Nhu cầu và khả năng thu hút oda vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế ở việt nam
Trong thập niên qua, Việt Nam đã đạt tiến bộ ngoạn mục về tăng trưởng GDP và giảm nghèo. Tăng trưởng trên đầu người hàng năm đạt bình quân 5,9%, tỷ lệ cao thứ tám trên thế giới. Kể từ năm 1990, tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo 1 USD một ngày dã giảm từ 51% dân số xuống còn 8%. Có được thành công này là nhờ một phần quan trọng ở mức đầu tư cao dành cho kết cấu hạ tầng kinh tế. Khoảng 9-10% GDP hàng năm được đầu tư vào ngành giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, nước và vệ sinh, một tỷ lệ đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế cao so với chuẩn quốc tế.
Đơn vị tính: tỷ đồng
| Giai đoạn 2002-2010 | Giai đoạn 2011-2020 |
Bình quân năm Giai đoạn 2002-2010 |
Bình quân năm Giai đoạn 2011-2020 |
|
| 1. Đường bộ: | 245.990 | 328.530 | 30.749 | 31.918 |
| Trong đó: Đường cao tốc | 56.570 | 158.530 | 7.071 | 11.950 |
| Quốc lộ | 139.420 | 125.000 | 17.428 | 14.690 |
| Tỉnh lộ | 50.000 | 45.000 | 6.250 | 5.278 |
| 2. Đường sắt: | 218.661 | 393.576 | 27.333 | 34.013 |
| Trong đó: Đường sắt cao tốc | 204.000 | 361.500 | 25.500 | 31.417 |
| Đường sắt thông dụng | 14.661 | 32.076 | 1.833 | 2.596 |
|
3.Đường biển 4.Đường thuỷ nội địa |
20.387 | 65.000 | 2.548 | 4.744 |
| 4.673 | 4.507 | 584 | 510 | |
| 5. Hàng không | 17.880 | 36.330 | 2.235 | 3.012 |
| 6. Giao thông đô thị (Hà Nôi & Tp.HCM) | 195.886 | 423.595 | 24.486 | 34.416 |
| Trong đó: Đường bộ | 129.385 | 221.448 | 16.173 | 19.491 |
| Đường sắt | 56.501 | 193.147 | 7.063 | 13.869 |
| Hỗ trợ giao thông | 10.000 | 9.000 | 1.250 | 1.056 |
|
công cộng 7. Giao thông nông thôn |
86.500 | 77.850 | 10.813 | • 9.131 |
| Tổng cộng | 189.977 | 1.329.388 | 98.747 | 117.744 |
Nguồn: Ngân hàng Thế giới: Chiến lược phát triển giao thông - Chuyển đổi, cải cách và quản lý bền vững, tr.26.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế được thể hiện rất rõ trong các văn kiện Đại hội của Đảng. Đại hội VIII xác định “Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế, trước hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển”. Đại hội IX khẳng định: “Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng: giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi, cấp nước, thoát nước...” và Đại hội X tiếp tục làm rõ hơn: “Trên cơ sở bổ sung, hoàn chỉnh quy hoạch, Nhà nước ưu tiên ngân sách và huy động các nguồn lực khác để đẩy nhanh việc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng trong từng vùng và trên cả nước, xem đây là một khâu đột phá để phát triển đất nước hiện nay và chuẩn bị cho bước tiếp theo” .
Trong giai đoạn 2006-2010 Nhà nước định hướng xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế hiện đại. Ưu tiên đầu tư hoàn chỉnh cơ bản hệ thống giao thông đường bộ, đường sông, đường sắt, đường biển, đường hàng không, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình thuỷ lợi có nhu cầu cấp bách, gắn với phát triển thuỷ điện. Phát triển nhanh nguồn điện với cơ cấu hợp lý. Tăng nhanh năng lực và hiện đại hoá bưu chính viễn thông. Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, chú trọng hoàn thiện mạng lưới giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, cung cấp đủ nước sạch và giải quyết cơ bản vấn đề thoát nước, xử lý chất thải ố đô thị, các khu công nghiệp.
Như vậy, có thể thấy yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế trong giai đoạn sắp tới rất lớn, cần nhiều vốn đầu tư cho lĩnh vực này, nên phải tiếp tục tranh thủ nguồn vốn ODA.
Theo dự kiến nêu trên, tỷ trọng ODA dành cho nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thuỷ sản kết hợp phát triển nông nghiệp, nông thôn, xoá đói giảm nghèo tiếp tục tăng (đạt 18%); giảm tỷ trọng vốn ODA, nhất là vốn ODA vay ưu đãi, cho năng lượng và công nghiệp (còn 16%) vì lĩnh vực này có năng lực tài chính và khả năng sinh lời, do đó dễ thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế khác trong và ngoài nước; tỷ trọng vốn ODA cho giao thông, bưu điện, cấp thoát nước và đô thị tăng (đạt 30%) để phát triển các đường cao tốc, đường sắt, đường sông, cảng biển, giải quyết môi trường đô thị, phát triển giao thông nông thôn, thông tin liên lạc nông thôn, miền núi...; lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường, khoa học công nghệ tuy có giảm nhưng vẫn giữ tỷ trọng cao (36%) trong tổng vốn ODA, đồng thời, những lĩnh vực này sẽ được xã hội hoá mạnh mẽ trong thời gian tới để thu hút đầu tư từ các nguồn khác.
Như vậy, nếu căn cứ vào mức dự kiến cơ cấu ODA cho các ngành/lĩnh vực như đã nêu ở trên và trên cơ sở mức đầu tư ODA cho các ngành/lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế thời gian qua (vốn ODA chiếm 37% tổng vốn đầu tư toàn xã hội cho kết cấu hạ tầng kinh tế). Có thể thấy rằng nhu cầu sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế ở mức cao hơn giai đoạn trước 2005, thì có thể dự báo trong giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ vốh ODA sử dụng vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế cũng phải chiếm ít nhất ở mức 45% tổng mức đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế của toàn xã hội và trung bình khoảng 60-75% tổng vốn ODA được thu hút. Đó là do trong giai đoạn này yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tốc độ phát triển cao của nền kinh tế, sẽ có nhiều công trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế quy mô lớn được thực hiện nên nhu cầu sử dụng ODA sẽ tăng hơn giai đoạn trước. Số liệu về mức dự kiến thu hút ODA cho từng phân ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế được trình bày cụ thể trong phần phụ lục. Tuy nhiên, sau năm 2010, khi thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng trên 1.000 USD, kinh tế trong nước có mức tăng trưởng khá thì đầu tư trong nước sẽ tham gia tích cực hơn vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, thay thế dần nguồn vốn ODA có xu hướng giảm và mức ưu đãi cũng giảm nhiều so với trước đây. Thời gian tới thu hút và sử dụng ODA nói chung, ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nói riêng, sẽ ở mức thấp và chủ yếu dành cho những công trình kết cấu hạ tầng kinh tế quy mô lớn, công nghệ hiện đại.
Từ cơ cấu nêu trên, nguồn vốn ODA cần vận động cho các ngành và lĩnh vực ưu tiên được dự kiến như sau:
Nếu thực hiện thành công kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020, Việt Nam sẽ ở vào trình độ nước đang phát triển có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người/năm sẽ đạt khoảng 1000-1.200 USD .
