In trang này
Thứ hai, 23 Tháng 8 2021 15:36

Về vấn đề “ngư nghiệp, ngư dân và ngư trường” trong chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Ngành thủy sản luôn chiếm một vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung cũng như kinh tế biển nói riêng. Đóng góp đưa nước ta trở thành một quốc gia giàu mạnh từ biển, tương xứng với tiềm năng sẵn có cả về tự nhiên và con người Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế trong nhiều năm qua, mặc dù không phủ nhận tầm quan trọng của ngành thủy sản nhưng vị trí của ngành này trong chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Đảng ta chưa thực sự được làm rõ. Điều này là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng các chính sách phát triển thủy sản hiện này hầu như đều mang tính chất “vận dụng” vì phải “ẩn” hoặc lồng ghép trong các chính sách phát triển nông nghiệp nói chung. Trong khi đó, thủy sản thực sự là ngành có rất nhiều điểm đặc thù cần có những chính sách điều chỉnh tương ứng để phát huy hết tiềm năng của nó. Nói đúng hơnlà ngành này cần được đánh giá đúng hơn về vị trí và những yêu cầu cơ chế, chính sách đặc thù để đóng góp được tối đa cho mục tiêu phát triển chung của đất nước.

Trong nông nghiệp Việt Nam, thủy sản là một lĩnh vực đã và sẽ tiếp tục có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển hiệu quả và bền vững của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Trong những năm qua, thủy sản Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp và cả nền kinh tế quốc dân. Sản lượng thủy sản của Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua (2000-2017) với mức tăng bình quân là 9,07%/năm. Với chủ trương của Chính phủ tập trung thúc đẩy phát triển trong lĩnh vực thủy sản, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước.

