1. Kinh nghiệm của một số nước
Kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy việc cải cách thể chế là hành động cần thiết để phát triển toàn diện quốc gia.
Ở Đài Loan sau khi Quốc Dân Đảng bị đánh bại rút quân và sau chiến tranh với Triều Tiên kết thúc ở Hàn Quốc, cả 2 quốc gia này đều bước vào giai đoạn chuyển giao chế độ từ một chế độ độc tài sang chế độ dân chủ hơn, người dân có quyền bầu cử ra người đứng đầu đất nước là tổng thống, trực tiếp tham gia vào công cuộc đổi mới và hưởng thụ thành quả từ công cuộc cải cách thể chế chính trị. Đối với những đất nước không có thế mạnh về tài nguyên khoảng sản như 2 quốc gia nói trên việc thu nhập bình quân đầu người tăng từ 79 USD/1 người trong năm 1960 đến 22.670 USD/1 người năm 2012 là một bước tiến vô cùng mạnh mẽ.
Trong khu vực ASEAN, Myanmar từ một quốc gia bé nhỏ đã thực hiện những bước tiến đáng kể trong công cuộc cải cách thể chế chính trị tạo ra những đột phá ngoạn mục trong phát triển kinh tế - xã hội. Điều đặc biệt đáng nói ở quốc gia này là việc xây dựng thể chế kinh tế, chính trị mới lại diễn ra trong hoà bình và không để lại hệ luỵ của chiến tranh.
Tóm lại cải cách thể chế về cả kinh tế và chính trị là rất cần thiết đối với Việt Nam trong thời điểm này, những kinh nghiệm trước mắt của bạn bè quốc tế ít nhiều cần được vận dụng vào thực tế Việt Nam.
2. Tình hình cải cách thể chế kinh tế và chính trị ở Việt Nam:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020, theo đó chiến lược này cũng đã khẳng định: “Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Như vậy có thể nhận thấy khâu đột phá chiến lược đầu tiên mà chiến lược này nhắc đến là cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài ra thực hiện cải cách hành chính và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng. Chiến lược còn nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế” và “Bảo đảm quyền tự do kinh doanh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế”.
Có thể nhận thấy những định hướng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 là hoàn toàn đúng đắn và có lợi cho nền kinh tế nước nhà nhưng đáng tiếc trong thời gian dài những định hướng đúng đắn đó chưa được thực hiện một cách nghiêm túc hoặc nếu có thực hiện thì vẫn còn rất trì trạc. Về phân tích đánh giá các điểm mạnh và yếu của thể chế kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có một bản báo cáo về đánh giá thể chế nhưng chỉ đề cập đến những vấn đề bất cập trong cơ cấu hành chính nhà nước chứ chưa đề cập rõ đến Đảng hay các tổ chức chính trị - xã hội.
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ với thế giới thì thể chế chính trị không có những đổi mới xứng tầm với thời đại để giải quyết các khiếm khuyết của nền kinh tế và phát huy các thế mạnh của dân tộc. Phản ứng của bộ máy lãnh đạo không đủ tính nhanh nhạy để đáp ứng các yêu cầu biến đổi của thời đại, điều này có phần là do sự song hành của hệ thống Đảng và Nhà nước. Một số vấn đề cần giải quyết nhanh như việc ban hành hay thông qua các quyết định, văn bản pháp lý… phải chờ bàn bạc, thảo luận qua nhiều cấp mới đi đến quyết định. Vấn xây dựng kỷ luật, kỷ cương trong Đảng còn nhiều hạn chế một phần là do việc giám sát quyền lực trong hệ thống Đảng của Ban Kiểm tra, thanh tra Đảng còn chưa được thực hiện nghiêm túc.