Theo thông lệ tài trợ phát triển, nguồn ODA cung cấp cho các nước đang phát triển có chiều hướng giảm và thay đổi mạnh về cơ cấu theo đà tiến bộ kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận. Hơn nữa, sau năm 2020, tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung, ở các tỉnh, khu vực nghèo, có nhiều khó khăn nói riêng sẽ đạt được những tiến bộ quan trọng, ngân sách của Trung ương và địa phương sẽ được cải thiện đáng kể, đồng thời để đảm bảo an toàn nợ quốc gia, không nên sử dụng ODA kém ưu đãi với quy mô lớn để đầu tư vào các dự án không có khả năng hoàn vốn. Những dự án này cần sử dụng ngân sách trong nước. ODA kém ưu đãi trong giai đoạn sau năm 2020 cần được tập trung vào các chương trình, dự án có tầm cỡ quốc gia, có nguồn thu và có khả năng trả nợ chắc chắn, như xây dựng các nhà máy điện, kể cả các nhà máy điện sử dụng năng lượng hạt nhân; phát triển các tuyến đường cao tốc thu phí, kể cả trong các thành phố lớn; phát triển hệ thống vận tải bánh sắt quy mô vận tải lớn như tàu điện ngầm, đường sắt trên cao ở các thành phố lớn...; các cảng hàng không; cảng biển; các hệ thống thông tin liên lạc viễn thông...; các công trình sản xuất có hàm lượng công nghệ và kỹ thuật cao, có sức lan tỏa thúc đẩy phát triển một ngành, một địa bàn lãnh thổ...
Đối tượng tiếp nhận và sử dụng ODA cũng cần thay đổi, không chỉ có các tổ chức và các doanh nghiệp nhà nước, mà tất cả các thành phần kinh tế tuân thủ các quy định của Chính phủ và các nhà tài trợ về quản lý và sử dụng ODA đều có thể tiếp cận nguồn vốn ODA, nếu các chương trình và dự án dự kiến sử dụng nguồn vốn này có tính khả thi cao về mặt kinh tế - xã hội và bảo đảm phát triển bền vững sau khi đưa vào sử dụng.
Dự báo khả năng thu hút ODA từ một số nhà tài trợ lớn cho Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020
Bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI, tổng nguồn ODA của thế giới đang hứa hẹn những thay đổi tích cực. Tổng nguồn ODA của các nước thành viên DAC đã tăng thêm 15 tỷ USD trong các năm 2011-2014. Nếu các nước thành viên của DAC thực hiện nghiêm túc cam kết tăng viện trợ thì tổng nguồn ODA của các nước thành viên DAC sẽ tăng thêm 18 tỷ USD, tỷ lệ ODA/GNI sẽ đạt 0,40% và sẽ đạt mức kỷ lục 120 tỷ USD vào năm 2020 .
Tháng 5-2015, các nước thành viên EU đã quyết định tăng nguồn ODA để đến năm 2020 sẽ đạt 1% GNI và năm 2025 sẽ đạt 1,2% GNI. Nhật Bản cũng tuyên bố sẽ đạt mục tiêu ODA/GNI là 1% trong những năm tới. Một số quốc gia Trung Âu, các quỹ, các nước thuộc tổ chức OECD nhưng không phải là thành viên của DAC, các quốc gia thành viên mới của EU, một số nước có nền kinh tế đang nổi cũng có những cam kết tích cực trong việc thúc đẩy gia tăng ODA.
Sự phân bổ ODA của các nhà tài trợ trong thời gian gần đây cũng có nhiều biến động lớn. Dòng ODA thuần đổ vào Trung Quốc (từng là nước tiếp nhận ODA lớn nhất) đã giảm gần 40% trong những năm gần đây, ODA thuần của khu vực Đông Nam Á cũng giảm mạnh. Trong khi đó nguồn ODA vào các nước vùng sa mạc Sahara của châu Phi, sau một thời gian suy giảm nay đang tăng trở lại. Công cuộc tái thiết Irắc và Ápganixtan cũng được các nhà tài trợ cam kết nguồn ODA lớn.
Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục chiếm ưu thế trên thế giới, nhưng với những dự báo nêu trên, chắc rằng nguồn cung cấp ODA cho châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng sẽ ít có những đột biến.
Tuy nhiên, ở trong nước, tình hình chính trị, xã hội ổn định, công cuộc đổi mới tiếp tục được đẩy mạnh, kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao sau khi Việt Nam gia nhập WTO, quan hệ ngoại giao của Việt Nam với khu vực và thế giới ngày càng được tăng cường... Đó là những thuận lợi cơ bản để vận động nguồn vốn ODA cho giai đoạn tiếp theo.
Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản phát triển theo hướng là đối tác tin cậy, ổn định lâu dài. Thông qua ODA, Nhật Bản mong muốn củng cố và tăng cường vị thế chính trị và kinh tế trong khu vực. Vì vậy, Nhật Bản vẫn là nhà tài trợ hàng đầu với chính sách viện trợ đa dạng hơn, gắn chặt hơn việc cung cấp ODA với phát triển thương mại và đầu tư. Lĩnh vực được ưu tiên cung cấp ODA ưu đãi vẫn là phát triển kết cấu hạ tầng quy mô lớn. Đây là điểm Việt Nam cần triệt để khai thác nhằm tranh thủ vốn và công nghệ phục vụ kế hoạch xây dựng những công trình hạ tầng quan trọng.
Tổng nguồn ODA thuần (số vốn ODA cấp mới trừ đi số hoàn nợ cũ) của Nhật Bản trong thời gian tới có xu hưống giảm. Theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (với 3 phương án khác nhau), hàng năm Nhật Bản có thể cam kết cung ứng ODA cho Việt Nam khoảng trên dưới 1 tỷ USD.
Liên minh châu Âu và các nước thành viên
Tổ chức này coi trọng châu Á từ góc nhìn thương mại và đầu tư, song không phải là đối tượng ưu tiên trong chính sách viện trợ. Nhưng quan hệ giữa Việt Nam với EU cũng như với các nước thành viên tiếp tục phát triển, nên nước ta có thể tiếp tục nhận được ODA từ tổ chức này và các quốc gia thành viên, trong đó có một số nước mới bắt đầu cam kết viện trợ cho Việt Nam (Ba Lan, Cộng hoà Séc, Hungari...), tuy quy mô mối tăng không đáng kể do nhu cầu viện trợ tại các khu vực ưu tiên tăng mạnh (Trung Đông, châu Phi). Quan tâm chính của các nhà tài trợ khu vực này vẫn là hỗ trợ chính sách, nhất là nội dung liên quan tối cải cách kinh tế, hỗ trợ giảm nghèo trực tiếp, xây dựng thể chế. Khả năng EU và các nước thành viên tài trợ cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế quy mô lớn không nhiều, Việt Nam cần cân nhắc, chỉ tiếp nhận nếu ODA thực sự ưu đãi và cần thiết đối với lĩnh vực dự kiến đầu tư.
Trong số các nước châu Âu, Anh, Pháp và Cộng hoà liên bang Đức có khả năng tăng thêm nguồn ODA cung cấp cho Việt Nam do quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước này đang trên đà phát triển.
Khả năng cung cấp ODA của các nước Bắc Âu như Thụy Sỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Na Uy và của uỷ ban chẫu Âu (EC) cho Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 sẽ tương đương mức cam kết năm 2005 hoặc tăng không đáng kể.
Các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, chủ yếu là UNDP (Chương trình phát triển Liên hợp quốc), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) và UNFPA (Quỹ Dân số của Liên hợp quốc) sẽ tiếp tục duy trì viện trợ cho Việt Nam, song nguồn vốn tự có của các tổ chức này sẽ không gia tăng đáng kể. Trong bối cảnh đó, các tổ chức của Liên hợp quốc sẽ phối hợp chặt chẽ hơn trong nội bộ và hỗ trợ có trọng tâm hơn đối với lĩnh vực giảm nghèo, quản trị quốc gia, phòng chông HIV/AIDS, dân số và phát triển, phụ nữ và trẻ em...
Do gặp khó khăn về nguồn vốn nên các tổ chức thuộc Liên hợp quốc ít có khả năng tăng cam kết vốn ODA cho Việt Nam trong thời gian tới, đến năm 2020 chỉ tương đương mức cam kết năm 2003.
