In trang này
Thứ năm, 25 Tháng 2 2021 04:04

GIỚI THIỆU VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI/NGHỊ VIỆN TRONG TỔ CHỨC QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

Cùng với sự phát triển của xã hội, việc tổ chức bộ máy nhà nước cũng tiến triển. Từ xa xưa, việc thành lập bộ máy nhà nước thường theo nguyên tắc truyền ngôi (thế tập), và lúc đó người ta giải thích rằng, quyền lực nhà nước xuất phát từ cõi “hư vô" do thiên đình định đoạt: ai, dòng họ nào được sinh ra và luôn luôn được quyền thống trị người khác, dòng họ khác; và ai, dòng họ nào không thuộc dòng họ nêu trên thì luôn luôn là những người bị thống trị. Nhưng đến cách mạng tư sản vào khoảng thế kỷ XV, XVI, nhằm mục đích hạn chế quyền lực vô hạn của nhà vua, thiết lập nhà nước bị ràng buộc bởi pháp luật, hiến pháp ra đời thì việc tổ chức các cơ quan nhà nước theo nguyên tắc truyền ngôi, thế tập không còn đứng vững nữa. Việc thành lập bộ máy nhà nước nói chung và việc lập ra những người đứng đầu bộ máy nhà nước nói riêng phải tuân theo nguyên tắc bầu cử; từ đó sinh ra một chính thể nhà nước dân chủ. Đó là chính thể cộng hoà.

Từ đó, nguồn gốc của quyền lực nhà nước dần dần được công khai thừa nhận là bắt nguồn từ nhân dân, từ những công dân, những con người sinh ra và sống trên đất nước sở tại. Những con người đó có quyền được tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước, là quyền rất quan trọng. Đó là quyền mà mọi công dân đến tuổi trưởng thành được tham gia trực tiếp giải quyết các công việc của nhà nước. Đó là quyền của công dân được tự bầu ra những người đại diện cho mình. Những người đại diện này thay mặt nhân dân giải quyết các công việc của nhà nước. Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, cơ quan những người đại diện được nhân dân trực tiếp bầu ra, tuỳ theo từng nước có tên gọi khác nhau, nhưng được gọi chung là nghị viện. Khi mới xuất hiện, nghị viện chỉ là cơ quan giúp việc cho nhà vua sau đó thực sự có ưu thế hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác. Mặc dù phải chia sẻ quyền lực nhà nước với giai cấp phong kiến, nhưng nghị viện - cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra vẫn có một ưu thế nhất định so với các cơ quan nhà nước khác.

Theo lịch sử, sự phát triển nghị viện được phát triển theo bốn giai đoạn ứng với các giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Bốn giai đoạn này cũng hình thành nên bốn mô hình của Quốc hội.

- Thời kỳ của chế độ phong kiến, Quốc hội mới được hình thành chỉ là cơ quan giúp việc cho nhà vua.

- Thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản - tư bản tự do cạnh tranh - là thời kỳ hoàng kim của nghị viện. Nghị viện thực sự có ưu thế hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác. Mặc dù lúc bấy giờ có nhiều nước quyền lực nhà nước phải chia sẻ, nhưng nghị viện vẫn có một ưu thế nhất định so với các cơ quan nhà nước khác.

- Trong thời kỳ của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thành chủ nghĩa đế quốc, chế độ đại nghị bị khủng hoảng do sự lấn quyền của bộ máy hành pháp và nghị viện tư sản đã trở thành cơ quan hình thức, nơi bị bộ máy hành pháp thao túng. Nghị viện trở thành nơi hợp lý hoá các quyết định đã rồi của các thế lực cầm quyền.

- Hiện nay mặc dù nghị viện không còn vị trí pháp lý tối cao một cách tuyệt đối như thời kỳ hoàng kim như trước đây, nhưng nó vẫn còn có một chỗ đứng xứng đáng nhất định không thể thiếu được trong hệ thống bộ máy nhà nước tư sản, được gọi với thuật ngữ là "Nghị viện với vị trí được hợp lý hoá". So với các cơ quan khác trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước của từng quốc gia, nghị viện có những đặc điểm rất đặc thù. Trước hết, viện trong tất cả các cơ quan hợp thành bộ máy nhà nước của các chế độ tư bản và đang phát triển thành tư bản, nghị viện là cơ quan duy nhất đại diện do nhân dân với đủ các tầng lớp cư dân thành lập ra bằng phương pháp bầu cử. Vì vậy, khác với đại đa số các cơ quan nhà nước khác, nghị viện là cơ quan duy nhất có thành phần không thống nhất, chứa đựng trong mình các quan điểm và quyền lợi rất khác nhau, thậm chí còn là đối lập. Nghị viện trở thành một thiết chế không thể thiếu được trong chế độ dân chủ. Hay nói cách khác, tổ chức và hoạt động của quốc hội trở thành một tiêu chí của dân chủ.

Quyền lập pháp được hình thành như là một trong ba quyền cơ bản: Lập pháp; hành pháp; tư pháp, cùng được tổ chức và hoạt động cấu thành nên hoạt động của nhà nước. So với các nhánh quyền lực hành pháp và tư pháp thì quyền lập pháp vẫn có những điểm mạnh hơn vì nó gắn với dân chủ nhiều hơn các quyền còn lại.

Trước hết, quyền lập pháp này do các đại diện được nhân dân trực tiếp bầu ra, do vậy chức năng đại diện cho nhân dân là một trong những đặc trưng quan trọng của nghị viện. Và sau đây là thành phần của lập pháp luôn luôn là những đại diện đông đảo hơn của hành pháp và tư pháp.

Quyền lập pháp thuở ban đầu được dùng để chỉ các hành vi thảo luận và ban hành các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật, quyền này còn được gọi là quyền làm luật (ra luật), nhưng sau đó theo thời gian quyền làm luật được mở rộng sang các lĩnh vực khác như: giám sát, thành lập chính phủ - hành pháp, bỏ phiếu tín nhiệm hành pháp, thậm chí còn là xét xử cả các quan chức cao cấp... Tất cả những hành vi nói trên đều được hiểu trong phạm vi của quyền lập pháp, quyền của cơ quan được thành lập từ sự uỷ thác của cử tri, quyền này ngang ngừa và đối trọng với các quyền hành pháp và tư pháp.

Ngày nay, Quốc hội/nghị viện đều thực hiện chức năng đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân của mình, bảo đảm cho việc bảo vệ các quyền lợi khác nhau trong mọi tầng lớp xã hội của quốc gia, sau đó là chức năng giám sát hoạt động các cơ quan nhà nước, mà trong bộ máy nhà nước hiện đại không một cơ quan tổ chức nào có thể thực hiện được[1].

Bên cạnh đó trước sau Quốc hội vẫn giữ vững chức năng lập pháp và thông qua ngân sách của mình. Đó cũng là một trong nhiều chức năng vốn có của Quốc hội, mà cũng không thể có cơ quan nhà nước nào thay thế được.

 


[1] Xem Meny Y.: Government and Politics in Wester Europe, Oxford, 1990, p. 156.