1. Đặt vấn đề
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sớm, xuyên suốt đến tận cuối đời không chỉ vấn đề Đảng lãnh đạo mà còn là Đảng cầm quyền. Trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng, ngay từ những bài giảng đầu tiên cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam, khi nói về cách mạng tháng mười Nga năm 1917, Người đã nhắc tới Đảng cầm quyền: “Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”[1]. Khi Đảng lãnh đạo trở thành Đảng cầm quyền sứ mệnh của Đảng không chỉ trong nội bộ Đảng mà còn phải chịu trách nhiệm với mọi an nguy của Tổ quốc và dân tộc, không chỉ giữ vững độc lập dân tộc mà phải đảm bảo tự do, hạnh phúc cho nhân dân, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải có một đường lối chính trị đúng đắn, sáng suốt. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền, làm rõ vai trò thành tố và giải quyết mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là một vấn đề lớn, rất quan trọng. Bời vì giải quyết tốt vấn đề này thì bảo đảm được vai trò lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền, phát huy được vai trò sức mạnh của nhân dân, tránh chuyên quyền, độc đoán của Đảng.
Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế để lãnh đạo đất nước phát triển. Đây là tính tất yếu để sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được hợp hiến, hợp pháp, khoa học, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại. Một thể chế lãnh đạo, cầm quyền được hoàn thiện sẽ là cơ sở vững chắc để Đảng phát huy vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo toàn xã hội; tạo lập môi trường thể chế minh bạch, đồng bộ, vận hành thông suốt và có kiểm soát quyền lực hiệu quả. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng - một nhân tố then chốt bảo đảm cho sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước. Hoàn thiện thể chế còn là đòi hỏi cấp bách để Đảng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, cũng như để xử lý hiệu quả các vấn đề mới phát sinh trong quá trình phát triển đất nước, từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng, đến những vấn đề rủi ro, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền không chỉ là nhiệm vụ lý luận - chính trị có ý nghĩa chiến lược lâu dài, mà còn là yêu cầu thực tiễn mang tính thời sự, cấp bách, đòi hỏi Đảng ta phải chủ động đổi mới tư duy, kiên quyết hành động và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết.
2. Tính tất yếu của việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam hiện nay
Một là, xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền hiện nay. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò là lực lượng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện đối với Nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo đó là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, từ công cuộc giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cho đến xây dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập quốc tế ngày nay. Tuy nhiên, vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là một thực thể bất biến, mà luôn đòi hỏi phải được bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện, cả về lý luận lẫn phương thức, cơ chế thực thi. Trong bối cảnh đất nước đang chuyển mạnh sang giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thể chế, năng lực lãnh đạo và hiệu quả điều hành, thì việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền không còn là lựa chọn, mà là một tất yếu khách quan.
Việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền không chỉ mang ý nghĩa nội bộ trong tổ chức Đảng, mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, nâng cao hiệu quả lãnh đạo quốc gia, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng. Hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền để đảm bảo vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong bối cảnh phức tạp hiện nay. Khi các thế lực thù địch tăng cường chống phá về tư tưởng, đạo đức, chính trị, việc hoàn thiện thể chế sẽ giúp Đảng củng cố sự đoàn kết, niềm tin và nâng cao năng lực lãnh đạo. Bên cạnh đó còn tăng cường tính minh bạch, khoa học trong điều hành và quản lý xã hội. Thể chế lãnh đạo, cầm quyền được hoàn thiện sẽ làm rõ chức năng, nhiệm vụ giữa Đảng và nhà nước, tránh chồng chéo, bao biện hay can thiệp hành chính. Qua đó, đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực của hệ thống chính trị. Hoàn thiện thể thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để nhà nước thực sự “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, thì Đảng cần lãnh đạo trên nguyên tắc pháp quyền, với hệ giá trị dân chủ, nhân văn, hiệu quả. Hoàn thiện thể thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền góp phần phòng, chống suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong Đảng. Khi thể chế được quy định rõ, minh bạch và có cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả, thì sẽ hạn chế được nguy cơ lợi dụng quyền lực, tham nhũng, lãng phí, đồng thời tăng cường kỷ luật trong Đảng.
Nhận thức rõ hơn, hiểu đúng hơn để thấy được tầm quan trọng về thể chế Đảng cầm quyền là hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, cơ chế tổ chức và vận hành quyền lực chính trị của Đảng trong mối quan hệ với Nhà nước, xã hội và nhân dân. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ là vấn đề kỹ thuật hành chính hay cải cách tổ chức, mà là yêu cầu có tính chiến lược nhằm khắc phục những khoảng trống, sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các thiết chế quyền lực, từ đó tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Hai là, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, đặt ra một cách khách quan và cấp thiết việc phải tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cạnh tranh toàn cầu khốc liệt và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ. Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, toàn cầu hóa và chuyển đổi mô hình phát triển - đang đặt ra những thách thức to lớn và chưa từng có tiền lệ đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng hùng cường, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển. Trong bối cảnh đó, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ cần đúng đắn về đường lối mà còn phải được thể chế hóa bằng cơ chế rõ ràng, minh bạch, có tính thực thi cao và kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Yêu cầu đặt ra là Đảng phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động gắn kết với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cần bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện, nhưng đồng thời phải tôn trọng nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, bảo đảm kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm giải trình.
Một thể chế hiện đại không thể dừng lại ở việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng về mặt chính trị, mà cần cụ thể hóa bằng các thiết chế, quy tắc, cơ chế vận hành đồng bộ giữa Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước. Cần xác lập rõ trách nhiệm chính trị và pháp lý trong các quyết định lãnh đạo, bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay, không bao biện, không áp đặt hành chính trong hoạt động của Nhà nước. Điều đó cũng đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp lãnh đạo theo hướng “lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, định hướng lớn và kiểm tra việc thực hiện”, đồng thời tôn trọng và tạo điều kiện cho Nhà nước chủ động tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời kỳ biến động lớn, khó lường, việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền không còn là lựa chọn, mà là mệnh lệnh từ thực tiễn, từ yêu cầu phát triển và từ khát vọng vươn lên của dân tộc. Bài học từ chính lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy: Mỗi bước tiến lớn của đất nước đều gắn liền với sự đổi mới trong tư duy lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng. Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền cũng cần thích nghi nhanh với phương thức lãnh đạo, cầm quyền mới: lấy dữ liệu làm nền tảng, ứng dụng công nghệ số trong ra quyết định, dự báo và điều hành chính sách. Đây không chỉ là yêu cầu về năng lực lãnh đạo, mà còn là thách thức về khả năng chuyển hóa tư duy lãnh đạo từ “quản lý theo mệnh lệnh hành chính” sang “lãnh đạo theo chiến lược dựa trên dữ liệu, minh bạch và có sự tham gia”. Trong thời đại chuyển đổi số, một thể chế lãnh đạo hiệu quả còn đòi hỏi Đảng phải đi đầu trong cải cách thể chế, xây dựng hệ sinh thái lãnh đạo dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Việc ra quyết định lãnh đạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm hay cảm tính chính trị, mà cần phải có căn cứ khoa học, phân tích số liệu, lắng nghe phản hồi xã hội và thực tiễn quản trị toàn cầu. Thể chế lãnh đạo trong kỷ nguyên số chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh chính trị và trí tuệ công nghệ, giữa tính nguyên tắc của Đảng và tinh thần cải tiến không ngừng của thời đại.
Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam, nơi khát vọng phát triển đất nước “hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc” được xác lập rõ ràng hơn bao giờ hết - yêu cầu cấp thiết được đặt ra là: phải hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền như một nền tảng bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững và toàn diện của quốc gia. Đây là kỷ nguyên mà bối cảnh, yêu cầu và mục tiêu phát triển đất nước đang có những chuyển dịch căn bản. Chúng ta không chỉ hướng tới tăng trưởng về kinh tế, mà còn hướng tới phát triển con người, nâng cao chất lượng thể chế, giữ vững bản sắc dân tộc trong hội nhập, phát triển bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế tri thức, và thích ứng với các biến đổi toàn cầu. Trong hành trình đó, một thể chế lãnh đạo, cầm quyền hiện đại, dân chủ, hiệu lực và hiệu quả chính là “trục xoay” bảo đảm cho sự chuyển mình của đất nước diễn ra thuận lợi, đúng hướng và bền vững.
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khi tầm vóc quốc gia và vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh thể chế khốc liệt, thì thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng chính là “điểm tựa chiến lược” để Việt Nam bứt phá, chinh phục những đỉnh cao mới. Hoàn thiện thể chế không đơn thuần là cải cách kỹ thuật hay tổ chức nội bộ, mà là một hành động chính trị cấp tiến, đầy bản lĩnh và tầm nhìn, thể hiện trách nhiệm lịch sử của Đảng với dân tộc, với tương lai đất nước.
Ba là, xuất phát từ thực trạng hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam trong thời gian qua. Hơn 95 năm lãnh đạo, 80 năm cầm quyền, dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch. Từ một nước nghèo nàn, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đén nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Thực tiễn đó đã khẳng định một chân lý ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”[2].
Một trong những ưu điểm nổi bật là việc Đảng ngày càng nâng cao tính chính danh và hiệu lực lãnh đạo của mình thông qua các văn kiện nền tảng, đặc biệt là việc khẳng định vị thế trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 4), góp phần củng cố lòng tin chính trị trong xã hội. Đồng thời, Đảng đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ và thực tiễn hơn; từ lãnh đạo trực tiếp, can thiệp hành chính sang lãnh đạo thông qua cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết và quy chế phối hợp. Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học và thực tiễn. Đảng đã chuyển từ phương thức lãnh đạo trực tiếp, bao biện sang lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, cương lĩnh, nghị quyết. Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2022 về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị. Đảng đã ban hành các quy chế phối hợp giữa cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, giữa Đảng và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất trong lãnh đạo và quản lý. Việc thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII đã góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng trong xây dựng, củng cố vai trò lãnh đạo, cầm quyền, Đảng cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức. Còn thiếu một hệ thống lý luận đầy đủ, sâu sắc và hiện đại về thể chế Đảng cầm quyền trong điều kiện mới. Các văn kiện của Đảng tuy đã đề cập khái niệm “Đảng cầm quyền”, nhưng nhiều nội dung chưa được cụ thể hóa thành mô hình tổ chức, cơ chế vận hành và chuẩn mực hành vi cụ thể. Điều này gây khó khăn trong thực hiện đồng bộ giữa các cấp, nhất là ở cấp cơ sở. Ranh giới giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước vẫn còn chồng lấn. Trong thực tiễn, có nơi cấp ủy can thiệp quá sâu vào công việc điều hành của chính quyền; ngược lại, có nơi chính quyền không chủ động, ỷ lại vào cấp ủy, dẫn đến tình trạng “vừa làm, vừa chờ chỉ đạo”. Hệ quả là hiệu quả quản lý nhà nước bị ảnh hưởng, cơ chế phân cấp, phân quyền không phát huy hết vai trò. việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và sự thay đổi nhận thức, nhu cầu của người dân. Một số tổ chức đảng cơ sở vẫn còn hoạt động hình thức, nặng về hành chính, chưa gần dân, sát dân; chưa thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị. Thực trạng này dễ dẫn đến nguy cơ xa rời quần chúng - điều từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo như một biểu hiện của suy thoái. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lạm quyền chưa được ngăn chặn triệt để. Những bất cập đó nếu không sớm được thể chế hóa bằng các quy định cụ thể, minh bạch, có tính ràng buộc pháp lý và kỷ luật nghiêm minh, sẽ dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng, làm suy giảm lòng tin của Nhân dân, ảnh hưởng đến tính chính danh và vai trò cầm quyền của Đảng.
Vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau liên quan đến chức năng lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. Một số ý kiến cho rằng “lãnh đạo” là chức năng, nhiệm vụ xuyên suốt của Đảng, bao gồm cả giai đoạn đấu tranh giành chính quyền và giai đoạn sau khi đã giành được chính quyền. Theo quan điểm này, khái niệm “Đảng lãnh đạo” có nội hàm rộng hơn so với “Đảng cầm quyền”. Trong khi đó, có ý kiến khác cho rằng, “lãnh đạo” không nhất thiết gắn liền với quyền lực chính trị, mà chủ yếu là sự tác động, định hướng, tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhằm tạo ảnh hưởng của Đảng đối với hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân. Một số nhà nghiên cứu tiếp cận sâu hơn từ góc độ học thuật lại cho rằng, khái niệm “Đảng cầm quyền” gắn liền với việc Đảng nắm giữ quyền lực chính trị sau khi giành được chính quyền; điều này bao hàm năng lực lãnh đạo và khả năng điều hành, kiểm soát của Đảng đối với bộ máy nhà nước. Do đó, sau khi đã giành chính quyền, cần nhấn mạnh rõ vai trò, trách nhiệm và phương thức để Đảng thực thi quyền cầm quyền. Nếu chỉ đề cập đến vai trò “lãnh đạo” theo nghĩa chung, thì chưa phản ánh đầy đủ trách nhiệm cầm quyền của Đảng trong bối cảnh hiện nay.
Từ thực trạng trên đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện một cách căn bản, toàn diện và thực chất thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền, xem đây là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, có tính nền tảng trong quá trình xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Sự hoàn thiện này không chỉ nhằm nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, mà còn là điều kiện để Đảng lãnh đạo đúng pháp luật, đúng chức năng, đúng vị trí - từ đó giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, nhưng trong một thiết chế hiện đại, dân chủ, hiệu quả và được nhân dân đồng thuận, ủng hộ.
Bốn là, xuất phát từ yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần phải hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một nhiệm vụ chiến lược, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình cách mạng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - khi duy nhất một Đảng cầm quyền, đối mặt với không ít nguy cơ từ bên trong như suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và từ bên ngoài như sự chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch. Trong bối cảnh ấy, việc hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là một giải pháp mang tính nền tảng để làm trong sạch đội ngũ, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao năng lực và uy tín của Đảng trong lòng nhân dân.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, mặc dù Đảng ta đã có nhiều nỗ lực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng - thể hiện rõ qua các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và XIII - nhưng những hạn chế, yếu kém vẫn tồn tại. Một trong những nguyên nhân sâu xa chính là do thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và hiệu quả. Nhiều nguyên tắc được khẳng định trong văn kiện như: tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; dân chủ trong sinh hoạt Đảng; kiểm tra, giám sát, kỷ luật nghiêm minh… chưa được thể chế hóa cụ thể bằng cơ chế vận hành, chế tài kiểm soát và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Chẳng hạn, ở một số nơi, tình trạng lạm dụng quyền lực, quyết định thiếu minh bạch, lợi dụng vai trò lãnh đạo của Đảng để hợp thức hóa các hành vi tư lợi, “chạy chức, chạy quyền”, thao túng tổ chức vẫn diễn ra. Điều đó cho thấy, nếu không có thể chế lãnh đạo chặt chẽ, rõ ràng và có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, thì dù có nhiều nghị quyết hay, quyết tâm chính trị cao, cũng rất khó để thực thi hiệu quả và bền vững việc chỉnh đốn tổ chức Đảng.
