In trang này
Thứ năm, 19 Tháng 7 2018 03:21

Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong đáp ứng các yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0

Những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi cục diện phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, đưa con người chinh phục những đỉnh cao mới trong việc sáng tạo trí tuệ nhân tạo. Trước thời cơ đó, các nước trên thế giới không ngừng đáp ứng và thay đổi phương thức, tư duy kinh tế, quản lý, sản xuất, dịch vụ…. Trong tình hình đó, muốn phát triển kinh tế, ổn định xã hội, Việt Nam cần có những chính sách kịp thời nhằm bắt kịp bước tiến mới của thế giới. Xem xét các yếu tố của Việt Nam trong việc nắm bắt kịp thời cách mạng công nghiệp 4.0, cần thiết phải phân tích và đánh giá những thuận lợi và khó khăn hay nói cách khác là những điểm phù hợp và chưa phù hợp của Việt Nam trong việc đáp ứng các yếu tố cần thiết của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Báo cáo Đo lường Xã hội Thông tin (Measuring the Information Society) là ấn bản hàng năm của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), trong đó đưa ra Chỉ số Phát triển công nghệ thông tin và truyền thông (ICT Development Index - IDI). Chỉ số IDI đánh giá tốc độ phát triển công nghệ thông tin và truyền thông của các quốc gia dựa trên ba nhóm chỉ số chính, bao gồm mức độ phổ cập công nghệ thông tin và truyền thông (gồm các chỉ số phụ như tỷ lệ điện thoại cố định, di động, băng thông internet, tỷ lệ máy tính); mức độ sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (gồm chỉ số tỷ lệ người dùng internet, số thuê bao internet, thuê bao băng rộng di động); các kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (tỷ lệ người trưởng thành biết chữ, tỷ lệ phổ cập giáo dục trung học phổ thông). Năm 2016, Việt Nam xếp hạng 105 trên 175 nước (giảm 1 hạng so với năm 2015) với chỉ số là 4,29 (tăng 0,27 điểm so với năm 2015).

Một trong những yêu cầu bắt buộc để đón nhận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là chất lượng kết cấu hạ tầng. Trong Báo cáo Công nghệ thông tin toàn cầu 2016 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam đứng thứ 79 trên 139 nước về chỉ số sẵn sàng kết nối (Networked readiness index), giảm 6 hạng so năm 2015. Trong chỉ số này, ba phỉ số phụ được quan tâm là mức độ sẵn sàng của kết cấu hạ tầng, khả năng chi trả (affordability) và kỹ năng (skills), Việt Nam lần lượt xếp hạng 121, 3 yà 82. Kết cấu hạ tầng dựa trên các khảo sát về cung cấp điện, độ phủ của mạng di động, băng thông internet và số trạm internet an toàn. Khả năng chi trả được tính dựa trên thuế, thuế internet băng thông rộng cố định và khả năng cạnh tranh internet và điện thoại. Chỉ số kỹ năng dựa trên đánh giá về chất lượng của hệ thống giáo dục, chất lượng giáo dục toán và khoa học, tỷ lệ nhập học trung học cơ sở và tỷ lệ người trưởng thành biết chữ. Những chỉ số trên cho thấy, kết cấu hạ tầng về công nghệ thông tin và truyền thông đang có những bước tiến đáng kể nhằm đáp ứng những yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tuy nhiên, cần có những đầu tư mạnh mẽ hơn, những chính sách triệt để hơn với trọng tâm là kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm tạo nền tảng tốt cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Về phía doanh nghiệp, họ cần có cách nhìn đúng đắn về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên cả phương diện về tính tất yếu và lợi ích của nó. Từ đó, doanh nghiệp có những chiến lược và hành động kịp thời để đón nhận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như tận dụng tốt hơn lợi ích mà cuộc cách mạng này mang lại. Theo khảo sát của VINASA được công bố tại Vietnam ICT Summit 2017, có 35,2% số các tổ chức và đơn vị đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong đó, đa số là các doanh nghiệp thuộc khối ngân hàng, một số doanh nghiệp thuộc khối công nghệ thông tin, và chiếm đông nhất là các doanh nghiệp, cơ quan ứng dụng và một số cơ quan quản lý công nghệ thông tin. Ngoài ra, có 58% các doanh nghiệp đã tìm hiểu về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhưng chưa biết phải chuẩn bị những gì. Chỉ có 6,1% các doanh nghiệp chưa tìm hiểu gì và chưa biết phải chuẩn bị như thế nào trước các cơ hội và thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Như vậy, có thể thấy rằng doanh nghiệp ý thức được tầm quan trọng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhưng chưa định hướng được những chiến lược dài hạn hoặc những hành động cụ thể trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải có chính sách mới nhằm định hướng và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược phát triển phù hợp trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Theo báo cáo “Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2017” của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) thì ba thành phố trực thuộc Trung ương gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng được xem là đầu tàu trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin nhằm sẵn sàng đón đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chỉ số nguồn lực và hạ tầng công nghệ thông tin của Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng lần lượt là 93,7, 85,5 và 37,9. Các tỉnh, thành còn lại có mức độ phát triển khá tương đồng nhau với chỉ số trên dao động từ 10,0 đến 22,1. Điều này cho thấy, sự phân hoá mạnh mẽ khi nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin chỉ tập trung ở một vài thành phố lớn. Do đó, cần có các chính sách nhằm phân bổ tốt hơn nguồn lực và hạ tầng công nghệ thông tin giữa các tỉnh, thành với mục tiêu tối đa hóa khả năng đón nhận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên cả nước.