Các tổ chức tài chính quốc tế, chủ yếu là Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) sẽ không có những thay đổi lớn về chính sách đối vối Việt Nam trong giai đoạn sắp tới, vẫn lấy việc hỗ trợ giảm nghèo làm trọng tâm. Khả năng tài trợ của các ngân hàng này cho các dự án hạ tầng kinh tế quy mô lớn sẽ là không nhiều. Xét một cách cụ thể có thể dự báo như sau:
- Viện trợ của Ngân hàng Thế giới (WB) cho Việt Nam sẽ ở mức cao vào giai đoạn đầu và giảm dần trong các năm tiếp theo do sự tăng trưởng kinh tế làm cho Việt Nam có chỉ số thu nhập quốc dân trên đầu người tăng vượt ngưỡng (895 USD của IDA) điều kiện vay ưu đãi của tổ chức này. Theo phương án cơ sở, bình quân một năm WB có thê cam kết cho vay khoảng 600 triệu USD.
- Ngân hàng Phát triển châu Ả (ADB) hiện đang xếp Việt Nam vào nhóm B với các điều kiện ưu đãi giảm đi nhiều (lãi suất 1-1,5%, trả nợ trong 32 năm, trong đó có 8 năm ân hạn). Cùng vối việc giảm nguồn vay ưu đãi, ADB mở thêm kênh vay thông thường (OCR) với các điều kiện tài chính gần với vay thương mại.
Đánh giá chung trong thời gian tới, các khoản vay của ADB cho Việt Nam khó có thể tăng nhanh mà chủ yếu vẫn duy trì ở mức như hiện nay. Đôi với phương án cao, viện trợ của ADB cho Việt Nam sẽ ở mức cao vào giai đoạn đầu và giảm dần trong các năm sau như của WB. Với phương án này, cam kết bình quân năm có thể đạt khoảng 550 triệu USD (có yếu tố OCR)
Mỹ bắt đầu cung cấp ODA cho Việt Nam từ sau khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước được thiết lập (năm 1995), với 3 lĩnh vực chủ yếu: (i) Hỗ trợ hoàn thiện môi trường thương mại và đầu tư, (ii) Hỗ trợ cải thiện việc tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với nhóm dân cư bị tổn thương và (iii) Hỗ trợ quản lý bền vững môi trường công nghiệp và đô thị. Ngân sách ODA của Mỹ dành cho Việt Nam tăng nhanh hàng năm.
Mức cam kết ODA cho Việt Nam trong giai đoạn 2016- 2210 của một số nhà nhà tài trợ khác như Ôxtrâylia, Hàn Quốc, Trung Quốc, Canada, theo dự kiến, sẽ tương đương với mức của năm 2003 hoặc tăng không đáng kể. Một số nguồn ODA của các nước cho Việt Nam bị dừng lại, điển hình là Thụy Điển, và một số nước khác song phương hoặc đa phương do Việt Nam đã thoát khỏi kênh nhận viện trợ ODA.
Nhìn chung, trong giai đoạn 2016-2020, chiều hướng cam kết ODA của các nhà tài trợ là tương đối ổn định và sẽ không có những đột biến, nhưng việc vận động nguồn vốn ODA cho phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế quy mô lớn là không dễ dàng và tính chất ưu đãi cũng giảm nhiều.
Dự báo tổng mức ODA cam kết và giải ngân của Việt Nam giai đoạn 2006-2010
Tổng vốn cam kết và giải ngân trong 5 năm 2016-2020 phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Yếu tố có tính chất bao trùm là quan hệ chính trị đối ngoại của Việt Nam với cộng đồng tài trợ quốc tế. Ngoài ra, còn cần tính đến 4 yếu tố sau: (i) Nhu cầu vốn cho tăng trưởng trong giai đoạn 2016- 2020; (ii) Khả năng giải ngân của Việt Nam; (iii) Khả năng cam kết viện trợ của cộng đồng các nhà tài trợ cho Việt Nam; (iv) Khả năng trả nợ của Việt Nam trong thời kỳ trung và dài hạn.