Chuyển giá là một hành vi thông đồng có chủ ý giữa các công ty trong cùng tập đoàn để thỏa thuận giá cả không dựa trên giá thị trường, nhằm chuyển lợi nhuận từ công ty này sang công ty khác ở các nước khác nhau nhằm tránh nộp thuế đầy đủ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của cả tập đoàn. Cơ sở thiết lập giá giao dịch như vậy xuất phát từ quyền tự do kinh doanh. Tuy nhiên, hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mang tính chủ quan, cố ý của các tập đoàn đa quốc gia nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp nên sẽ làm thất thu một khoản lớn ngân sách nhà nước.
Thiệt hại dễ nhận thấy nhất do hành vi chuyển giá của doanh nghiệp FDI gây ra là làm thất thu ngân sách nhà nước, cụ thể là thất thu nguồn thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp FDI ngày càng mở rộng quy mô, tăng thêm vốn đầu tư song hiệu quả kinh doanh lại không tương xứng với sự gia tăng này. Thực trạng có khoảng hơn 50% doanh nghiệp FDI khai lỗ, nhiều doanh nghiệp lỗ ở quy mô lớn và kết quả thanh tra, xử lý giảm lỗ, truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp, cho thấy, quy mô các khoản thất thu ngân sách nhà nước liên quan đến chuyển giá khá lớn. Bên cạnh đó, việc thu thuế giá trị gia tăng từ hoạt động của các doanh nghiệp FDI cũng gặp nhiều khó khăn khi giá các yếu tố đầu vào cao, giá bán ra (xuất khẩu) lại thấp hoặc chiếm tỷ lệ khá cao so với giá đầu vào.
Nguồn vốn FDI ở Việt Nam chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, hoạt động sản xuất của doanh nghiệp FDI chiếm trên 40% giá trị sản xuất công nghiệp, khối doanh nghiệp FDI tạo ra khoảng 20% GDP cả nước, kim ngạch xuất khẩu chiếm trên 50%, thậm chí có năm (2015) đạt 70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Song, khối doanh nghiệp FDI đóng góp thấp hơn nhiều so với khối doanh nghiệp nhà nước và chỉ tương đương với khối doanh nghiệp ngoài nhà nước (có những năm chỉ khoảng 9 - 10% tổng thu ngân sách quốc gia, không tính thu từ dầu thô). Điều này có thể coi là một bất hợp lý và chuyển giá là một nguyên nhân khiến cho đóng góp vào nguồn thu ngân sách quốc gia không tương xứng với những gì mà khối kinh tế FDI đang có.
Hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn làm gia tăng giá trị nhập khẩu, tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán. Đóng góp của khối doanh nghiệp FDI vào xuất khẩu của Việt Nam khá tích cực, ở một góc độ nào đó, đã góp phần “bù trừ” cho tình trạng nhập siêu của doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, việc nâng khống giá trị thiết bị, máy móc, nguyên liệu đã khiến cho khu vực kinh tế FDI mặc dù có xuất khẩu song nhập khẩu vẫn cao. Nếu loại trừ yếu tố dầu thô, thì khu vực FDI nhập siêu với quy mô lớn, tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân vãng lai của Việt Nam. Bên cạnh đó, chuyển giá còn làm cho thặng dư tài khoản vốn (một phần nhờ dòng vốn FDI vào) trở nên thiếu bền vững, chứa đựng “yếu tố ảo”, kéo theo tính thiếu bền vững của cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối. Chuyển giá còn làm cho thị trường Việt Nam phải chịu mức giá cao bất hợp lý, làm thủ tiêu lợi ích về giá từ hoạt động nhập khẩu, đồng thời gây thiệt hại cho doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước, tạo nên những khó khăn mới cho khả năng kiềm chế lạm phát.
Hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm thay đổi cơ cấu vốn trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp FDI thực hiện chuyển giá thông qua khai khống giá trị tài sản, thổi phồng phần vốn góp của phía nước ngoài làm tăng giá trị (ảo) của doanh nghiệp FDI, làm sai lệch thực tế nguồn vốn FDI. Một khảo sát của Bộ Công thương vào năm 1995 cho thấy, trong 42 liên doanh của Bộ này với nước ngoài, phía Việt Nam đã bị thiệt hại đến 50 triệu USD tiền thiết bị, máy móc do phía nước ngoài khai cao hơn giá trị thực. Ở một số liên doanh, giá trị góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài với Việt Nam được khai tăng lên đến trên 21%, thậm chí có trường hợp trên 40% (xem Bảng 4.5). Nhờ tăng giá trị (ảo) nên doanh nghiệp FDI được khấu hao tài sản ở mức cao hơn, từ đó nhanh chóng thu hồi vốn, khiến cho Việt Nam mất dần nguồn vốn FDI, cơ cấu các nguồn vốn trong nền kinh tế bị thay đổi và không phù hợp với mục tiêu phát triển.
Hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm trì hoãn quá trình chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực. Thông thường, máy móc, thiết bị thế hệ mới, hiện đại dễ định giá hơn so với thiết bị, máy móc đã qua sử dụng. Lợi dụng yếu tố này, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp FDI đã “ưu tiên” nhập khẩu máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện chuyển giá. Điều này làm cho kỳ vọng tiếp thu được khoa học, công nghệ, thiết bị, máy móc tiên tiến, hiện đại từ các nước phát triển của Việt Nam không đạt được. Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư được công bố trong Kỷ yếu hội nghị 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam cho thấy, sau 25 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì tại Việt Nam vẫn có trên 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 14% ở mức thấp và lạc hậu, chỉ có vẻn vẹn 6% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ cao, cá biệt có trường hợp sử dụng công nghệ lạc hậu. Không ít trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng sơ hở của luật pháp, sự yếu kém trong quản lý của các cơ quan nhà nước để nhập khẩu vào Việt Nam máy móc, thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, khai tăng giá trị nhập khẩu và giá trị chuyển giao công nghệ. Công nghệ thấp dẫn đến các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu thực hiện việc gia công, một số doanh nghiệp được coi là công nghệ cao nhưng những khâu sử dụng công nghệ cao lại không thực hiện ở Việt Nam. Hệ quả là doanh nghiệp Việt Nam tạo ra giá trị gia tăng thấp, khó tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu.
Một mặt khác, do đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận từ chuyển giá, doanh nghiệp FDI sẽ không coi trọng, dồn sức đầu tư để nâng cao hiệu quả quản lý, năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, cắt giảm chi phí... Như vậy, các mục tiêu tiếp thu khoa học công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực... khi thực hiện chính sách thu hút đầu tư FDI không đạt được kết quả như mong muốn.
hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng tới chính sách đối với người lao động như chậm được cải thiện, có thể kéo theo những vấn đề xã hội khác.Tình trạng thua lỗ ảo cũng là cái cớ để doanh nghiệp FDI duy trì chế độ tiền lương ở mức thấp, hạn chế việc tăng lương, làm cho thu nhập của người lao động trong khối này không cao như kỳ vọng, thậm chí, còn thấp hơn so với khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước. Trong ba loại hình doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân, FDI) thì khối doanh nghiệp FDI có hiệu quả sử dụng lao động thấp nhất. Chế độ tiền lương của khối này cũng ở mức thấp. Theo Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2015 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, năm 2015, doanh thu bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước gấp 2,2 lần khu vực doanh nghiệp FDI. Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tiền lương năm 2015 bình quân cao nhất thuộc về khối doanh nghiệp nhà nước, đạt 7,04 triệu đồng/tháng, doanh nghiệp FDI chỉ đạt 5,47 triệu đồng/tháng. Việc cải thiện môi trường làm việc cho người lao động cũng không được quan tâm đúng mức. Thực trạng này có thể là một trong những nguyên nhân khiến người lao động bất bình, đình công, lãn công hoặc khi bị kích động có thể dẫn đến hành vi đập phá chính nhà máy mà mình làm việc. Cũng theo Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2015, nguyên nhân chính của các cuộc đình công, lãn công trong doanh nghiệp FDI là do: i) vấn đề lương (45%); ii) quyền lợi người lao động (38%); iii) điều kiện làm việc (7,8%). Đây là tác động tiêu cực của hành vi chuyển giá về mặt xã hội cần được nhìn nhận rõ hơn.
Hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp Việt Nam bị “thôn tính” hoặc bị cạnh tranh không lành mạnh và mất thị phần. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp liên doanh giữa Việt Nam với phía đối tác nước ngoài sau một thời gian hoạt động đã trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Việc này xảy ra khi phía đối tác nước ngoài góp vốn liên doanh bằng thương hiệu, bí quyết sản xuất, thiết bị, máy móc, nguyên liệu đặc biệt... và khai tăng giá trị của các tài sản đó. Giá đầu vào cao, giá đầu ra không tương xứng, làm cho doanh nghiêp bị lỗ. Theo đó, giá trị tỷ lệ góp vốn của phía Việt Nam cũng bị “bào mòn” tương ứng. Lúc này, phía liên doanh nước ngoài đề nghị phía Việt Nam tăng vốn để thay đổi công nghệ, nghiên cứu phát triển, tiếp cận thị trường...; nếu không, bên Việt Nam có thể bán lại phần vốn cho phía nước ngoài, rút khỏi liên doanh. Như vậy, doanh nghiệp liên doanh trở thành doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Chẳng hạn, tại tỉnh T. Công ty xi măng L. vốn là liên doanh giữa Việt Nam và Đài Loan (Trung Quốc), phần góp vốn phía Việt Nam là 28% và phía Đài Loan là 78%. Sau nhiều năm sản xuất, kinh doanh thua lỗ, phía Đài Loan đề nghị tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên, càng tăng vốn, càng lỗ. Cuối cùng, không muốn lỗ thêm nữa, tỉnh T. đã phải bán lại toàn bộ phần vốn của mình cho phía Đài Loan.
Trường hợp khác là Công ty Sc. Việt Nam - một công ty chế tạo sản phẩm về giấy và sản phẩm tự dính chất lương cao, đặt tại tỉnh B.. Công ty này có vốn điều lệ là 246 tỉ đồng, trong đó đối tác nước ngoài là ScH. (Thụy Sĩ) chiếm 73,99%, số còn lại thuộc về các đối tác Việt Nam. Bắt đầu hoạt động từ năm 2011, mặc dù sản lượng và doanh thu liên tục tăng trưởng, nhưng Sc. Việt Nam liên tục báo lỗ với số lỗ lũy kế đến năm 2014 là 655,8 tỉ đồng. So với vốn điều lệ 246 tỉ đồng, thì công ty này đã bị âm vốn chủ sở hữu 403,2 tỉ đồng. Đáng nói là, trong thời gian hơn 3 năm hoạt động, Sc. Việt Nam đã tăng vốn hai lần với tổng số tiền 86 tỉ đồng và tiếp tục đòi tăng vốn điều lệ thêm 127,2 tỉ đồng nữa. Thực trạng này khiến các cổ đông phía Việt Nam rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Nếu tiếp tục bỏ thêm vốn vào thì sợ lỗ nhiều hơn. Nếu để nhà đầu tư nước ngoài tăng vốn thì tỷ lệ vốn của phía Việt Nam giảm tương ứng và không đủ quyền phủ quyết. Còn nếu không chấp nhận tăng vốn điều lệ thì tiếp tục chịu lỗ.
Trong cạnh tranh, doanh nghiệp FDI có nhiều lợi thế nhờ “tối thiểu hóa” số thuế phải nộp và “tối đa hóa” lợi nhuận. Doanh nghiệp FDI có thể bán sản phẩm của mình với giá thấp, thậm chí bán phá giá để “bức tử” doanh nghiệp nội địa Việt Nam. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã bị mất thị phần, mất hẳn thị trường, có doanh nghiệp phá sản hoặc chuyển sang ngành nghề khác. Điển hình như cuộc đấu tranh giành thị phần ở Việt Nam mấy năm trước đây giữa một bên là các công ty sản xuất nước giải khát nội địa như Công ty Tribeco, Công ty Festi, Công ty Nước giải khát Hòa Bình, Công ty Giải khát Chương Dương. Mặc dù Coca-Cola và Pepsi-Cola liên tục lỗ, không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng vẫn mở rộng quy mô sản xuất và “thống lĩnh” thị trường nước giải khát, còn sản phẩm của các công ty Việt Nam thì gần như “vắng bóng” trên thị trường hoặc chỉ còn tồn tại với quy mô rất nhỏ. Vấn đề này không đơn thuần là vấn đề kinh tế, bởi, với những lợi thế trên, doanh nghiệp FDI có thể thao túng thị trường, chi phối kinh tế Việt Nam và từ đó, có thể dẫn đến nhiều hệ lụy khác...
Hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm cho chỉ số ICOR của khu vực kinh tế có FDI cao, phản ánh sai lệch hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Hệ số ICOR là hệ số so sánh giữa tốc độ tăng đầu tư so với tốc độ tăng trưởng GDP, cho biết để có 1 đồng GDP được tạo ra thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng đầu tư. Hệ số này thường được dùng để đánh giá tính hiệu quả trong đầu tư cho một khu vực kinh tế cụ thể nào đó hoặc cho cả nền kinh tế. Nếu hệ số ICOR nằm trong khoảng từ 2 đến 3 thì có hiệu quả, trên 3 đến 4 là ở mức bình thường, nếu cao hơn 5 thì không hiệu quả và cần phải xem xét lại hiệu quả đầu tư.
Bảng 1. Hiệu quả đầu tư của các khu vực kinh tế thông qua chỉ số ICOR giai đoạn 2005-2013
| Khu vực kinh tế | % tăng trưởng GDP | % tốc độ tăng đầu tư | Hệ số ICOR |
| Toàn bộ nền kinh tế | 6,01 | 36,79 | 6,07 |
| Kinh tế nhà nước | 2,05 | 14,28 | 6,96 |
| Kinh tế ngoài nhà nước | 2,90 | 13,45 | 4,64 |
| Khu vực có vốn FDI | 1,06 | 9,06 | 8,54 |
Từ bảng tổng hợp hiệu quả đầu tư của các khu vực kinh tế thông qua chỉ số ICOR giao đoạn 2005 -2013 cho thấy, trong ba khu vực kinh tế: nhà nước, ngoài nhà nước và FDI, thì khu vực ngoài nhà nước có hiệu quả đầu tư tốt hơn cả; khu vực nhà nước thường được cho là đầu tư kém hiệu quả, song trên thực tế vẫn tốt hơn khu vực FDI; khu vực FDI kém hiệu quả nhất. Với nhiều lợi thế có được, khu vực FDI không thể đứng cuối bảng về hiệu quả đầu tư như vậy. Chuyển giá có thể là một trong những nguyên nhân chính làm sụt giảm (về mặt hình thức) hiệu quả sử dụng đồng vốn, làm cho chỉ số ICOR của khu vực FDI cao hơn cả khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân. Điều này kéo theo sự sụt giảm hiệu quả đầu tư của Việt Nam nói chung, làm cho quá trình điều hành kinh tế vĩ mô và hoạch định chính sách của Việt Nam chịu tác động của những sai lệch đó; đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh trong thu hút FDI của Việt Nam với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy, chuyển giá trong doanh nghiệp FDI có tác động tiêu cực trên nhiều mặt đối với Việt Nam. Nếu không có biện pháp ứng phó với chuyển giá tốt hơn, để hiện tượng này ngày càng phổ biến, quy mô ngày càng lớn thì nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị phức tạp có thể nảy sinh, nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ bị chi phối, phụ thuộc. “Hoạt động chuyển giá làm cho những lợi ích của các dòng vốn FDI đem lại cho nền kinh tế không đủ để bù đắp cho những thiệt hại kinh tế, tài chính to lớn mà nó gây ra cho nước tiếp nhận FDI”. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội. Do vậy, nếu không hạn chế được chuyển giá, Việt Nam sẽ gánh chịu nhiều thiệt hại, thậm chí “mất nhiều hơn được” từ việc thu hút FDI.