Trước thực trạng trên, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển bền vững khoa học và công nghệ của Việt Nam: (1) Cải thiện khung khổ pháp lý cho đổi mới sáng tạo; (2) Tăng cường quản trị công đối với hệ thống đổi mới sáng tạo; (3) Tăng cường nguồn vốn con người về đổi mới sáng tạo; (4) Tăng cường đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp; (5) Nâng cao tỷ trọng đóng góp của các cơ quan nghiên cứu nhà nước; (6) và Thúc đẩy các mối liên kết đổi mới sáng tạo (Đánh giá Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, 2017).

Theo báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 2017, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp hạng 47 trên 127 quốc gia được khảo sát, tăng 12 hạng so với năm 2016 (Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, 2017). Báo cáo cũng nhận định sự phát triển kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào các yếu tố vốn, tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động trình độ thấp, trong đó tăng trưởng dựa trên việc tích lũy vốn chiếm 52,7%. Do đó, chất lượng tăng trưởng vẫn còn thấp và năng lực cạnh tranh của quốc gia chưa được cải thiện, đặc biệt là đối với các tổ chức kinh tế, hạ tầng cơ sở và đổi mới sáng tạo công nghệ.

Cơ hội làm việc của ngưòi lao động có nguy cư giảm mạnh dưới áp lực từ việc ứng dụng rộng rãi công nghệ rôbốt trong quy trình sản xuất. Diễn đàn Kinh tế thế giới dự báo trong giai đoạn 2015-2020 có khoảng 5,1 triệu người trên thế giới mất việc làm. Báo cáo mới nhất của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho thấy, trong vòng hai thập kỷ tới, khoảng 56% người lao động ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam có nguy cơ mất việc vào tay rôbốt. Những ngành kinh tế có thể bị ảnh hưởng lớn bởi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là ngành dệt may, ngành da giày, ngành lắp ráp thiết bị điện tử, ngành chế biến thủy sản và ngành dịch vụ bán lẻ.

Một điểm chưa phù hợp tiếp theo của Việt Nam đối với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến hết năm 2016, có tới 78,6% người lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong tổng số người lao động. Bên cạnh đó, có 5,3% người có trình độ dạy nghề, 3,9% người có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, 2,9% người có trình độ cao đẳng và 9,3% người có trình độ đại học trở lên. Ngân hàng Thế giới cũng nhận định kỹ năng của người lao động và số lượng sẵn có vẫn quan ngại của đơn vị sử dụng lao động (Theo báo cáo “Điểm lại: Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam tháng 7-2017”). Nhiều đơn vị sử dụng lao động nhận định rằng, tuyển dụng lao động mới là một khó khăn đặc biệt nghiêm trọng do kỹ năng chưa bảo đảm, đặc biệt trong số các ứng cử viên vào các ngành nghề quản lý, chuyên môn và kỹ thuật. Rõ ràng nguồn nhân lực đã qua đào tạo là thấp và chưa đáp ứng được sự phát triển nhanh của kỹ thuật hiện đại. Do đó, nguồn nhân lực hiện tại sẽ là thách thức và cũng là điểm chưa phù hợp của Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Một điểm chưa phù hợp tiếp theo của Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là việc xây dựng chính phủ điện tử chưa thực sự mạnh mẽ. Năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36a/NQ-CP về chính phủ điện tử; mục tiêu của Nghị quyết này là xây dựng hệ thống dịch vụ hành chính công trực tuyến theo bốn cấp độ trên cả nước. Quyết tâm của chính phủ và các ban, ngành góp phần giúp Việt Nam tăng 10 bậc trên xếp hạng của Liên hợp quốc về mức độ sẵn sàng của chính phủ điện tử toàn cầu (từ hạng 99 năm 2014 lên hạng 89 năm 2016); tăng 12 bậc về mức độ tham gia điện tử (từ hạng 65 năm 2014 lên hạng 43 năm 2016)

