1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về điều tra các tội phạm về đất đai
Các Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013 đã đặt ra nhiều yêu cầu đổi mới quan trọng, nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Theo đó, thứ nhất, đòi hỏi những yêu cầu đổi mới này phải được thể chế hóa cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thay thế Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Thứ hai, qua công tác tổng kết mười năm thực thi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, cho thấy bên cạnh những thành tựu và kết quả đã đạt được, thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm ảnh hưởng xấu đến hiệu lực, hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; Thứ ba, cũng trong thời gian qua, nhiều đạo luật liên quan đến tố tụng hình sự đã được Quốc hội ban hành, trong đó Việt Nam là thành viên của các Điều ước quốc tế có liên quan đến những quy định về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vì thế đặt ra nhiều yêu cầu phải sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nhằm đáp ứng và bảo đảm được tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để đẩy mạnh hợp tác trong phát hiện và xử lý tội phạm.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có rất nhiều điểm mới, sửa đổi, bổ sung một cách căn bản và toàn diện so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Trong đó có nhiều quy định mới đã thực sự tháo gỡ những vướng mắct hực sự khó khăn trong thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên, qua nghiên cứu những quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy còn có nhiều nội dung quy định chưa thực sự rõ ràng, tạo ra nhiều luồng tư duy và cách hiểu rất khác nhau, từ đó sẽ không thống nhất được trong cách áp dụng trên thực tiễn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung, các vụ án hình sự về đất đai nói riêng, vì bất kể vụ án hình sự nào khi được giải quyết đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ hành, cụ thể:
Thứ nhất: Tại điểm a khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có giải thích “vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án”.
Tuy nhiên, khái niệm xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng vẫn chưa được giải thích, trong khi việc giải thích này là rất cần thiết trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung và vụ án hình sự về đất đai nói riêng.
Thứ hai, điều quan trọng nhất trong tất cả các vụ án hình sự nói chung, cũng như vụ án hình sự về đất đại nói riêng khi được thụ lý giải quyết đều phải làm rõ, cả quá trình điều tra cũng nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, đó chính là “những vấn đề cần phải chứng minh” trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, điều luật này quy định vẫn chưa thật đầy đủ, chưa bao quát hết các vấn đề cần phải chứng minh, làm rõ trong một vụ án hình sự nói chung và vụ án hình sự về đất đai nói riêng. Cụ thể: Điều luật đã không quy định về việc cần chứng minh, làm rõ về vấn đề tài sản, về khả năng thi hành án của người phạm tội là không phù hợp với tại khoản 2 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại khoản 2 có quy định “2. Khi quyết định áp dụng hình quy định phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này. Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội”. Điều này cho thấy, vấn để chứng minh, làm rõ về tài sản là yêu cầu cần phải chứng minh. Có chứng minh được vấn đề này thì mới có thể thay thể biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang đặt tiền hoặc tài sản bảo đảm, hoặc khi xét xử Tòa án mới được áp dụng hình phạt tiền thay thế cho các hình phạt khác. Ngoài ra, làm rõ vấn đề tài sản còn có ý nghĩa cho việc phong tỏa, niêm phong tài sản phục vụ công tác điều tra và thu hồi tài sản thất thoát cho Nhà nước, cho các tổ chức xã hội và cho mọi công dân bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Nếu hồ sơ vụ án không thực hiện việc chứng minh này thì quy định của Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 rất khó thực hiện.
2. Quy định của Bộ luật Hình sự về các tội phạm đất đai
Trên thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm về đất đai cho thấy quy định tại Điều 173 (tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai) và Điều 174 (tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai) Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa bao quát hết được các hành vi phạm tội liên quan đến đất đai, như: lĩnh vực lập hồ sơ, lập quy hoạch, sơ đồ địa chính, lĩnh vực giải phóng mặt bằng, các phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư,... hoàn toàn không đề cập, trong khi thực tiễn tội phạm xảy ra liên quan đến loại hành vi này rất nhiều. Theo đó, số liệu thống kê trong mười năm qua, số liệu thực tế thống kê về việc xử lý tội phạm về đất đai đã không phản ánh đầy đủ, toàn diện mọi mặt của loại tội phạm này, thực tiến các hành vi liên quan đến tội phạm đất đai đã phải xử lý sang tội danh khác. Chính vì thế việc sửa đổi, bổ sung hai tội danh tại Điều 173 và Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 1999 là cần thiết, đồng thời cần bố sung thêm tội danh mới liên quan đến lĩnh vực đất đai mà trước đó Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa đề cập. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự sửa đổi, bổ sung thành ba điều luật tại các điều 228, 229 và 230.
Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” với ba hành vi được đề cập, đó là hành vi lấn chiếm đất trái pháp luật hành vi chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật; hành vi sử dụng đất trái pháp luật. Tuy nhiên, vẫn chưa bao quát hết các hành vi liên quan đến vi phạm về sử dụng đất đai như đã phân tích trong chương 2 cuốn sách này. Ví dụ: một người có hành vi đào đất đem bán, thì sẽ bị xử lý về tội danh gì cho phù hợp? Hơn nữa, chế tài đòi hỏi phải từng bị xử phạt hành chính (còn hiệu lực) hoặc kết án về tội này chưa được xóa án mà còn vi phạm là không hợp lý. Nếu hành vi nêu trên đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì sao? Theo đó, Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 mặc dù đã sửa đổi, bổ sung, thay thế Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 1999 nhưng tính bao quát vẫn chưa đầy đủ và việc áp dụng chế tài cũng chưa đủ mạnh để răn đe và trừng trị những hành vi phạm tội.
Điều 229 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai” đã đề cập nhưng chưa đầy đủ hết các loại đất cần quy định và viện dẫn theo Điều 10 Luật Đất đai năm 2013. Điểm a khoản 1 Điều 229 quy định thiếu một loại đất nữa cần có quy định đó là “Đất nuôi trồng thủy sản”. Đây là loại đất mà Nhà nước giao, hoặc cho thuê, hoặc thu hồi. Trên thực tiễn đã xảy ra nhiều vụ án điển hình như: Vụ án Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng hoặc vụ án về thu hồi đất ở Bà Rịa Vũng Tàu;...). Đặc biệt phần chế tài ở khung cơ bản còn quy định quá nhẹ, chưa đủ mạnh để răn đe, trừng trị và phòng ngừa tội phạm này trên thực tiễn.
Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về “Tội vi phạm các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”. Theo đó, điều luật quy định hành vi của người lợi dụng chức vụ quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau: Một là, vi phạm quy định của pháp luật về bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Hai là, vì phạm quy định của pháp luật về bồi thường về tài sản, về sản xuất kinh doanh khi nhà nước thu hồi đất. Hậu quả gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn xâm phạm. Chế tài áp dụng là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Thực tiễn cho thấy, nhiều đối tượng không chỉ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện những hành vi sai trái, vị phạm trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, mà còn lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tức là làm những việc vượt quá thẩm quyền cho phép gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có đất bị thu hồi.
Như vậy, có thể thấy rằng, các quy định pháp luật về điều tra, xử lý các tội phạm về đất đai đã được quan tâm xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội thời gian qua. Tuy nhiên, tội phạm về đất đai ngày càng phức tạp, gia tăng, tinh vi và biến đổi không ngừng, do đó việc xem xét, bổ sung, sửa đổi pháp luật về thực thi quyền công tố và kiểm sát điều tra, xét xử các tội phạm về đất đai cần được tiến hành đồng bộ, song song với việc sửa đổi, bổ sung các chính sách về đất đai nói chung.

