chủ trương bố trí cán bộ theo khung tiêu chuẩn, tiêu chí ở 4 cấp Công an, gắn với tăng cường biên chế cho cơ sở.

8. Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và các nguồn kinh phí gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ các lĩnh vực công tác phòng, chống tội phạm. Tập trung phát triển nhanh, bền vững công nghiệp an ninh; triển khai các nhiệm vụ thực hiện Quy hoạch sử dụng đất an ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 95/QĐ-TTg ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ; chủ động kinh phí phục vụ triển khai thực hiện các đề án, dự án trọng điểm.

Ma túy đã và đang trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Ma túy gây tác hại trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, sức khỏe…; đồng thời là một trong những nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh con người, an ninh xã hội, sự ổn định, phát triển và trường tồn của đất nước, dân tộc.

Tình hình ma túy thế giới, khu vực và các nước láng giềng

Tình hình tội phạm, tệ nạn ma túy trên thế giới và trong khu vực diễn biến phức tạp, ngày càng nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng mạnh cả về nguồn cung và nguồn cầu. Khu vực Tam giác vàng hiện không chỉ là địa bàn sản xuất các loại ma túy truyền thống như thuốc phiện và heroin mà đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất và tiêu thụ ma túy tổng hợp lớn nhất thế giới. Trung Quốc đẩy mạnh triệt phá các cơ sở sản xuất ma túy trong nội địa dẫn đến xu hướng dịch chuyển, lấy khu vực Tam giác vàng làm địa bàn hoạt động. Campuchia trở thành địa bàn có hoạt động trung chuyển ma tuý quốc tế cả đường bộ và đường biển, đồng thời là địa bàn sản xuất trái phép chất ma tuý với quy mô ngày càng lớn. Tình hình ma túy tại Lào tiếp tục diễn biến rất phức tạp[1]; các lực lượng chức năng liên tục triệt phá các vụ mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy[2] và sản xuất ma túy tổng hợp với số lượng đặc biệt lớn[3].

Sự bùng nổ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ số đã mang lại nhiều thay đổi trong các hoạt động mua bán trái phép các chất ma túy, làm cho chuỗi cung ứng ngắn hơn, giảm chi phí và tăng khả năng tiếp cận thị trường. Việc mua bán trái phép các chất ma túy trên không gian mạng và các sàn thương mại điện tử diễn ra phức tạp và khó kiểm soát; các đối tượng sử dụng tiền điện tử, tiền ảo để giao dịch gây nhiều khó khăn cho các cơ quan chức năng.

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và sự hình thành cộng đồng ASEAN với những chính sách thông thoáng, mở cửa thu hút đầu tư là điều kiện thuận lợi để tội phạm ma túy triệt để lợi dụng hoạt động. Đặc biệt, việc Thái Lan hợp pháp hóa trồng và sử dụng cần sa; Lào trồng và sản xuất sản phẩm từ cây gai dầu (có chứa chất ma tuý THC) đã phần nào ảnh hưởng đến sự thống nhất trong chính sách phòng, chống ma túy chung của ASEAN từ trước đến nay.

Tình hình ma túy ở trong nước

Nguồn ma túy chủ yếu từ nước ngoài được mua bán, vận chuyển về Việt Nam tiêu thụ hoặc tiếp tục vận chuyển đi nước thứ ba. Phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thường xuyên thay đổi, gia tăng sử dụng công nghệ cao, triệt để lợi dụng thành tựu, tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, Internet, không gian mạng để thực hiện các hành vi phạm tội, sẵn sàng trang bị các loại vũ khí quân dụng, manh động, chống trả quyết liệt, gây khó khăn, nguy hiểm cho lực lượng chức năng trong quá trình đấu tranh, bắt giữ.

Tình hình tệ nạn ma túy diễn biến phức tạp. Tính đến ngày 14/02/2024, toàn quốc có 223.715 người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy và người bị quản lý sau cai nghiện ma túy (chiếm 0,23% dân số cả nước); gồm: 39.431 người sử dụng trái phép chất ma túy; 166.698 người nghiện ma túy và 17.586 người bị quản lý sau cai nghiện ma túy; trong đó có 1.459 người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy có biểu hiện loạn thần “ngáo đá”.