Tuy nhiên, sản lượng thủy sản khai thác trong thời gian qua lại có mức tăng khá thấp, bình quân 6,42%/năm chủ yếu là do sự cạn kiệt ngày càng rõ rệt của nguồn lợi thủy sản tư nhiên và trình độ sản xuất trong khai thác thủy sản chưa được cải thiện, nếu không muốn nói là ngày càng có nhiều vấn đề trong khi điều kiện thời tiết khí hậu lại ngày càng biến đổi khắc nghiệt hơn. Những sự hạn chế trong quản lý nguồn lợi thủy sản, khai thác bất hợp pháp hay nuôi trồng thủy sản gây tác động tiêu cực đối với môi trường... đã và đang tiếp tục là những điểm tồn tại, hạn chế mà lĩnh vực thủy sản phải đối mặt trong thời gian tới. Như đã nói trên,với cách tổ chức và vận hành như là một phần, một bộ phận mang tính hữu cơ của ngành nông nghiệp nói chung thì Nghị quyết Trung ương 7 khóa X cũng đã và đang tiếp tục có những tác động đáng kể đối với quá trình tái cơ cấu (định hình, định hướng và vận hành) của tất cả các lĩnh vực liên quan đến ngành thủy sản Việt Nam. Những vấn đề về đất đai, lao động, vốn, khoa học - công nghệ, thị trường... thủy sản đang thay đổi hằng ngày để đáp ứng với yêu cầu phát triển của thực tiễn. Một phần không nhỏ trong những thay đổi đó có nguồn gốc dựa trên những chính sách được xây dựng và ban hành theo chủ trương chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 7 khóa X. Các thay đổi này cũng đã và đang tiếp tục cho thấy những kết quả khá tích cực trong quá trình tái cơ cấu ngành thủy sản. Cụ thể, giá trị sản xuất thủy sản đã tăng trung bình 5,4%/năm giai đoạn 2008-2017 bất chấp những khó khăn đáng kể trong thời gian gần đây liên quan đến những nguyên nhân khách quan và có tác động lớn như biến đổi khí hậu toàn cầu, chiến tranh thương mại hay những biến động chính trị ở tầm khu vực và thế giới... Một cách tổng thể, đến nay ngành thủy sản đã phát triển toàn diện cả về khai thác, nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chủ lực (đặc biệt là tôm, cá tra, cá ngừ, các loại nhuyễn thể) tạo được vị thế lớn cho nhiều mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu. Trong nuôi trồng thủy sản, đã tập trung chủ yếu vào nuôi trồng các sản phẩm có lợi thế và giá trị cao; phát triển nuôi thâm canh, công nghiệp, áp dung khoa học - công nghệ tiên tiến và nuôi theo các tiêu chuẩn chứng nhận bền vững (ASC, GAPs, BẠP...). Tổng sảnlượng thủy sản đã tăng từ 4,87 triệu tấn năm 2008 (khai thác đạt 2,28 tấn, nuôi trồng đạt 2,59 triệu tấn) lên 6,06 triệu tấn năm 2013 (khai thác đạt 2,58 triệu tấn, nuôi trồng đạt 3,48 triệu tấn) và tăng lên 7,22 triệu tấn năm 2017[1] (khai thác đạt 3,4 triệu tấn, nuôi trồng đạt 3,82 triệu tấn), tăng 48,34%. Trong nuôi trồng, diện tích nuôi tôm nước lợ năm 2017 đạt 750 nghìn ha, tăng 3,18%, sản lượng đạt hơn 683 nghìn tấn, tăng 67,3% so với năm 2008; diện tích nuôi cá tra đạt hơn 5,2 nghìn ha, giảm 23,53%, nhưng sản lượng đạt 1,25 triệu tấn, tăng 8,78%. Giá trị sản phẩm thu được trên một đơn vị đất nuôi trồng thủy sản (ha) đạt 206,8 triệu đồng năm 2017, gấp 2,67 lần năm 2008. Trong khai thác thủy sản, sản lượng khai thác xa bờ đã tăng lần lượt từ 2,06 triệu tấn lên 2,4 triệu tấn và 3,19 triệu tấn. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 4,51 tỷ USD năm 2008 lên 6,8 tỷ USD năm 2013 và 8,32 tỷ USD năm 2017 (tăng gần 2 lần so với năm 2008). Dự kiến năm 2020 sẽ đặt mục tiêu xuất khẩu lên trên 10 tỷ USD. Khai thác hải sản tiếp tục phát triển theo hướng giảm dần sản lượng khai thác ven bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đến năm 2017, cả nước đã có 109.586 tàu cá, giảm 16,32% so với năm 2008. Năm 2013 có 18.300 lượt tàu thuyền hoạt động ở khu vực biển xa bờ,tăng gấp 3 lần so với năm 2010, đến năm 2017 có 30.615 tàu khai thác xa bờ. Đã có 9.000 tàu cá khai thác xa bờ được quản lý thông qua giám sát hành trình hoạt động do được lắn đặt hệ thống thiết bị liên lạc trên tàu và trạm bờ, chiếm trên 29,4% tổng số tàu khai thác xa bờ. Hệ thống tổ chức sản xuất và dịch vụ hậu cần nghề cá, nhất là sản xuất trên biển đã được tổ chức lại chặt chẽ và bài bản hơn giúp nâng cao hơn năng lực khai thác cũng như khả năng quản lý hoạt động khai thác trên biển, đáp ứng yêu cầu của thị trường hiện đại. Số tàu dịch vụ hậu cần nghề cá tăng mạnh, bình quân tăng 24%/năm. Ngư dân ra khơi được tổ chức theo các hình thức tổ, đội, hợp tác xã nhiều hơn để có thể hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình hoạt động khai thác, bám biển. Năm 2019 đã có 4.185 tổ/đội sản xuất trên biển với sự tham gia của khoảng 29,3 nghìn tàu cá và 177,8 nghìn ngư dân tham gia được hình thành và hoạt động. Nói tóm lại, ngành thủy sản Việt Nam bao gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ hậu cần đều đã đạt được những thành tựu lớn trong sự nghiệp phát triển trong một thời gian dài vừa qua và một phần nguyên nhân không nhỏ của những kết quả đó là nhờ vào những định hướng chiến lược cũng như chính sách đúng đắn, hợp lý theo chỉ đạo của Trung ương thông qua những nội dung của Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về phát triển sản xuất, phát triển nông dân, ngư dân cũng như phát triển nông thôn.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại, thị trường hiện đại và đặc biệt là điều kiện hiện nay, ngành thủy sản Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều cản trở, hạn chế, bất cập có nguyên nhân từ cả khách quan và chủ quan cần sớm có giải pháp tổng thể và dài hạn. Những vấn đề như hiệu quả sản xuất suy giảm, trình độ sản xuất hạn chế, ô nhiễm môi trường gia tăng, đầu tư rất hạn chế, nguồn lợi cạn kiệt, tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu toàn cầu hay những rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe của các thị trường quốc tế... đều đang tạo ra những sức ép rất lớn buộc ngành thủy sản Việt Nam phải nhanh chóng tái cấu trúc, thay đổi về căn bản để tiếp tục tồn tại và phát triển. Trong khi đó, đến nay vẫn chưa có một chính sách nào tổng thể và đủ lớn, có tính đặc thù gắn với sự phát triển của ngành thủy sản cũng như các lĩnh vực có liên quan. Việc vận dụng các chính sách theo Nghị quyết Trung ương 7 khóa X (chính sách Tam nông) sau một thời gian phát huy tác dụng đã bắt đầu nảy sinh nhiều bất cập do sự khác biệt về nội hàm đặc trưng của các đối tượng chính sách (nông nghiệp - ngư nghiệp; nông dân - ngư dân và nông thôn - nông thôn ven biển hay đất nông nghiệp và vùng ngư trường đánh bắt trên biển) ngày càng trở nên rõ rệt. Nói cách khác, mặc dù có vai trò quan trọng nhưng các nội dung về ngư nghiệp, ngư dân và ngư trường chưa được đề cập một cách đích danh và đầy đủ trong Nghị quyết Trung ương 7 khóa X là một chủ trương lớn của Đảng về phát triển kinh tế, con người và địa bàn vùng nông thôn. Việc tách biệt và xác định rõ, đầy đủ các đặc trưng của ngư nghiệp, ngư dân và ngư trường so với nông nghiệp, nông dân và nông thôn để có các chủ trương chỉ đạo, các chính sách quản lý và điều hành là thực sự cần thiết và cấp bách.

 


[1]Các số liệu về tăng trưởng của ngành thủy sản sẽ đánh giá trong giai đoạn 10 năm (2008-2017) để tương ứng với dấu mốc “Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”