In trang này
Chủ nhật, 05 Tháng 7 2015 00:00

So sánh hệ thống hình phạt theo quy định của luật hình sự Việt Nam với hệ thống hình phạt theo quy định của luật hình sự Thụy Điển

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

Để xây dựng hệ thống pháp luật của một quốc gia hoàn chỉnh hơn,  góp phần xây dựng nền tư pháp dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý. Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về Chiến lược cải cách tư pháp phải dựa trên nền tảng truyền thống pháp lý dân tộc, phù hợp với nền văn hóa xã hội của nước công hòa xã hội chủ nghĩa việt nam, đáp ứng được sự phát triển của Xã hội trong tương lai. Nên chúng tôi muốn đưa hệ thống hình phạt theo quy định của Luật Hình sự Thụy Điển vào nghiên cứu, so sánh với hệ thống hình phạt theo quy định của Luật Hình sự Việt Namđể chọn lọc và tiếp thu những kinh nghiệm nhằm góp phần hoàn thiên hệ thống hình phạt Việt Nam

Theo hệ thống hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự việt namđược chia làm 2 nhóm chính hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền và trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính. Các hình phạt bổ sung được áp dụng cùng với một hình phạt chính cho người phạm tội.

Nếu như hệ thống hình phạt của nhà nước Việt Nam phân loại một cách rõ ràng cụ thể : hình phạt chính và hình phạt bổ sung, thì luật hình sự Thụy Điển chỉ bao gồm 7 loại hình phạt: tù chung thân, tù có thời hạn, giáo dục tập trung người chưa thanh niên phạm tội, án treo, quản chế, phạt tiền và giam giữ trong điều kiện đặc biệt mà không có sự phân biệt hình phạt chính và hình phạt bổ sung như ở Việt Nam.

Chúng ta có thể  nhận thấy rằng chính sách hình sự trong luật hình sự Việt Nam và Thụy Điển đều  xây dựng trên một nền tảng giống nhau: “kết hợp giáo dục, thuyết phục với cưỡng chế, trấn áp” Và cụ thể cho thấy có 4 loại hình phạttương đồng là quản chế, phạt hành chính, phạt tù có thời hạn và chung thân. Bên cạnh đó, mỗi nước cũng tự xây dựng cho mình hệ thống hình phạt theo đặc thù xã hội và chính sách riêng:

Đầu tiên, có thể thấy rằng Luật hình sự Thụy Điển không có khái niệm hình phạt bổ sung mà chỉ có hình phạt nói chung. Luật hình sự Việt Nam với 7 hình phạt chính thì có thêm 7 hình phạt bổ sung để phát huy tối đa tính phân hóa trách nhiệm hình sự. Hình phạt phụ hỗ trợ và mở rộng thêm khả năng pháp lý cho Tòa án trong việc xét xử để đưa ra án phạt phù hợp với tội danh, phát huy tối đa hiệu quả trong việc xử  án cũng như nâng cao tính răn đe, phòng ngừa phạm tội trong xã hội .

Thứ hai, theo các nhà nghiên cứu, hệ thống luật hình sự Việt Nam có những hình phạt mà trong hệ thống luật Thụy Điển không áp dụng, hay hệ thống luật hình sự Thụy Điển có những hình phạt áp dụng nhưng trong luật hình sự của Việt Nam không có.Ví dụ:Luật hình sự Việt nam:Hình phạt quy định trong hệ thống luật HS Việt Nam gồm 4 hình phạt chính và 3 hình phạt bổ sung ( 4 hình phạt chính là: Cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, trục xuất, Tử hình. 3 hình phạt bổ xung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định, cấm cư trú, tước một số quyền công dân và tịch thu tài sản)

Luật hình sự thụy điển :Hình phạt quy định trong hệ thống luật HS Thụy Điển chỉ gồm: giáo dục tập trung người chưa thành niên phạm tội, án treo và giam giữ trong điều kiện đặc biệt.Trong hệ thống luật Thụy Điển không có hình phạt cảnh cáo và hình phạt tử hình. Bởi họ cho rằng hình phạt cảnh cáo mang tính răn đe, trừng trị rất thấp, còn hình phạt tử hình thì mang tính răn đe trừng trị rất cao, không có tính nhân đạo. Thụy Điển là một xã hội rất văn minh họ coi trọng quyền  và phẩm giá của con người nên hình phạt tử hình nước này  loại bỏ, không có trong luật hình sự. Còn ở Việt Nam hình phạt tử hình vẫn duy trì áp dụng trong hình phạt vì trước tình hình kinh tế chính trị của Việt Nam thay đổi khá nhanh sự gia tăng tội phạm nghiêm trọng cũng rất nhiều nên tùy từng đối tượng phạm tội để xử lý đưa ra hình phạt đích đáng. Có những người phạm tội nhưng ý thức chấp hành pháp luật kém, tử hình còn có tác dụng ngăn ngừa họ phạm tội. Đồng thời, hình phạt tử hình đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Thứ ba,trong hệ thống hình phạt của Thụy Điển giáo dục người chưa thành niên phạm tội cũng được xem như một hình phạt nhưng ở Việt Nam chúng ta giáo dục người chưa thành niên chỉ xem như một biện pháp giáo dục. Bên cạnh đó, hệ thống hình phạt của Thụy Điểm còn có án treo và giam giữ trong điều kiện đặcbiệt nhưng ở Việt Nam án treo chỉ được xem là biện pháp tư pháp và không có quy định về giam giữ trong điều kiện đặc biệt.