Hoạt động sử dụng trái phép ma túy, ma túy “núp bóng”, tẩm ướp, pha trộn vào thực phẩm, đồ uống, thuốc lá điện tử và tệ nạn ma túy liên quan đến thanh, thiếu niên tiếp tục gia tăng, diễn biến phức tạp, nhất là tại các cơ sở kinh doanh có điều kiện và dịch vụ nhạy cảm về an ninh trật tự[4]. Hoạt động trồng trái phép cây có chứa chất ma túy chưa được xóa bỏ bền vững, nhất là tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới khu vực Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên. Số xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma túy chiếm tỷ lệ rất cao với 8.865/10.598 xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma túy (chiếm 83,7%).

Hậu quả, tác hại của ma túy

Ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe của người nghiện, người sử dụng, cả về thể chất và tinh thần, làm hệ thần kinh bị tổn hại dẫn đến thoái hóa nhân cách. Ma túy ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đa số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy đang trong độ tuổi lao động[5] nhưng lại mất khả năng hoặc giảm sút khả năng, năng suất lao động. Nghiện ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy là một trong những nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc gia đình tan vỡ…, phá vỡ “tế bào” của xã hội, tiềm ẩn nguy cơ cao dẫn đến các hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy có ở tất cả các địa phương, ở mọi thành phần, lứa tuổi; đặc biệt là ngày càng gia tăng và lan rộng trong thế hệ trẻ. Ma túy hiện nay trở thành một trong những nguy cơ đe dọa đến vấn đề an ninh quốc gia, nổi lên là nguy cơ các đối tượng sử dụng phương thức thủ đoạn mua chuộc, kích động số người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy, đối tượng phạm tội về ma túy để tham gia thực hiện các hoạt động như khủng bố, phá hoại, thậm chí bạo loạn, phá rối an ninh ở trong nước...

Ngày 27/11/2024, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 163/2024/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 đã đáp ứng yêu cầu cấp bách và khách quan, xuất phát từ thực tiễn tình hình, trước những áp lực ngày càng gia tăng của tình hình ma túy trên thế giới, khu vực và trong nước đe dọa trực tiếp đến sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống ma túy vào cuộc sống; góp phần bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, bảo vệ sức khỏe cho Nhân dân, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, xây dựng môi trường ổn định, an toàn, lành mạnh.

 


[1] Trong 05 năm qua, lực lượng chức năng Lào đã triệt phá 18.312 vụ án (chiếm 60% số vụ vi phạm pháp luật), bắt 26.667 đối tượng (có 572 đối tượng người nước ngoài), thu hơn 1,3 tấn heroin, gần 16 tấn cần sa, hơn 8,7 tấn thuốc lắc, 10,7 tấn ma túy đá, 680kg thuốc phiện, khoảng 24,8 tấn hóa chất.

[2] Trong đó có vụ thu giữ 1,5 tấn ma túy và hơn 55 triệu viên ma túy tổng hợp.

[3] Bộ Công an đã chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ đấu tranh chuyên án, phát hiện các đối tượng người Đài Loan, Trung Quốc cấu kết với người Lào để vận chuyển trái phép chất ma túy xuyên quốc gia, thu giữ 1,3 tấn ketamin và chứng minh các đối tượng đã vận chuyển trót lọt 500 kg ketamin từ Việt Nam đi Đài Loan qua tuyến đường biển; đồng thời phối hợp lực lượng chức năng Lào đấu tranh, triệt phá nhiều xưởng sản xuất ma túy tại Thủ đô Viên Chăn (Lào), thu giữ nửa triệu lít hóa chất, 81 tấn bột hóa chất dùng để sản xuất ma túy, trong đó có hơn 12 tấn ketamin thành phẩm.

[4] Cả nước hiện có 129 điểm và 11 tụ điểm phức tạp về ma túy; 2.315 cơ sở kinh doanh có điều kiện và dịch vụ nhạy cảm về an ninh trật tự tiềm ẩn nguy cơ hoạt động của tội phạm và tệ nạn ma túy.

[5] Hơn 98% số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy trên 18 tuổi.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành