Ngày 2/01/2002, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết 08 Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới.
Thông qua nghị quyết 08 Bộ chính trị trung ương đảng công sản việt nam đã bàn về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới. Trong quá trình hoạt động của hệ thống tư pháp và các cơ quan tư pháp của nước ta đã có những thành tựu đáng kể, nhưng cũng có không ít nhược điểm. Bộ chính trị đã giao nhiệm vụ cho tư pháp phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến thành công và nguyên nhân vẫn tồn tại khuyết điểm. Đồng thời yêu cầu tư pháp phải đề ra những phương hướng trong thời gian tới.
Trải qua những năm tháng thúc đẩy cải cách nhằm xây dựng một nhà nước pháp quyền ở nước ta. Dựa vào thực tế, đảng và nhà nước ta đã có những giải pháp chỉ đạo thông qua các nghị quyết, các văn kiện. Trong những văn kiện đó luôn luôn đề cập đến nhiệm vụ cải cách tư pháp. Ngoài những thay đổi dựa theo thực tế, nước ta còn dựa trên cơ sở lý luận khoa học để xây dựng chiến lược cải cách. Theo cách nhìn nhận của chúng tôi thì phương pháp này hoàn toàn chính xác và đúng hướng.
Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã đưa ra một nguyên lý bất di bất dịch đó là không có sự phân chia quyền lực nào trong hệ thống quyền lực nhà nước, mà quyền lực nhà nước là một thể thống nhất. theo nghị quyết số 51 của quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số hiến pháp năm 1992 nêu rõ quan điểm về quyền lực của nhà nước là thống nhất, trong đó có sự phân công và phối hợp của các cơ quan nhà nước để thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quan điểm này chưa được thể hiện rõ trong nghị quyết trung ương 2 khóa VII.
Trong hệ thống tư pháp của chúng ta hay bất cứ của một quốc gia nào đều được xây dựng dựa trên cơ sở Hiến pháp. Pháp luật nước ta trước đây mang môt nguyên tắc pháp chế XHCN tức là chỉ có hội đồng tức là của hội đồng xét xử khi tiến hành xét xử và việc tuân theo pháp luật. Nhưng không mang được tính độc lập của hoạt động tư pháp mà chỉ nói lên tính độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Trước sự đổi mới của đất nước và thực hiện muc tiêu xóa bỏ bao cấp xấy dựng kinh tế thị trường và sự đòi hỏi hệ thống tư pháp chuyên trách đôc lập và thể hiện được quyền lực của nhà nước. Chính vì thế Nghị quyết số 51 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới của. Đảng và nhà nước ta nhận định việc cải cách tư pháp đây là vấn đề mới và có ý nghĩa rất quan trọng. Để xây dựng được tính độc lập của hệ thống tư pháp cũng như khẳng định những đặc trưng của hoạt động tư pháp chúng ta cần đổi mới, tìm kiếm những giá trị riêng, những đặc thù riêng, cũng như sửa đổi một số nguyên tắc không còn phù hợp.
Xuất phát từ sự phát triển của đất nước, sự cấp thiết phải cải cách tư pháp đề tìm ra những giá trị của hoạt động tư pháp, hướng tới nhà nước pháp quyền, do dân vì dân, nhà nước mà pháp luật đại diện cho đất nước để đem đến sự công bằng cho người dân. Trong những năm trước đây hoạt động tư pháp chỉ có nhiệm vụ áp dụng pháp luật và tuân theo pháp luật trên cơ sở pháp luật, hay nói cách khác là hoạt động tư pháp chỉ theo nguyên tắc nguyên tắc pháp chế. Đây là nguyên tắc cần thiết trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Nguyên tắc pháp chế phát huy được vấn đề thực thi pháp luật, trong thực tế của các thẩm phán, các điều tra viên, các công tố viên phải tuân theo quy định của pháp luật một cách máy móc và cứng nhắc, không phát huy hết tính năng của ngành tư pháp nước nhà. Chính vì thể cần sửa đổi một số nguyên trong hoạt động tư pháp, để xây dựng một Nhà nước pháp quyền,thể hiện rõ vì lợi ích của nhân dân, mọi công dân sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Để thực hiện điều đó Đảng và nhà nước ta đã và đang xây dựng những nguyên tắc cơ bản, trọng tâm nhằm phát huy giá trị pháp lý của xã hội,
Cải cách tư pháp là một vấn đề quan trọng như nghị quyết trung ương 8 đề ra, để thực hiện được nghị quyết và có được tính ưu việt trong ngành tư pháp nước ta phải xác định được vị trí độc lập của hệ thống tư pháp và lĩnh vực hoạt động của ngành tư pháp. Trên cơ sở khẳng định tính thống nhất của quyền lực nhà nước, chúng ta thừa nhận có sự phân chia các phạm vi quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Trong hiến pháp năm 2013 đã nhận thức về quyền tư pháp xác định vị trí độc lập của hệ thống tư pháp và hoạt động xét xử nhằm giải quyết những vấn đề, những xung đột trong các quan hệ pháp lý giữa các chủ thể, hay nói cách khác tư pháp là một lĩnh vực quyền lực của nhà nước được hoạt động thông qua phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các chủ thể.