Thứ tư,quy định thời gian phạt tù của 2 nước cho thấy sự khác biệt tương đối rõ giữa mức độ tối thiểu và tối đa. Đối với người phạm tội trên 18 tuổi,Việt nam phạt tù có thời hạn tối thiểu là 3 tháng, tối đa là 20 năm nếu tội phạm chỉ phạm 1 tội, 30 năm nếu người phạm tội phạm nhiều tội. Quy đinh phạt từ của thụy Điển thì mức độ tối thiểu tính theo ngày (14 ngày), nếu phạm tội lần đầu thì mức phạt tối đa là 10 năm , nếu tái phạm bị phạt 18 năm. Như vậy, chúng ta thấy hình phạt tối thiểu của nước ta là khá cao so với hệ thống hình phạt tù của Thụy Điền. Mức phạt tối thiểu của hệ thống hình phạt tù Thụy Điển là 14 ngày vừa đủ cảnh cáo kẻ phạm tội vừa có khả năng đạt được mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Để hợp lý hơn chúng ta không quy định hình phạt cảnh cáo, đồng thời mức án tối thiểu của hình phạt có thể giảm xuống dưới 3 tháng. Bởi vì chúng ta hiểu mức hình phạt tối thiểu là nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa những người ý thức chấp hành pháp luật kém. Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu lập pháp nếu bộ luật Việt Nam được sửa đổi theo cách mà hệ thống hình phạt thụy điển đang áp dụng thì sẽ tạo cơ sở tốt cho việc mở rộng phạm vi phân hóa trách nhiệm hình sự đối với hành vi và con người phạm tội, làm sao cho cá thể hóa hình phạt một cách đúng đắn, phù hợp.

Để tìm hiểu những khác nhau điểm giống và khác nhau trong hình phạt tù có thời hạn giữa hai Bộ luật Hình sự của hai nhà nước Việt Nam và Thụy Điển. Luật pháp của mỗi nước cũng phụ thuộc vào tính truyền thống lập pháp riêng của nước đó, như Luật Hình sự Việt Nam, quy định lứa tuổi chưa thành liên là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, trong quy định hình phạt tù có thời hạn được áp dụng với người chưa thành niên được chia theo lứa tuổi khác nhau, ở lứa tuổi từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi tối đa tù 12 năm; từ đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tối đa là 18 năm.Còn Luật Hình sự Thụy  Điển chỉ quy định lứa tuổi chưa thành liên là từ đủ 16 tuổi đến dưới 21 tuổi. Người phạm tội ở lứa tuổi này được quy định chung với mức hình phạt tù có thời hạn tối thiểu là 14 ngày và tối đa là 4 năm. Qua sự khác nhau trên chúng ta thấy Luật Hình sự Việt Nam thể hiện tính phân hóa cao được quy định khác nhau về trách nhiệm hình sự giữa những người chưa thành niên phạm tội ở lứa tuổi khac nhau thi quy định hình phạt cũng khác nhau. nhưng chưa triệt để. Tính chưa triệt để được thể hiện ở chỗ Luật Hình sự Việt Nam chỉ quy định mức tối đa của hình phạt tù có thời mà không quy định mức tối thiểu. Chính vì thế có thể dẫn đến hiểu sai là mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội cũng giống như mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn có thể áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội. Theo Luật Hình sự Thụy Điển quy định lứa tuổi chưa thành liên chung với mức hình phạt tù có thời hạn. Để phát huy hiệu quả và tính phân hóa cao trong quy định này, các cơ quan có thẩm quyền cần sửa đổi bổ sung vào Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999 mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn có thể áp dụng đối với người chưa thành niên .