Đồng thời, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay không chỉ là “chống tiêu cực”, mà còn là xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Để làm được điều đó, cần có một khuôn khổ thể chế giúp chuẩn hóa: Quy trình ra quyết sách lãnh đạo của Đảng gắn với phân tích chính sách, đánh giá tác động; Cơ chế phối hợp giữa Đảng và hệ thống chính quyền, bảo đảm Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay; Mối quan hệ giữa kiểm tra, giám sát nội bộ với sự phản biện của nhân dân và báo chí; Trách nhiệm giải trình của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu trước tổ chức Đảng và trước nhân dân.
Trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay đang từng bước hoàn thiện về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, còn nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng trong điều kiện hiện này cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện. Trên cơ sở đó sẽ phải xây dựng được thể chế cả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để từng bước xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong sạch, vững mạnh và ngăn chặn kịp thời tiêu cực trong nội bộ Đảng. Một Đảng cầm quyền muốn vững mạnh lâu dài thì trước hết phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới và muốn chỉnh đốn hiệu quả thì không thể không dựa vào một hệ thống thể chế nghiêm ngặt, chặt chẽ, rõ vai - đúng trách nhiệm. Nếu như trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng chủ yếu dựa vào niềm tin lý tưởng và sự hy sinh quên mình của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thì trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, sự suy thoái, lợi dụng quyền lực và “chủ nghĩa cá nhân” là những nguy cơ hiện hữu, khó phát hiện và dễ lan rộng nếu thiếu cơ chế kiểm soát. Việc nhiều cán bộ cấp cao - kể cả trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư - bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự trong thời gian qua không chỉ cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng, mà còn phản ánh khoảng trống trong kiểm soát quyền lực và sự bất cập trong thể chế cầm quyền. Không thể trông đợi vào đạo đức cá nhân như một “lá chắn” duy nhất để phòng chống suy thoái trong một tổ chức cầm quyền có quy mô lớn như Đảng. Do đó, Đảng phải xây dựng một hệ thống “luật chơi nội bộ” đủ mạnh - một hệ thống thể chế từ quy định, quy chế, nguyên tắc, chế tài... có giá trị ràng buộc thực tế và khả năng áp dụng cao.
Không thể xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách bền vững nếu vẫn để tồn tại những “vùng trũng thể chế”, nơi mà các quy tắc vận hành quyền lực chưa đủ minh bạch, trách nhiệm chưa được ràng buộc rõ ràng và quyền lực chưa được kiểm soát hiệu quả. Đã đến lúc, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được nâng lên tầm thể chế - tức là phải song hành với việc thiết lập một “hệ điều hành chính trị” mang tính khoa học, có khả năng quản trị quyền lực hiệu quả, từ Trung ương đến cơ sở.
Năm là, xuất phát từ quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Một trong những yêu cầu có tính chất nền tảng và lâu dài đặt ra đối với việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền hiện nay chính là đòi hỏi từ quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - một mô hình nhà nước đặc thù, mang bản sắc riêng, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử chính trị thế giới. Trong mô hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối Nhà nước và xã hội, nhưng đồng thời phải đảm bảo tính pháp quyền, dân chủ, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không thể là sự áp đặt từ trên xuống hay mang tính chất mệnh lệnh hành chính thuần túy, mà phải được chế định bằng cơ chế, quy trình, quy định cụ thể - tức là được “thể chế hóa” một cách rõ ràng, minh bạch và hiệu quả.
Từ góc độ lý luận, Đảng lãnh đạo thông qua Cương lĩnh, đường lối, thông qua công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, qua việc định hướng hoạt động của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nếu không có một hệ thống thể chế đầy đủ để chuyển hóa vai trò lãnh đạo ấy thành các nguyên tắc, quy tắc, cơ chế vận hành cụ thể, thì dễ dẫn đến các biểu hiện của sự chồng chéo chức năng, làm thay công việc của Nhà nước, hoặc can thiệp sâu vào công việc của chính quyền các cấp, làm mờ ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý, giữa định hướng chính trị và hành động hành chính. Sự thiếu đồng bộ hoặc không rõ ràng trong thể chế lãnh đạo có thể khiến cho cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bị lệch pha, vận hành thiếu hiệu lực, thiếu hiệu quả. Trong khi đó, một Nhà nước pháp quyền hiện đại đòi hỏi mỗi chủ thể trong hệ thống chính trị phải được định vị đúng vai trò, giới hạn quyền lực, cơ chế phối hợp và giám sát lẫn nhau một cách chặt chẽ. Điều này không chỉ nhằm phòng ngừa lạm quyền, tha hóa quyền lực mà còn để đảm bảo rằng mọi hoạt động lãnh đạo của Đảng đều gắn chặt với thực tiễn, phản ánh đúng yêu cầu khách quan, hợp lòng dân và được kiểm nghiệm bằng hiệu quả lãnh đạo quốc gia.