Thứ hạng của Việt Nam về mức độ sẵn sàng của chính phủ điện tử toàn cầu và tham gia điện tử

2002 2003 2004 2005 2008 2010 2012 2014 2016
Mức độ sẵn sàng của chính phủ điện tử toàn cầu 90/139 97/173 11/179 10/179 91/182 90/183 83/190 99/193 89/193
Tham gia điện tử NA 36/37 36/37 36/44 16/170 11/157 28/190 65/193 43/193

Các chỉ số thành phần về mức độ sẵn sàng của chính phủ điện tử toàn cầu như chỉ số ứng dụng Website/dịch vụ trực tuyến, chỉ số hạ tầng bưu chính viễn thông và chỉ số vốn con người cũng được cải thiện

Thứ hạng các chỉ số thành phần Việt Nam về mức độ sẵn sàng của chính phủ điện tử toàn cầu

          2003 2004 2005 2008 2010 2012 2016
Chỉ số ứng dụng website/dịch vụ trực tuyến 98/191 123/191 113/191 65/192 79/189 92/193 89/193
Chỉ số hạ tầng bưu chính viễn thông 115/191 127/191 120/191 103/191 79/190 69/193 N/A
Chỉ số vốn con người 84/191 95/191 98/191 103/182 114/183 116/193 N/A

Điểm không phù hợp tiếp theo của Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là môi trường kinh doanh. Bảng 4.9 cho thấy, các chỉ tiêu và xếp hạng của Việt Nam theo báo cáo Môi trường Kinh doanh (Doing Business 2018) của Ngân hàng Thế giới, các yếu tố: Khởi sự kinh doanh, Bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, Nộp thuế, Thương mại qua biên giới và Giải quyết phá sản còn khá hạn chế. Trong thời kỳ Việt Nam đã gia nhập WTO (năm 2006), đang/chuẩn bị tham gia 16 hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia và vùng kinh tế trên thế giới và chuẩn bị đón nhận làn sóng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế là rất quan trọng. Tuy nhiên, với những khó khăn như trên thì Việt Nam vẫn đang đối mặt với những thách thức trong việc khởi nghiệp, hoạt động kinh doanh, từ đó khó tạo động lực cho các hoạt động đầu tư đổi mới sáng tạo. 

Bảng 4.9. So sánh môi trường kinh doanh Việt Nam với một số quốc gia Châu Á

Chỉ tiêu và xếp hạng/ 190 Việt Nam Hàn Quốc Xingapo Trung Quốc Thái Lan Malaixia Inđônêxia
Xếp hạng mức độ dễ dàng cho hoạt động kinh doanh 68 4 2 78 26 24 72
Khởi sự kinh doanh 123 9 6 93 36 111 144
Giấy phép xây dựng 20 28 16 172 43 11 108
Tiếp cận điện năng 64 2 12 98 13 8 38
Bảo vệ quyền tài sản 63 39 19 41 68 42 106
Tiếp cận tín dụng 29 55 29 68 42 20 55
Bảo vệ nhà đầu tư nhỏ 81 20 4 119 16 4 43
Nộp thuế 86 24 7 130 67 73 114
Thương mại qua biên giới 94 33 42 97 57 61 112
Thực hiện hợp đồng 66 1 2 5 34 44 145
  Giải quyết phá sản 129 5 27 56 26 46 38

Có thể thấy rằng, với những thành tựu mà cuộc Cách mạng 4.0 đem lại, thế giới ngày càng phát triển, con người ngày càng được giải phóng hơn nữa do có trí tuệ nhân tạo thay thế sức lao động. Tuy nhiên, với những nước đang phát triển như Việt Nam, nơi mà thị trường lao động chủ yếu là lao động phổ thông, nếu trong thời gian tới không có những thay đổi về tư duy phát triển, về nguồn lực chất lượng cao, chắc chắn việc thu hút đầu tư nước ngoài sẽ bị giảm sút, kinh tế trong nước sẽ gặp khó khăn. Nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn trước thành quả của cách mạng công nghệp 4.0, sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng thể và định hướng thay đổi, phát triển trong thời gian tới.