Thứ năm, hình phạt tiền chính là sự tước bỏ khoản tiền nhất định của người bị kết án để sung quỹ Nhà nước, nó tác động một cách trực tiếp và có hiệu quả về mặt kinh tế đối với người phạm tội, theo Luật Hình sự Thụy Điển hình phạt tền được được quy định rất cụ thể, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm gây cho xã hội mà số tiền phạt nhiều hay ít và cách thức thực hiện cũng khác nhau nhưng hình thức phổ biến vẫn là phạt tiền theo ngày. Một khoản tiền cụ thể được ấn định cho mỗi ngày và phải nhân với một số ngày nhất định mà người phạm tội bị phạt, dựa trên tình hình tài chính của người phạm tội. Còn trong BLHS Việt Nam hiện hành hình phạt tền được được quy định đối với một số tội danh ít nghiêm trọng trong một số lĩnh vực cụ thể (xâm phạm trật tự quản lí kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lí hành chính) và cũng là hình phạt bổ sung được áp dụng cho một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định. Ngoài sư khác biệt trên, luật hính sự hai nước còn có điểm khác biệt cơ bản là Luật Hình sự Thụy Điển thì lại quy định rất cụ thể giải pháp nhằm bảo đảm khả năng thực thi của hình phạt tiền bằng việc chuyển đổi loại hình phạt này thành hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp người phạm tội không nộp tiền phạt còn Luật Hình sự Việt Nam không quy định giải pháp nhằm bảo đảm khả năng thực thi của hình phạt tiền . Để khắc phục những nhược điểm hạn chế này theo chúng tôi, các nhà làm luật cần phải xây dụng thêm các khung hình phạt mới những tình tiết định khung mới nhằm phân hoá trách nhiệm hình sự trong luật một cách cao hơn,  cá thể hoá trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội một cách chính xác trong những trường hợp cụ thể.

Thứ sáu,quy định về hình phạt tạm giữ trong điều kiện đặc biệt xét về bản chất có sự tương đồng đó là: trong Luật Hình sự Thụy Điển quy định giam giữ trong điều kiện đặc biệt để áp dụng đối với những người nghiện ma tuý hoặc người bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng và luật Hình sự Việt Nam quy định bắt buộc chữa bệnh hoặc đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc. Sự khác nhau cơ bản về độ tuổi quy định Luật Hình sự Thụy Điển áp dụng đối với những người thực hiện tội phạm khi chưa đủ 21 tuổi còn luật Hình sự Việt Nam áp dụng đối với những người thực hiện tội phạm khi chưa đủ 18 tuổi. Điểm khác nhau này xuất phát từ truyền thống lập pháp riêng của mỗi nước.

Qua nghiên cứu phân tích và so sánh trên đây cho thấy, hệ thống hình phạt theo Luật Hình sự Việt Nam và hệ thống hình phạt theo Luật Hình sự Thụy Điển bên canh những điểm tương đồng, đều có chung một số loại hình phạt nhất định. Thể hiện chính sách hính sự kết hợp với tính nhân đạo của nhà nước và nhân quyền của con người,để áp dụng hình phạt, tội danh cụ thể một cách linh hoạt trong pháp luật như kết hợp giáo dục, thuyết phục với cưỡng chế, trấn áp. Điểm khác biết giữa Luật Hình sự của hai nước như chúng ta đã biết xuất phát từ truyền thống lập pháp riêng của mỗi nước và sự phát triển kinh tế xã hội cũng khác nhau chính vì thế những đặc điểm luật pháp cũng khác nhau: trong hệ thống Luật Hình sự Thụy Điển không phân hệ thống hình phạt thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung, mà phâm ra nhiều hình phạt như : giáo dục tập trung người chưa thành niên phạm tội, án treo và giam giữ trong điều kiện đặc biệt, khung hình phạt mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn. ... Trong Luật Hình sự Việt Nam không có hoặc không được quy định là hình phạt đó.Vi dụ như hình thức và các biện pháp nhằm bản đảm khả năng thực thi của hình phạt tiền  như ta đã phân tích cũng có nhiều điểm khác nhau.

Để xây dựng hệ thông lập pháp, tư pháp trong thời đai kinh tế hội nhập quốc tế sâu rộng cùng với sự định hướng của Đảng nhà nưc,cải cách tư pháp phải... tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của các nước trên thế giới để vận dụng  xây dựng phù hợp với sự phát triển của nước ta đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương thời đại mới, đạt c hiệu quả cao trong thi hành án và mở rộng tính nhân đạo trong pháp luật Việt Nam, chúng tôi đóng góp một số ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung trong hệ thống hình phạt như: bỏ hình phạt cảnh cáo và tử hình trong hệ thống hình phạt; giảm mức tối thiếu của hình phạt tù có thời hạn xuống dưới 3 tháng; bổ sung vào Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999 mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội; quy định rõ giải pháp nhằm bảo đảm khả năng thực thi của hình phạt tiền bằng việc chuyển đổi loại hình phạt này thành hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp người phạm tội không nộp tiền phạt..

Với sự tiếp thu học hỏi kinh nghiệm của luật pháp một số nước trên thế giới và nhứng nghiên cứu đóng góp của các nhà làm Luật thì chắc chắn nền tư pháp Việt Nam sẽ thực sự trở thành nền tư pháp của dân, do dân và vì dân./.

Sửa đổi lần cuối Thứ hai, 12 Tháng 10 2015 03:02