Thực tế hiện nay cho thấy, vẫn còn tồn tại không ít bất cập trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở các cấp. Ở một số nơi, vai trò lãnh đạo của Đảng bị “hành chính hóa”, “mệnh lệnh hóa”, dẫn đến tình trạng Đảng làm thay Nhà nước, hoặc “nhúng sâu” vào hoạt động quản lý hành chính. Ngược lại, cũng có nơi, chính quyền né tránh trách nhiệm, đổ lỗi cho sự “chỉ đạo của cấp ủy”, làm suy giảm hiệu quả lãnh đạo. Những hiện tượng này là biểu hiện trực tiếp của sự thiếu rõ ràng trong thiết kế thể chế Đảng lãnh đạo, khiến cho tính pháp quyền của Nhà nước không được bảo đảm đầy đủ và có thể dẫn đến sự phai nhạt niềm tin của nhân dân nếu không được điều chỉnh kịp thời. Do đó, trong bối cảnh hiện nay, việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền không chỉ là yêu cầu cải cách bộ máy chính trị, mà còn là một đòi hỏi tất yếu để hiện thực hóa mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN.
Hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trong Nhà nước pháp quyền XHCN không chỉ là giải pháp kỹ thuật hành chính hay quy định nội bộ, mà còn là một đòi hỏi có tính chiến lược về đổi mới tư duy chính trị và phương thức cầm quyền. Đó là quá trình chuyển từ phương thức lãnh đạo bằng mệnh lệnh, chỉ đạo hành chính sang lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, bằng chất lượng cán bộ, bằng sự gương mẫu đạo đức và hiệu quả thực thi. Trong bối cảnh xã hội dân trí ngày càng cao, truyền thông phát triển mạnh, mạng xã hội lan tỏa nhanh, thì mọi quyết sách lãnh đạo của Đảng đều được đặt dưới lăng kính quan sát, đánh giá khắt khe từ nhân dân. Nếu không có thể chế lãnh đạo rõ ràng, có tính giải trình và minh bạch, thì rất dễ bị hiểu lầm, xuyên tạc, thậm chí bị lợi dụng để chống phá.