Trong hoạt động tư pháp chủ yếu là xét xử đây là khâu quan trọng trong giải quyết, đánh giá và kết luật một sự kiện mang tính chất xung đột. Muốn đanh giá và kết luật được một sự kiện, chúng ta phải tìm kiếm, xác định và minh định cho được sự kiện đó và đảm báo đạt được mục đích tư pháp, không gây hai cho lợi ích xã hội. đó chính là hoạt động điều tra pháp lý thu thập chứng cứ và các tại liệu liên quan tới sự kiện.
Để đưa ra được đánh giá về pháp lý cho các sự kiện đó cũng là một hoạt động sáng tạo của con người điều tra viên , nhưng muốn làm được điều dó thì chúng ta phải biết vân dụng phát luật cũng như chúng ta phải đánh gia được tính pháp lý cho sự kiện đó, trong tâm của pháp lý khi vận dụng trí tuệ, trong hoạt động xét xử không chỉ có dựa vào một nguyên tắc nhất định, mà pháp luật là sự sáng tạo và trí tuệ và gắn vào đó là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống tư pháp hay đúng hơn là những người cần cân nẩy mực, vì trong khi xét xử luôn xảy ra quan hệ giữa các bên với nhau, trong mối quan hệ này bao giờ cũng có các bên ,vì lợi ích của các bên có thể trái với nhau hoặc khác nhau hoặc là mâu thuẫn với nhau thì mới có sự kiện pháp lý đưa tranh chấp ra giải quyết. Qua đó chúng ta thấy cơ quan tư pháp phải là một cơ quan chuyên trách riêng biệt, độc lập để phân xử, phán xét một sự kiện một cách khách quan và đúng đắn, cơ quan tư pháp phải luôn luôn đóng vai trò trọng tài mà ta gọi là phán quyết. Đảng và nhà nước ta xây dựng hệ thống tư pháp dựa trên hiến pháp, thực hiện pháp luật là của dân, phục vụ nhân dân và nhân dân giám sát.
Trong công tác tư pháp không thể thiếu được các hoạt động điều tra, hoạt động truy tố, hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án. Đấy là nhưng hoạt động cơ bản trong hệ thống tư pháp, trong đó có một số hoạt động nó mang tính hình thức, thủ tục pháp lý tố tụng đây là một khâu quan trọng của hệ thống tư pháp tuy mang tính chất hinh thức nhưng thể hiện tính đa dạng và rõ ràng, trong tất cả các hoạt động tư pháp thì sự kết hợp nội dung và hinh thức rấ cần thiết vì ở đây chúng ta tìm ra sự công bằng và khách quan , tất cả đều được đánh giá trên cơ sở và theo một thủ tục pháp lý rõ ràng và minh bạch, bảo đảm yêu cầu công khai, qua đó chúng ta mới có được sự nhìn nhận khách quan nhất trong một sự kiện.
Nguyên tắc của hoạt động tư pháp và hệ thông tư pháp có rất nhiều nhưng quan điểm chung đồng nhất phải thể hiện qua một số nguyên tắc cơ bản mang tính khách quan. Nguyên tắc về tính giai cấp, đây là một hoạt động tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan pháp lý,ở đây thể hiện cấp của nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay . Nhà nước pháp quyền vì dân và do dân, nhà nước xây dựng nguyên tắc bảo vệ tính giai cấp là bảo về thực thi pháp luật cao nhất và duy nhất, pháp lý đó là các thẩm phán, điều tra viên, công tố viên, những người được thực thi pháp luật họ thay mặt nhà nước đánh giá xét xử một sự kiện và đưa ra các đánh giá về mặt pháp lý đối với các sự kiện một cách khách quan và công tâm,
Trong hoạt động tư pháp nguyên tắc về tính chuyên môn nghiệp vụ. thể hiện được sự hiểu biết của các thẩm phán, điều tra viên, công tố viên, những người được thực thi pháp luật,đòi hỏi hiểu biết sâu về pháp luật, chuyên môn nghiệp cao khi gặp một sự kiện họ đánh giá được những trường hợp cụ thể chứ không mang tính chất chung . Điều quan trọng nhất trong nguyên tắc này là đánh giá từng sự kiện cụ thể, đánh giá từng vấn đề cụ thể trong từng vụ án, từng vụ việc phài chính xác và mang tính chuyên nghiệp của các thẩm phán, điều tra viên, công tố viên.
Trên đây chúng ta vừa phân tích một số nguyên tắc mà trong hệ thống tư pháp của các nước cũng như Việt nam đều có. Nhưng nguyên tắc về tranh tụng là một nguyên tắc quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp là có hai bên và có người phán xử nhưng lại đươc hiểu và thể hiện khác nhau trên mỗi quốc gia. Nói tới tranh tụng người ta nghĩ ngay đây không phải là điều mới lạ trong hoạt động tư pháp, mà nó tồn tại trong lịch sử và trong thực tế, như chúng ta biết ở các nước Châu Âu lục địa thì tố tụng của họ là tố tụng xét hỏi, còn tố tụng tranh tụng là đặc trưng trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ. Trong tố tụng tư pháp vấn đề tranh tụng là tìm ra những chứng cứ quan trọng trong lời khai của bị cáo, vấn đề tranh tụng tư pháp chúng ta có thể nhận thấy rẳng thủ tục xét hỏi phải có hai bên và có hai loại tố tụng trong tranh tụng là tố tụng có tính chất xét hỏi và một loại là tố tụng tranh tụng, đó là điển nổi bật của của hoạt động tư pháp hình sự. Trong tranh tụng tư pháp nếu không có hai bên thì không gọi là tranh tụng va tố tụng, ở đây vai trò của tòa án khi xét sử, mức độ chủ động của tòa án khác nhau, vì trong xử lý mối quan hệ giữa một bên là công tố và bên kia là bị cáo và luật sư, ở giữa vai trò của tòa án. Chính là trung gian nên khi xét hỏi tòa an chủ động đặt câu hỏi xét hỏi bị cáo, còn vai trò các luật sư không quan trọng, vì từ trước đến nay chưa quan tâm thích đáng đến vai trò của luật sư cho nên chúng ta coi đó như là đặc trưng, biểu hiện duy nhất của tố tụng tranh tụng.Trên thế gới vai trò của luật sư là người bào chữa cho bị cáo và khi tranh tụng luật sư đạt diện cho bị cáo có thể tranh luật trươc tòa. Nhưng trong thực tế khi nói đến nguyên tắc tranh tụng là chúng ta xét đến vai trò của Toà án chứ không nói tới luật sư, hay cả hội đồng xét xử. Để cải cách hệ thống tư pháp mang được tính công bẳng dân chủ theo đúng chủ trương đường lối của đảng và nhà nước đề ra và thực hiện nghị quyết trung ương 8 Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp. Các nhà lập pháp phải nghiên cứu thể hiên được đúng vai trò của tòa án , của hội đồng xét xử trong quá trình thực hiện tranh tụng. Đây là một trong nhưng nguyên tắc quan trọng của hệ thống tư pháp, vì tranh tụng rất quan trọng nó tìm ra được những tình tiết phạm tội hay không pham tội của bị cáo. Hoàn thiện đượcnguyên tắc này thì hệ thống tư pháp của nước ta có nhiều sự đổi mới.