Việc xây dựng một lộ trình thích hợp cho đổi mới thể chế chính trị nhằm đồng bộ với đổi mới thể chế kinh tế không được chỉ đạo thực hiện cụ thể. Lãnh đạo Đảng đã nhiều lần cảnh báo nguy cơ của tham nhũng đối với nền kinh tế cũng như chính trị quốc gia nhưng vẫn chưa có một giải pháp cụ thể nào để thực hiện xã hội hoá chống tham nhũng, tất cả chỉ dừng lại ở phê bình và tự phê bình, chỉnh đốn tổ chức Đảng một cách chung chung… Tất cả những biện pháp này chỉ mang tính khẩu hiệu, không có định hướng cụ thể để giải quyết và cũng không đáp ứng được các yêu cầu của thời đại.
Nhìn chung, sự yếu kém của một bộ phận lớn bộ máy nhà nước đã gây ra những hệ luỵ không hề nhỏ, một số lĩnh vực đã nhiều lần phát hiện sai phạm lớn nhưng đâu lại vào đấy như các vụ việc tiêu cực trong ngành giáo dục và y tế được phát hiện trong thời gian vừa qua cũng chỉ dừng lại ở những mức phạt nhẹ chưa có tính răn đe cao, kể cả những vụ lương khủng của lãnh đạo doanh nghiệp công ích ở TP. Hồ Chí Minh cũng chưa có biện pháp xử lý thích đáng.
Không thể phủ nhận từ khi được thông qua và có hiệu lực Bộ Luật Cạnh Tranh đã tạo ra tác động lớn và mang lại những hiệu quả nhất định trong việc làm cán cân trên thị trường nhưng xét về tiềm năng thì vẫn còn nhiều hạn chế. Vai trò của Cục Quản lý cạnh tranh chưa thực sự được phát huy hết tác dụng khi còn chịu sự kiểm soát của Bộ Công Thương, qua đó công cuộc chống độc quyền trong nền kinh tế vẫn còn nhiều vấn đề nhức nhối. Một số ngành kinh tế còn tồn tại hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, độc quyền sản phẩm, dịch vụ gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Tuy nhiên, bất cập là vậy nhưng nhiều doanh nghiệp cũng chưa biết cách tự bảo vệ quyền lợi của mình và khách hàng khi không nghiên cứu kỹ hoặc không biết về Luật Cạnh Tranh. Một số khác biết rõ luật nhưng ngại khiếu kiện.
Những vấn đề nhức nhối trên đây phản ánh một phần nào đó sự bất cập trong thể chế hiện tại, qua đó muốn hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần có những thay đổi chiến lược mang tính đột phá. Một khi chưa thực hiện được tiến trình đổi mới thể chế kinh tế và chính trị thì đừng mong nghĩ đến một môi trường kinh tế cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và mang lại lợi ích cho người dân.
3. Giải pháp, kiến nghị:
Đã đến lúc Quốc hội thực hiện quyền và vai trò của mình một cách mạnh mẽ hơn nữa trong cải cách thể chế. Các Nghị quyết về cải cách thể chế cần được ban hành và thông qua sớm, thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc trong hệ thống hàn chính nhà nước như giải trình, công khai, minh bạch, nhiệm vụ chức năng phải được quy định rõ ràng. Các vị trí và chức danh chủ chốt cần phải được giám định, xét duyệt công khai từ Uỷ Ban Quốc Hội cũng như Hội đồng nhân dân cấp Trung Ương.
Đề hiệu quả hơn trong công tác quản lý kinh tế, chống độc quyền, lợi dụng địa vị chức vụ mà thống lĩnh thị trường cần phải thay đổi cơ cấu cũng như nâng cấp Cục Quản lý cạnh tranh, cho phép cơ quan này có đủ thẩm quyền quyết định một số vấn đề và chịu sự quản lý trực tiếp của Chính Phủ hoặc Quốc Hội thay vì chịu sự kiểm soát của Bộ Công Thương như hiện nay.
Chức năng của các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, tiếng nói của báo chí và vai trò của các tổ chức xã hội cần được nâng cao qua đó lấy lợi ích của nhân dân và người tiêu dùng làm phương châm hoạt động.