Sáu là, xuất phát từ sự chống phá của các thế lực thù địch yêu cầu cần phải hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền trong điều kiện một Đảng cầm quyền hiện nay. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền đến nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chưa lúc nào ngừng chống phá, đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chống phá dưới mọi hình thức đó ngày càng tinh vi hơn, từ hình thức vũ trang, ám sát đã chuyển sang núp dưới hình thức “diễn biễn hoà bình”, nhất là thông qua internet, các trang báo mạng phản động để đăng tải những thông tin chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đòi xoá bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 - mà thực chất, là xoá bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi dân chủ, đa đảng (? !). Họ cho rằng, Điều 4 Hiến pháp 2013 khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã phủ định vai trò của nhân dân trong việc chọn lựa đảng cầm quyền thông qua bầu cử, cũng như phủ định vai trò của nhân dân trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, là trái với nguyên tắc của một thể chế nhà nước dân chủ? Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng tập trung xuyên tạc, thổi phồng các mặt yếu kém, bất cập trong đời sống kinh tế - xã hội, cố ý bôi nhọ, hạ thấp những thành quả to lớn của đất nước đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng; đánh lạc hướng dư luận, gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhân dân. Từ đó, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh việc tuyên truyền, kích động, xúi giục việc chống phá Đảng, Nhà nước ta, ... Trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền, các thế lực thù địch cố gắng bóp méo thông tin về các cải cách, cho rằng Đảng sử dụng thể chế này để duy trì quyền lực, kiểm soát xã hội một cách toàn diện. Họ phê phán các quyết sách của Đảng là “thiếu dân chủ”, “bóp nghẹt quyền tự do” và “không thực hiện cải cách thực sự”. Các thế lực thù địch thường xuyên chỉ trích rằng quá trình cải cách và hoàn thiện thể chế của Đảng không thực chất và chỉ là một hình thức duy trì quyền lực. Họ thường xuyên phê phán những nỗ lực cải cách hành chính, tư pháp, kinh tế và những dự thảo chính sách của Đảng là những bước đi nửa vời, thiếu quyết tâm thực hiện. Những cuộc đấu tranh nội bộ, nhất là trong lĩnh vực chống tham nhũng, cũng bị lợi dụng để xuyên tạc rằng Đảng đang “thanh trừng” những đối thủ chính trị.
Trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải không ngừng hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo, cầm quyền để vừa khẳng định tính chính danh, chính đáng của Đảng, vừa nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả lãnh đạo, từ đó tạo thế chủ động về chính trị - tư tưởng trong bảo vệ nền tảng và phát triển đất nước. Hoàn thiện thể chế cũng chính là cách để Đảng chủ động truyền thông, phản bác các luận điệu sai trái bằng thực tiễn đổi mới và hiệu quả lãnh đạo đất nước. Một thể chế tốt sẽ làm nổi bật năng lực tổ chức, điều hành đất nước của Đảng, qua đó bác bỏ những luận điệu cho rằng Đảng độc quyền, cầm quyền không có đối trọng nên dễ tha hóa.
Thể chế lãnh đạo là khuôn khổ giúp Đảng định hướng phát triển đất nước một cách nhất quán, linh hoạt, đúng đắn. Thể chế cầm quyền là hệ thống quy định, nguyên tắc, cơ chế tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm Đảng thực thi quyền lực chính trị một cách hợp pháp, chính danh, hiệu quả và được nhân dân thừa nhận. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này, vai trò cầm quyền của Đảng sẽ suy yếu, dễ rơi vào hai thái cực: hoặc là bao biện, làm thay Nhà nước; hoặc là buông lỏng, không kiểm soát được đội ngũ, dẫn đến suy thoái, tham nhũng, giảm uy tín trong nhân dâng. Chính vì vậy, hoàn thiện thể chế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cần được xác định như một trụ cột trong chiến lược xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Đây là điều kiện để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo và bản lĩnh cầm quyền trong tình hình mới; là tiền đề để phát huy vai trò của Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất, hiệu quả./.
Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, H.2011,t2, tr.303 - 304
2. Viện khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Đảng cầm quyền trong thời đại ngày nay và những vấn đề rút ra cho công cuộc đổi mới chỉnh đốn Đảng ta. Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ thuộc kế hoạch khoa học 1993 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3. PGS,TS. Dương Trung Ý, “Những thành tựu và một số hạn chế, bất cập trong phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”, Tạp chí Cộng sản (24/10/2021).
4. PGS,TS. Nguyễn Trọng Phúc, “Đại hội XIII với nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 1/2021.
5. PGS,TS. Trần Khắc Việt: Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận, Tạp chí Lý luận chính trị, số 528 (2/2022).
6. PGS,TS. Nguyễn Minh Tuấn, “Khái niệm Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền và mục đích lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, Tạp chí Lý luận Chính trị (số 530 (4/2022).
7. TS. Trần Thị Nhẫn, “Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản (30/01/2024).
8. PGS,TS. Bùi Đình Phong, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng (3/2/2023).
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, H.2011,t2, tr.303 - 304
[2] Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam