Thứ năm, 11 Tháng 12 2025 10:18

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật thời kỳ đổi mới

 

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Bước vào thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), cùng với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận và thực tiễn lãnh đạo trong lĩnh vực xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như tổ chức thi hành pháp luật, coi đây là nền tảng để phát huy dân chủ, bảo đảm kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Trong tiến trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng lớn về hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Từ việc khẳng định vai trò tối thượng của Hiến pháp, đến việc lãnh đạo quá trình thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật; từ tăng cường công tác lập pháp, cải cách hành chính, tư pháp đến chú trọng nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, tất cả đã góp phần tạo nên bước chuyển căn bản trong tư duy và hành động của cả hệ thống chính trị.

Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu phát triển bền vững đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực pháp luật càng trở nên quan trọng. Việc lãnh đạo, định hướng công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật không chỉ nhằm bảo đảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, mà còn là công cụ để phát triển xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã khởi xướng đường lối Đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới hoạt động xây dựng pháp luật. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI xác định: “Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý. Pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thực hiện thống nhất trong cả nước”[1]. Đến năm 1989, Nghị quyết số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI ngày 02/3/1989 về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới đã đề ra 12 chủ trương lớn, trong đó tại điểm b chủ trương thứ 10 khẳng định: “Xây dựng và hoàn chỉnh từng bước hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”[2]. Đồng thời Nghị quyết số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989 còn khẳng định: “Tổ chức lại công tác nghiên cứu chính sách và pháp luật,… nâng cao tính chính xác, tính khoa học của chính sách và pháp luật”. Với tinh thần đó, từ Luật Ban hành văn bản quy pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác đều phải bảo đảm tính kịp thời, chính xác, khoa học của chính sách và pháp luật.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII còn khẳng định: “Điều quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật”[3]. Theo đó, Đảng đã chủ trương sửa đổi Hiến pháp năm 1980, ban hành Hiến pháp năm 1992. Đặc biệt, ở nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng, Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, trong đó xác định: “Tiếp tục sửa đổi, xây dựng hệ thống pháp luật… sớm ban hành luật về trình tự xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”[4].

Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (01/1994) đã chính thức đề cập việc xây dựng “Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân”[5]. Như vậy, lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng, thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” được sử dụng. Sự phát triển nhận thức của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền gắn với nguyên tắc tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật đã đặt ra yêu cầu xây dựng, ban hành pháp luật về quy trình xây dựng pháp luật. Các chủ trương nêu trên là cơ sở chính trị quan trọng để Hội đồng Nhà nước ban hành Nghị quyết số 91/NQ-HĐNN8 về Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh (Nghị quyết số 91/NQ-HĐNN8). Sau 42 năm kể từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đây là văn bản đầu tiên có tính pháp lý cao nhất ở nước ta quy định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản pháp luật. Tuy nhiên, Nghị quyết này mới chỉ quy định chung chung về trình tự, thủ tục ban hành luật, pháp lệnh.

Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đặt ra các nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ về đổi mới nâng cao chất lượng cơ quan xây dựng, ban hành pháp luật: “Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp…”[6]. Tiếp đó, quan điểm, định hướng của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được khẳng định: “Ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội… Coi trọng tổng kết thực tiễn Việt Nam, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với những quy định cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung…”[7]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6/1997), tiếp tục đề cập cụ thể hơn các nguyên tắc trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trên cơ sở quan điểm, chủ trương tại Đại hội VIII của Đảng (6/1996), Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996.

Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đánh dấu giai đoạn phát triển mới trong nhận thức của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là một bước phát triển trong tư duy lý luận về xây dựng Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta. Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định: “Chính sách và pháp luật của Nhà nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân và sinh hoạt dân chủ trong xã hội”[8]; nêu rõ nhiệm vụ: “hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong các văn bản luật… Đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, ban hành và thực thi pháp luật…”.

Để thực hiện chủ trương, quan điểm nêu trên, trong nhiệm kỳ này Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, xác định năm quan điểm chỉ đạo và hệ thống các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Nghị quyết số 48 NQ/TW xác định hệ thống các giải pháp chủ yếu để thực hiện Chiến lược, trong đó có giải pháp về xây dựng pháp luật là: 1) Xác định các lĩnh vực trọng điểm cần ưu tiên đầu tư để xây dựng và hoàn thiện pháp luật; 2) Đổi mới cơ bản quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật từ sáng kiến pháp luật đến thông qua luật nhằm đẩy nhanh quá trình soạn thảo, ban hành luật. Nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; 3) Nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc hội; 4) Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật; 5) Hiện đại hoá phương thức và phương tiện xây dựng pháp luật; 6) Hoàn thiện pháp luật về Công báo, bảo đảm tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, văn bản hành chính có hiệu lực áp dụng chung đều được công bố trên Công báo một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác; 7) Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Đây là những quan điểm chỉ đạo trực tiếp của Đảng ta vừa nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả của quy trình xây dựng pháp luật, vừa bảo đảm pháp luật do Nhà nước ban hành được triển khai thi hành có hiệu quả trong toàn xã hội.

Những quan điểm chỉ đạo, lãnh đạo trên của Đảng về công tác xây dựng và thi hành pháp luật có ý nghĩa sâu sắc, góp phần rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu phục vụ cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.

 


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 120.

[2] Nghị quyết số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-vi/nghi-quyet so-06-nqhntw-ngay-2931989-hoi-nghi-lan-thu-sau-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vi-ve-kiem-diem hai-nam-thuc-1107, truy cập ngày 16/3/2024

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 296.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 297.

[5] Hội đồng Lý luận Trung ương, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 246.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 709.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 130.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, sđd, tr. 124.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành